Vladimir Semyonovich Vysotsky

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Vladimir Vysotsky
Vladimir Vysotsky.jpg
Vladimir Vysotsky, 1979.
Thông tin nghệ sĩ
Sinh 25 tháng 1, 1938(1938-01-25)
Nguyên quán Moskva, Liên Xô
Mất 25 tháng 7, 1980 (42 tuổi)
Thể loại Bard
Chanson
Nghề nghiệp Ca sĩ, Bard, Nhạc sĩ, Diễn viên
Nhạc cụ Giọng hát, Guitar
Năm hoạt động 1959–1980

Vladimir Semyonovich Vysotsky ([Влади́мир Семёнович Высо́цкий, Vladimir Semyonovich Vysotskyj] lỗi: {{lang-xx}}: văn bản có thẻ đánh dấu in xiên (trợ giúp)) (25 tháng 1 năm 1938, Moskva, Liên Xô – 25 tháng 7 năm 1980, Moskva, Liên Xô) là một hình tượng Xô viết và ca sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ và diễn viên người Do TháiNga.[1] Vladimir Vysotsky được coi là một trong những nhà thơ lớn nhất của Nga thế kỷ XX. Tên của ông đã được đặt cho các vệ tinh nhân tạo.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vladimir Vysotsky sinh và mất đều ở thủ đô Moskva. Nguồn gốc và chủng tộc hiện vẫn có những ý kiến khác nhau. Từ thời ông bà, và ngay cả bố của Vysotsky vẫn có hai giả thiết. Họ là người ở tỉnh Bretsk, một tỉnh giáp với Ba Lan và nay thuộc cộng hòa Belarus.

Tuổi thơ ở thủ đô Moskva. Những năm thế chiến II, từ 1941 đến 1943, sơ tán về tỉnh Chkalov (nay là tỉnh Orenburg). Năm 1947 bố và mẹ ly dị, Vladimir về sống với bố và vợ hai của bố. Những năm 1947 – 1949 sống ở Đức – là nơi mà bố của Vladimir làm việc. Ở đây Vladimir bắt đầu học đàn dương cầm.

Hình Vladimir Vysotsky trên tem thư, 1999

Năm 1956 học trường Đại học Kỹ sư xây dựng nhưng được một học kỳ thì bỏ. Sau đó vào học trường Nghệ thuật Moskva từ 1956 – 1960. Sau khi tốt nghiệp Vladimir Visotsky bắt đầu cuộc đời nghệ sĩ đầu tiên ở nhà hát Puskin, sau đó là nhà hát Taganka. Vladimir Visotsky tham gia hàng chục vai diễn trong hàng chục bộ phim, trong đó có nhiều bộ phim nổi tiếng thế giới.

Vladimir Vysotsky biết làm thơ từ nhỏ. Ông sáng tác tất cả hơn 600 bài thơ và bài hát. Trong số này có rất nhiều bài hát viết cho phim và kịch. Ngoài thơ, ông còn viết văn xuôi, kịch bản sân khấu, phim và truyện cổ tích. Ông sáng tác nhạc từ năm 1960 cho những bài thơ của mình. Những bài hát của ông được tuổi trẻ cả nước hát và ông cũng thường xuyên đi biểu diễn ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước Phương Tây.

Vladimir Vysotsky kết hôn ba lần. Hai người vợ đầu tiên được khoảng 5 năm. Người cuối cùng, từ năm 1970 đến cuối đời. Người vợ đầu tiên có một đứa con trai và mang họ Vysotsky nhưng thực ra là con của người đàn ông khác.

Những năm cuối đời ông trở thành thần tượng của giới trẻ Xô Viết, đặc biệt nổi tiếng ở thập niên cuối cùng. Vladimir Vysotsky mất ngày 25 tháng 7 năm 1980 ở Moskva. Cả nước khóc cái chết của ông. Đám tang của ông có hàng chục nghìn người tham dự. Mặc dù vậy, sự thừa nhận chính thức chỉ đến với ông sau khi chết. Ông được công nhận Nghệ sĩ công huân của Liên bang Nga năm 1986. Năm 1987 ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô.

Sau khi mất, toàn bộ sáng tác của ông được in thành sách và ghi thành nhiều bộ đĩa cả ở Liên Xô cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Thơ và bài hát của ông hiện tại đã được dịch ra 52 thứ tiếng trên thế giới. Tiếng Việt có bản dịch của Nguyễn Viết Thắng với khoảng 30 bài.

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Wladimir Wyssozki. Aufbau Verlag 1989 (DDR): Zerreißt mir nicht meine silbernen Saiten....
  • Vysotsky, Vladimir (1990): Hamlet With a Guitar. Moscow, Progress Publishers. ISBN 5-01-001125-5
  • Vysotsky, Vladimir (2003): Songs, Poems, Prose. Moscow, Eksmo. ISBN
  • Vysotsky, Vladimir / Mer, Nathan (trans) (1991): Songs & Poems. ISBN 0-89697-399-9
  • Vysotsky, Vladimir (1991): I Love, Therefore I Live. ISBN 0-569-09274-4
  • Vlady, Marina (1987): Vladimir ou Le Vol Arrêté. Paris, Ed. Fayard. ISBN 2-213-02062-0 (Vladimir or the Aborted Flight)
  • Влади М. Владимир, или Прерванный полет. М.: Прогресс, 1989.
  • Vlady, Marina / Meinert, Joachim (transl) (1991): Eine Liebe zwischen zwei Welten. Mein Leben mit Wladimir Wyssozki. Weimar, Aufbau Verlag. ISBN

Trích một số bài thơ đã dịch ra tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Mao Trạch Đông là một tay đại bịp
Mao Trạch Đông – là một tay đại bịp
Đến tận hôm nay vẫn thích việc thanh trừng
Hễ cảm thấy hơi yếu đi một chút
Là ông ta thay đổi vợ liền
Ông vừa cưới cho mình một nữ diễn viên.
 
Ông đã nhầm
Ông đã gầy thêm
Bầu nhiệt huyết của bà ta được mở
Đàn bà – không hẳn là con thú
Bà ấy bây giờ
Đang tiến hành cuộc “Cách mạng Văn hóa”.
 
Nào, hãy đứng lên, Giang Thanh
Hãy đọc kinh Talmud
Những kẻ thù đàn ông đã run bần bật!
Kết cục đã nhìn ra –
Bà vợ của Lưu Thiếu Kỳ
Hai chân chó bà đã đem bẻ gập.
 
Ai không kính trọng lời trích
Là kẻ phản bội, là loài bò sát
Sẽ bị dán khẩu hiệu ở sau mông
Ai tranh cãi cùng với Mao Trạch Đông
Sẽ bị chống lại kịch liệt
Bởi ông bạn Lâm Bưu cùng với Phu nhân.
 
Ai không tin vào chúng tôi
Là kẻ tục tằn, là đồ vô lại
Ai không tin vào chúng tôi
Là kẻ hay khóc, là kẻ tay sai
Chủ nghĩa Mác với chúng tôi – là sơ khởi
Bởi Mác trên sông Dương Tử chửa từng bơi[2]
Ông Mao người Tàu đả phá ông Mác người Do Thái.
 
Thư công nhân ở nhà máy Tambov
gửi lãnh đạo Trung Quốc
Ở Bắc Kinh tiết trời rất u ám
Còn chúng tôi ở nhà máy giải lao
Chúng tôi viết cho các anh từ nhà máy này
Hỡi những người ưa phiêu lưu mạo hiểm!
 
Rằng việc các anh không ký vào hiệp định[3]
Là đang làm cho cả nhân loại đau thương
Bóp méo sự thật, và chúng tôi nhận định
Rằng các anh quí trọng tướng Đờ Gôn.
 
Mỗi ngày mới chúng tôi đều quí trọng
Nhưng nếu cần nhớ về thưở xa xăm
Thì các anh phát minh ra thuốc súng[4]
Và đã xây nên Vạn lý Trường thành.
 
Chúng tôi hiểu các anh quá đông dân
Để đem ba trăm triệu dân ra nướng
Trong chiến tranh, nhưng chúng tôi tin rằng
Đồng chí Mao cũng vô cùng muốn sống.
 
Khi thiếu gạo, các anh đã từng lo
Chủ nghĩa quốc tế chúng tôi đã tỏ
Khi các anh ăn bánh mì của Nga
Đâu nói gì về chủ nghĩa cơ hội!
 
Hãy sợ những kẻ phục thù ở Bonn
Và Oa-sinh-tơn dọa rằng sẽ vượt –
Nhưng Khơ-rút-sốp nói ở Liên Hiệp Quốc
Rằng bom nhiệt hạch ông sẽ chứng minh!
 
Các anh không cần gì bom đạn cả
Đừng thổi bùng lên ngọn lửa chiến tranh
Chúng tôi sẽ ra tay, nếu thấy rằng
Sự cần thiết, đòn hạt nhân đáp trả.
 
Nếu ngứa ngáy – thì cũng đừng hành hạ
Các anh có bao nhiêu việc phải làm:
Hãy đi giết ruồi, giảm tỉ lệ sinh
Diệt cho hết bao nhiêu bầy chim sẻ![5]
 
Còn việc chúng tôi đừng quan tâm nữa
Chúng tôi tự mình biết việc phải làm
Trung ương Đảng đã viết trong thư ngỏ
Và chúng tôi đây ủng hộ hết mình!
 
Gần thành phố Bắc Kinh
Gần thành phố Bắc Kinh
Hồng vệ binh đi tuần
Những bức tranh, tượng cổ
Hồng vệ binh đi tìm
Chẳng phải vì Hồng vệ binh
Yêu tượng hay tranh cổ
Thay vì tượng, sẽ là bình
Của “Cách mạng Văn hóa”
 
Vì quan trọng là tôi biết rõ
Những lời này qua phát âm
Có vẻ gì không đàng hoàng
Tôi phát âm từng chữ
Hồng – Vệ – Binh…
 
Chủ tịch Mao của họ
Nghĩ ra một trò giải trí:
Con trẻ chớ đến trường
Mà hãy tham gia đám đông!
Không phải để cho con trẻ
Đa số là còn rất nhỏ
Chịu cảnh tang thương
Trở thành món thịt băm!
 
Vì quan trọng là tôi biết rõ
Những lời này qua phát âm
Có vẻ gì không đàng hoàng
Tôi phát âm từng chữ
Hồng – Vệ – Binh…
 
Một lát ngồi yên
Còn bây giờ ta nổi loạn
Thực tế là có điều gì lẳng lặng
Lâm Bưu nghĩ ra cùng Mao Trạch Đông
Bằng cách gì đó đem khuấy động
Bầu không khí trên chính trường
Để rồi đem ra nhạo báng
Cả Liên Xô, cả chú Sam!
 
Vì quan trọng là tôi biết rõ
Những lời này qua phát âm
Có vẻ gì không đàng hoàng
Tôi phát âm từng chữ
Hồng – Vệ – Binh…
 
Một hôm chúng tôi đọc lời trích nhỏ
Một hôm chúng tôi đọc lời trích nhỏ
Của Chủ tịch Mao cùng bức chân dung
Ta có phần nào vi phạm hiến chương…
Phần còn lại hãy đọc từ báo chí.
 
Nhớ lại bài hát, nhớ lại câu thơ
Có vẻ như bên tai tôi thầm thĩ:
“Stalin và Mao đang nghe họ” –
Đấy là lý do của việc ồn ào.
 
Được hỏa lực hỗ trợ từ súng cối
Chầm chậm, âm thầm như buổi đi săn
Chạy về phía tôi cả một đám đông
Sau tôi biết số người trong đại đội.
 
Nhớ lại bài hát, nhớ lại câu thơ
Có vẻ như bên tai tôi thầm thĩ:
“Stalin và Mao đang nghe họ” –
Đấy là lý do của việc ồn ào.
 
Trước – dù cắn vào tay, nhưng không bắn
Cứ việc ngồi nhà mà uống ca cao
Nhưng hôm nay được lệnh trên: phải chặn
Giờ là No pasarán[6], đồng chí Mao!
 
Nhớ lại bài hát, nhớ lại câu thơ
Có vẻ như bên tai tôi thầm thĩ:
“Stalin và Mao đang nghe họ” –
Đấy là lý do của việc ồn ào.
 
Trước, tôi cũng từng tập trên thao trường
Tôi không quen với những hành động chậm
Trước, tôi bắn kẻ thù trong tưởng tượng
Còn giờ kẻ thù bằng thịt bằng xương.
 
Nhớ lại bài hát, nhớ lại câu thơ
Có vẻ như bên tai tôi thầm thĩ:
“Stalin và Mao đang nghe họ” –
Đấy là lý do của việc ồn ào.
 
Tiếng mìn nổ, rồi cứ từng đại đội
Dàn hàng ngang, không cần biết nông sâu…
Thật đáng giận – kia những khẩu súng cối
Mà chính chúng ta đã tặng người Tàu.
 
Nhớ lại bài hát, nhớ lại câu thơ
Có vẻ như bên tai tôi thầm thĩ:
“Stalin và Mao đang nghe họ” –
Đấy là lý do của việc ồn ào.
 
Ông từ lâu đã là người cầm lái
Mà bây giờ vẫn không chịu ngồi yên
Anh em ta nằm, tiếng súng vang lên…
Phần còn lại hãy đọc từ báo chí.
 
Người lái xe
Người lái xe đã quở trách thời tiết
Và nói rằng: “Do bị tác động lên
Từ nhà máy, phóng tên lửa, vệ tinh
Mà nói chung – tại vì do lũ cướp”.
 
Giành chút từ vĩnh hằng
Giành chút từ vĩnh hằng
Để khổ và để sướng
Để không nghe, để câm
Để cho và để nhận
Để có và để không
Để nhớ hay nhớ đến.
 
Về cuộc gặp của chúng mình
Về cuộc gặp của chúng mình - ai đó nói
Anh chờ em như người ta đợi thiên tai
Rồi hai đứa lập tức sống chung ngay
Không sợ gì hậu quả, dù nguy hại.
 
Anh vội co quan hệ em với người
Mặc áo, đi giày, lôi từ rác bẩn
Nhưng kéo theo em một cái đuôi dài -
Cái đuôi dài của những quan hệ ngắn.
 
Rồi sau anh đánh những bạn bè em
Anh với họ có điều gì khó chịu
Mặc dù, có thể, là trong số đấy
Có những chàng trai xuất sắc, tuyệt trần.
 
Điều em đòi hỏi - anh làm mau mắn
Cứ mỗi giờ lại muốn tối tân hôn
Anh nhảy vào tàu tự tử - vì em
Nhưng cũng may, không được thành công lắm.
 
Giá mà em cái năm đó đợi anh
Khi người ta cho anh về “nhà nghỉ”
Thì anh đã trộm cả bầu hoàn vũ
Và hai ngôi sao ở điện Kremlin.
 
Và thề rằng kẻ đê tiện cuối cùng
Không uống rượu, dối gian - xin phụ bạc
Anh tặng cho em Bolshoi nhà hát
Đấu trường thể thao nhỏ bé cho em.
 
Nhưng chưa sẵn sàng gặp gỡ bây giờ
Anh sợ em, sợ những đêm hoan lạc
Như người dân của những thành phố Nhật
Sợ tái diễn cảnh kinh hoàng ở Hiroshima.
 
Khúc ca về nhà tiên tri Cassandra[7]
Thành Tơ-roa lâu ngày bị bao vây
Vẫn trở thành một pháo đài đứng vững
Nhưng dân Tơ-roa đã không tin tưởng.
Nếu không, đã còn cho đến ngày nay.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Trong cái đêm từ bụng con ngựa gỗ
Cái chết đi ra (như có cánh bay)
Trên đám đông hoảng loạn và cuồng si
Ai đó kêu: "Lỗi lầm do phù thủy!"
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Trong đêm hoảng loạn, trong cái chết này
Khi lời dự báo trở thành hiện thực
Giá mà đám đông tìm ra một phút
Để trừng phạt cho cái thói quen này.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Kết cục giản đơn – dù bất thường, đáng giận:
Một người Hy Lạp tìm ra Cassandra
Nhưng dùng không như Cassandra, mà
Như người chiến thắng giản đơn, nhàm chán.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
Мао Цзедун - большой шалун
Мао Цзедун - большой шалун -
Он до сих пор не прочь кого-нибудь потискать,-
Заметив слабину,
меняет враз жену.
И вот недавно докатился до артистки.
 
Он маху дал -
он похудал:
У ней открылся темперамент слишком бурный,-
Не баба - зверь,-
она теперь
Вершит делами "революции культурной".
 
А ну-ка встань, Цин Цзянь,
а ну Талмуд достань,-
Уже трепещут мужнины враги!
Уже видать концы -
жена Лю Шаоцы
Сломала две свои собачие ноги.
 
А кто не чтит цитат,
тот - ренегат и гад,-
Тому на задницы наклеим дацзыбао!
Кто с Мао вступит в спор,
тому дадут отпор
Его супруга вместе с другом Линем Бяо.
 
А кто не верит нам,
тот - негодяй и хам.
А кто не верит нам,
тот - прихвостень и плакса.
Марксизм для нас - азы,
ведь Маркс не плыл в Янцзы,-
Китаец Мао раздолбал еврея Маркса!
 
Письмо рабочих тамбовского завода
китайским руководителям
В Пекине очень мрачная погода,
У нас в Тамбове на заводе перекур,-
Мы пишем вам с тамбовского завода,
Любители опасных авантюр!
 
Тем, что вы договор не подписали,
Вы причинили всем народам боль
И, извращая факты, доказали,
Что вам дороже генерал де Голль.
 
Нам каждый день насущный мил и дорог,-
Но если даже вспомнить старину,
То это ж вы изобретали порох
И строили Китайскую стену.
 
Мы понимаем - вас совсем не мало,
Чтоб триста миллионов погубить,-
Но мы уверены, что сам товарищ Мао,
Ей-богу, очень-очень хочет жить.
 
Когда вы рис водою запивали -
Мы проявляли интернационализм,-
Небось, когда вы русский хлеб жевали,
Не говорили про оппортунизм!
 
Боитесь вы, что реваншисты в Бонне,
Что Вашингтон грозится перегнать,-
Но сам Хрущев сказал еще в ООНе,
Что мы покажем кузькину им мать!
 
Вам не нужны ни бомбы, ни снаряды -
Не раздувайте вы войны пожар,-
Мы нанесем им, если будет надо,
Ответный термоядерный удар.
 
А если зуд - без дела не страдайте,-
У вас еще достаточно делов:
Давите мух, рождаемость снижайте,
Уничтожайте ваших воробьев!
 
И не интересуйтесь нашим бытом -
Мы сами знаем, где у нас чего.
Так наш ЦК писал в письме открытом,-
Мы одобряем линию его!
 
Возле города Пекина
Возле города Пекина
Ходят-бродят хунвейбины,
И старинные картины
Ищут-рыщут хунвейбины,-
И не то чтоб хунвейбины
Любят статуи, картины:
Вместо статуй будут урны
"Революции культурной".
 
И ведь главное, знаю отлично я,
Как они произносятся,-
Но что-то весьма неприличное
На язык ко мне просится:
Хун-вей-бины...
 
Вот придумал им забаву
Ихний вождь товарищ Мао:
Не ходите, дети, в школу -
Приходите бить крамолу!
И не то чтоб эти детки
Были вовсе малолетки,-
Изрубили эти детки
Очень многих на котлетки!
 
И ведь главное, знаю отлично я,
Как они произносятся,-
Но что-то весьма неприличное
На язык ко мне просится:
Хун-вей-бины...
 
Вот немного посидели,
А теперь похулиганим -
Что-то тихо, в самом деле,-
Думал Мао с Ляо Бянем,-
Чем еще уконтрапупишь
Мировую атмосферу:
Вот еще покажем крупный кукиш
США и СССРу!
 
И ведь главное, знаю отлично я,
Как они произносятся,-
Но что-то весьма неприличное
На язык ко мне просится:
Хун-вей-бины...
 
Как-то раз, цитаты Мао прочитав
Как-то раз, цитаты Мао прочитав,
Вышли к нам они с большим его портретом,-
Мы тогда чуть-чуть нарушили устав...
Остальное вам известно по газетам.
 
Вспомнилась песня, вспомнился стих -
Словно шепнули мне в ухо:
"Сталин и Мао слушают их",-
Вот почему заваруха.
 
При поддержке минометного огня,
Молча, медленно, как будто на охоту,
Рать китайская бежала на меня,-
Позже выяснилось - численностью в роту.
 
Вспомнилась песня, вспомнился стих -
Словно шепнули мне в ухо:
"Сталин и Мао слушают их",-
Вот почему заваруха.
 
Раньше - локти хоть кусать, но не стрелять,
Лучше дома пить сгущенное какао,-
Но сегодня приказали: не пускать,-
Теперь вам шиш, но пасаран, товарищ Мао!
 
Вспомнилась песня, вспомнился стих -
Словно шепнули мне в ухо:
"Сталин и Мао слушают их",-
Вот почему заваруха.
 
Раньше я стрелял с колена - на бегу,-
Не привык я просто к медленным решеньям,
Раньше я стрелял по мнимому врагу,
А теперь придется по живым мишеням.
 
Вспомнилась песня, вспомнился стих -
Словно шепнули мне в ухо:
"Сталин и Мао слушают их",-
Вот почему заваруха.
 
Мины падают, и рота так и прет -
Кто как может - по воде, не зная броду...
Что обидно - этот самый миномет
Подарили мы китайскому народу.
 
Вспомнилась песня, вспомнился стих -
Словно шепнули мне в ухо:
"Сталин и Мао слушают их",-
Вот почему заваруха.
 
Он давно - великий кормчий - вылезал,
А теперь, не успокоившись на этом,
Наши братья залегли - и дали залп...
Остальное вам известно по газетам.
 
Шофёр ругал погоду
Шофёр ругал погоду
И говорил: «Влияют на неё
Ракеты, спутники, заводы,
А в основном — жульё».
 
Шмоток у вечности урвать
Шмоток у вечности урвать,
Чтоб наслаждаться и страдать,
Чтобы не слышать и неметь,
Чтобы вбирать и отдавать,
Чтобы иметь и не иметь,
Чтоб помнить иль запоминать.
 
О нашей встрече
О нашей встрече - что там говорить!
Я ждал ее, как ждут стихийных бедствий,
Но мы с тобою сразу стали жить,
Не опасаясь пагубных последствий.
 
Я сразу сузил круг твоих знакомств,
Одел, обул и вытащил из грязи,
Но за тобой тащился длинный хвост, -
Длиннющий хвост твоих коротких связей.
 
Потом я, помню, бил друзей твоих -
Мне с ними было как-то неприятно, -
Хотя, быть может, были среди них
Наверняка отличные ребята.
 
О чем просила - делал мигом я,
Мне каждый час хотелось сделать ночью брачной.
Из-за тебя под поезд прыгал я,
Но, слава богу, не совсем удачно.
 
И если б ты ждала меня в тот год,
Когда меня отправили «на дачу», -
Я б для тебя украл весь небосвод
И две звезды Кремлевские в придачу.
 
И я клянусь - последний буду гад! -
Не ври, не пей - и я прощу измену,
И подарю тебе Большой театр
И Малую спортивную арену.
 
А вот теперь я к встрече не готов:
Боюсь тебя, боюсь ночей интимных -
Как жители японских городов
Боятся повторенья Хиросимы.
 
Песня о вещей Кассандре
Долго Троя в положении осадном
Оставалась неприступною твердыней.
Но троянцы не поверил Кассандре.
Троя, может быть, стояла б и поныне.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
И в ночь, когда из чрева лошади на Трою
Спустилась смерть (как и положено, крылата),
Над избиваемой безумною толпою
Кто-то крикнул: "Это ведьма виновата!"
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
И в эту ночь, и в эту смерть, и в эту смуту, -
Когда сбылись все предсказания на славу,
Толпа нашла бы подходящую минуту,
Чтоб учинить свою привычную расправу.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
Конец простой - хоть необычный, но досадный:
Какой-то грек нашел Кассандрину обитель
И начал пользоваться ей не как Кассандрой,
А как простой и ненасытный победитель.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.interesniy.kiev.ua/old/7137/7143/8216/vysotskiy
  2. ^ Ý nhắc đến việc Chủ tịch Mao từng bơi 14 km trên sông Dương Tử.
  3. ^ Ý nói đến “Hiệp định cấm thử vũ khí hạt nhân ở trên đất, dưới nước và trong không khí” ký ở Moskva ngày 5 tháng 8 năm 1963. Tất cả các cường quốc hạt nhân đều ký, trừ Pháp của tướng Charles de Gaulle và Trung Quốc.
  4. ^ Thuốc súng là một trong bốn phát minh vĩ đại nhất của người Trung Hoa.
  5. ^ Chiến dịch diệt chim sẻ là một trong những hành động đầu tiên trong kế hoạch Đại nhảy vọt của Trung Quốc từ năm 1958 đến năm 1962. Bốn loại con vật cần phải bị diệt trừ đó là chuột, ruồi, muỗi, và chim sẻ.
  6. ^ No pasarán – tiếng Tây Ban Nha: không được vượt qua.
  7. ^ Cassandra – nhà tiên tri người Tơ-roa. Apollo đã yêu Cassandra say đắm và ban cho Cassandra tài tiên tri, còn Cassandra thì học nghệ thuật tiên tri nhưng từ chối tình yêu của Apollo nên Apollo đã làm cho dân chúng không tin những lời tiên tri của Cassandra. Bởi thế, dân Tơ-roa không một ai tin những lời dự báo của Cassandra về sự nguy hiểm của cuộc hôn nhân giữa Helen và Paris cũng như con ngựa gỗ… Sau khi thành Tơ-roa thất thủ Cassandra bị Ajax (the Lesser) bắt và cưỡng hiếp.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]