Vladimir Semyonovich Vysotsky

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vladimir Vysotsky
Vladimir Vysotsky.jpg
Vladimir Vysotsky, 1979.
Thông tin nghệ sĩ
Sinh 25 tháng 1, 1938(1938-01-25)
Nguyên quán Moskva, Liên Xô
Mất 25 tháng 7, 1980 (42 tuổi)
Nghề nghiệp Ca sĩ, Bard, Nhạc sĩ, Diễn viên
Thể loại Bard
Chanson
Nhạc cụ Giọng hát, Guitar
Năm hoạt động 1959–1980

Vladimir Semyonovich Vysotsky (tiếng Nga: Влади́мир Семёнович Высо́цкий, Vladimir Semyonovich Vysotskyj) (25 tháng 1, 1938, Moskva, Liên Xô – 25 tháng 7, 1980, Moskva, Liên Xô) là một hình tượng Xô viết và ca sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ và diễn viên người Do TháiNga.[1] Vladimir Vysotsky được coi là một trong những nhà thơ lớn nhất của Nga thế kỷ XX. Tên của ông đã được đặt cho các vệ tinh nhân tạo.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vladimir Vysotsky sinh và mất đều ở thủ đô Moskva. Nguồn gốc và chủng tộc hiện vẫn có những ý kiến khác nhau. Từ thời ông bà, và ngay cả bố của Vysotsky vẫn có hai giả thiết. Họ là người ở tỉnh Bretsk, một tỉnh giáp với Ba Lan và nay thuộc cộng hòa Belarus.

Tuổi thơ ở thủ đô Moskva. Những năm thế chiến II, từ 1941 đến 1943, sơ tán về tỉnh Chkalov (nay là tỉnh Orenburg). Năm 1947 bố và mẹ ly dị, Vladimir về sống với bố và vợ hai của bố. Những năm 1947 – 1949 sống ở Đức – là nơi mà bố của Vladimir làm việc. Ở đây Vladimir bắt đầu học đàn dương cầm.

Hình Vladimir Vysotsky trên tem thư, 1999

Năm 1956 học trường Đại học Kỹ sư xây dựng nhưng được một học kỳ thì bỏ. Sau đó vào học trường Nghệ thuật Moskva từ 1956 – 1960. Sau khi tốt nghiệp Vladimir Visotsky bắt đầu cuộc đời nghệ sĩ đầu tiên ở nhà hát Puskin, sau đó là nhà hát Taganka. Vladimir Visotsky tham gia hàng chục vai diễn trong hàng chục bộ phim, trong đó có nhiều bộ phim nổi tiếng thế giới.

Vladimir Vysotsky biết làm thơ từ nhỏ. Ông sáng tác tất cả hơn 600 bài thơ và bài hát. Trong số này có rất nhiều bài hát viết cho phim và kịch. Ngoài thơ, ông còn viết văn xuôi, kịch bản sân khấu, phim và truyện cổ tích. Ông sáng tác nhạc từ năm 1960 cho những bài thơ của mình. Những bài hát của ông được tuổi trẻ cả nước hát và ông cũng thường xuyên đi biểu diễn ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước Phương Tây.

Vladimir Vysotsky kết hôn ba lần. Hai người vợ đầu tiên được khoảng 5 năm. Người cuối cùng, từ năm 1970 đến cuối đời. Người vợ đầu tiên có một đứa con trai và mang họ Vysotsky nhưng thực ra là con của người đàn ông khác.

Những năm cuối đời ông trở thành thần tượng của giới trẻ Xô Viết, đặc biệt nổi tiếng ở thập niên cuối cùng. Vladimir Vysotsky mất ngày 25 tháng 7 năm 1980 ở Moskva. Cả nước khóc cái chết của ông. Đám tang của ông có hàng chục nghìn người tham dự. Mặc dù vậy, sự thừa nhận chính thức chỉ đến với ông sau khi chết. Ông được công nhận Nghệ sĩ công huân của Liên bang Nga năm 1986. Năm 1987 ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô.

Sau khi mất, toàn bộ sáng tác của ông được in thành sách và ghi thành nhiều bộ đĩa cả ở Liên Xô cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Thơ và bài hát của ông hiện tại đã được dịch ra 52 thứ tiếng trên thế giới. Tiếng Việt có bản dịch của Nguyễn Viết Thắng với khoảng 30 bài.

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Wladimir Wyssozki. Aufbau Verlag 1989 (DDR): Zerreißt mir nicht meine silbernen Saiten....
  • Vysotsky, Vladimir (1990): Hamlet With a Guitar. Moscow, Progress Publishers. ISBN 5-01-001125-5
  • Vysotsky, Vladimir (2003): Songs, Poems, Prose. Moscow, Eksmo. ISBN
  • Vysotsky, Vladimir / Mer, Nathan (trans) (1991): Songs & Poems. ISBN 0-89697-399-9
  • Vysotsky, Vladimir (1991): I Love, Therefore I Live. ISBN 0-569-09274-4
  • Vlady, Marina (1987): Vladimir ou Le Vol Arrêté. Paris, Ed. Fayard. ISBN 2-213-02062-0 (Vladimir or the Aborted Flight)
  • Влади М. Владимир, или Прерванный полет. М.: Прогресс, 1989.
  • Vlady, Marina / Meinert, Joachim (transl) (1991): Eine Liebe zwischen zwei Welten. Mein Leben mit Wladimir Wyssozki. Weimar, Aufbau Verlag. ISBN

Trích một số bài thơ đã dịch ra tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Về cuộc gặp của chúng mình
Về cuộc gặp của chúng mình - ai đó nói
Anh chờ em như người ta đợi thiên tai
Rồi hai đứa lập tức sống chung ngay
Không sợ gì hậu quả, dù nguy hại.
 
Anh vội co quan hệ em với người
Mặc áo, đi giày, lôi từ rác bẩn
Nhưng kéo theo em một cái đuôi dài -
Cái đuôi dài của những quan hệ ngắn.
 
Rồi sau anh đánh những bạn bè em
Anh với họ có điều gì khó chịu
Mặc dù, có thể, là trong số đấy
Có những chàng trai xuất sắc, tuyệt trần.
 
Điều em đòi hỏi - anh làm mau mắn
Cứ mỗi giờ lại muốn tối tân hôn
Anh nhảy vào tàu tự tử - vì em
Nhưng cũng may, không được thành công lắm.
 
Giá mà em cái năm đó đợi anh
Khi người ta cho anh về “nhà nghỉ”
Thì anh đã trộm cả bầu hoàn vũ
Và hai ngôi sao ở điện Kremlin.
 
Và thề rằng kẻ đê tiện cuối cùng
Không uống rượu, dối gian - xin phụ bạc
Anh tặng cho em Bolshoi nhà hát
Đấu trường thể thao nhỏ bé cho em.
 
Nhưng chưa sẵn sàng gặp gỡ bây giờ
Anh sợ em, sợ những đêm hoan lạc
Như người dân của những thành phố Nhật
Sợ tái diễn cảnh kinh hoàng ở Hiroshima.
 
Tôi yêu phụ nữ và thích tán tỉnh
Tôi yêu phụ nữ và thích tán tỉnh
Cứ mỗi ngày với người mới không thôi
Còn thiên hạ lại cứ ưa truyền miệng
Về những chuyện tình, ân ái của tôi.
 
Có một hôm trên một con đường nhỏ
Gần biển nên không phải chuyện đùa chơi
Tôi đã gặp một người trong số họ
Trên con đường đời sôi nổi của tôi.
 
Nàng của tôi có tâm hồn rộng mở
Và một tư chất hào phóng, thênh thang
Nàng của tôi – có dáng hình tuyệt mỹ
Nhưng trong túi tôi không có một đồng.
 
Còn nàng cần nhẫn vàng làm quà tặng
Ăn uống nhà hàng và tặng nước hoa –
Đem đổi lại – một ít nhiều sung sướng
Của dịch vụ nhưng còn lắm nghi ngờ.
 
Nàng bảo tôi: “Vasya yêu mến
Em trao anh thứ quí giá nhất đời!”
Tôi trả lời: “Có một trăm rúp thôi
Còn nếu hơn – cưa đôi cùng đứa bạn!”
 
Phụ nữ giống như những con ngựa dữ
Cắn liên hồi hàm thiếc, thở phì phì
Có thể có điều gì tôi không rõ
Nhưng nàng phật lòng nên vội bỏ đi.
 
… Một tháng sau cơn xúc động dịu đi
Một tháng sau tôi thấy nàng lại ghé
Khi đó tôi có cảm giác như là
Nàng đồng ý với giá mà tôi trả.
 
Thật là uổng, những nhà thơ không nghe
Chuyện về tôi – chàng trai từ đồng ruộng
Họ không viết những bài thơ – thật uổng –
Về những chuyện tình, ân ái của tôi.
 
Khởi thủy là lời
Khởi thủy là lời, nhưng không ý tưởng
Bóng tối, hỗn mang, và khối vấn đề
Và cũng chưa có những người trách nhiệm
Tạo ra trật tự cho thế giới kia.
 
Rồi vì lãng mạn, mà có thể - vì buồn
Khoa học khẳng định, và lời đồn dạo
Rằng từ đất liền nhiều mảnh tách riêng
Bơi ra biển rồi biến thành các đảo.
 
Khởi thủy là Lời khổ đau, buồn bã
Sinh trong khổ đau sáng tạo hành tinh
Những mảng lớn dứt ra từ đất liền
Thành những hòn đảo khắp nơi đâu đó.
 
Trôi khắp nơi không hàng, không cước phí
Xuyên qua bao thời đại, hàng triệu năm
Kẻ lang thang thay đổi cả dáng hình
Nhưng giữ thiên nhiên và hồn lục địa.
 
Khởi thủy là Lời, nhưng lời kết thúc
Thủy thủ kéo nhau sống khắp trần gian
Và họ theo những hòn đảo đi lên
Gọi chúng là “tàu” là vì cái đẹp.
 
Nhưng giữ bờ - tốt hơn là mánh khóe
Những hòn đảo kia quay trở về chăng.
Chúng có trật tự đặc biệt của mình
Nhưng giữ luật và thanh danh lục địa.
 
Liệu khoa học có tha cho sự song song
Trong sự giải thích có phần tự tiện
Nếu khởi thủy là Lời chốn trần gian
Thì không nghi ngờ lời này là: “biển!”.
 
Và boong tàu được lau chùi chu đáo
Chân cho vào, hồn huynh đệ thêm cho
Bỏ lại đuôi, những con tàu tách ra
Theo năm tháng rồi biến thành các đảo.
 
Người đẹp được yêu thường xuyên, cần mẫn hơn
Người đẹp được yêu thường xuyên, cần mẫn hơn
Ít, nhưng nhanh hơn – với người vui vẻ
Hiếm khi được yêu – những người lặng lẽ
Nhưng nếu được yêu thì mạnh mẽ hơn.
 
Bạn đừng gào lên những lời dịu dàng
Mà hãy giữ chúng trong vòng tù hãm
Mặc những con tàu gào rống trong đêm
Nhưng còn bạn thì giữ bề im lặng
Vội vã – thì đi tìm gió ngoài đồng.
 
Nàng đang đọc những cuốn tiểu thuyết buồn
Để nàng so sánh, bạn thì tin tưởng
Vì rằng có những bông tuy líp đen
Để người ta ngỡ trắng hơn màu trắng.
 
Bạn đừng gào lên những lời dịu dàng
Mà hãy giữ chúng trong vòng tù hãm
Mặc những con tàu gào rống trong đêm
Nhưng còn bạn thì giữ bề im lặng
Vội vã – thì đi tìm gió ngoài đồng.
 
Lời chạy nhảy, bị gò bó – thế nhưng
Bạn đừng bao giờ sợ rằng chậm trễ.
Lời có nhiều, nhưng nếu như có thể
Chỉ nói khi bạn không thể nào không.
 
Bạn đừng gào lên những lời dịu dàng
Mà hãy giữ chúng trong vòng tù hãm
Mặc những con tàu gào rống trong đêm
Nhưng còn bạn thì giữ bề im lặng
Vội vã – thì đi tìm gió ngoài đồng.
 
Bài ballad về Tình yêu
Khi dòng nước của cơn Đại hồng thủy
Quay trở lại lần nữa với bến bờ
Thì từ bọt của dòng nước xưa kia
Tình yêu thoát lên bờ trong lặng lẽ
Và tan trong không khí đến hạn kỳ
Mà hạn kỳ thì có nhiều vô kể.
 
Và hãy vẫn còn những người ngớ ngẩn
Thở đầy căng cái thứ hỗn hợp này
Họ không chờ hình phạt hay phần thưởng
Mà chỉ nghĩ rằng hít thở vậy thôi
Họ rơi vào nhịp thở không bằng phẳng
Nhịp thở như vầy – nhịp thở chơi vơi.
 
Tôi trải giường cho những kẻ đang yêu
Để họ hát cả ngoài đời, trong mộng!..
Tôi đang thở – nghĩa là tôi đang yêu!
Tôi đang yêu – nghĩa là tôi đang sống!
 
Và sẽ có nhiều giang hồ phiêu bạt:
Xứ sở tình yêu, xứ sở mênh mông!
Tình thử thách những hiệp sĩ của mình
Cứ mỗi ngày vặn hỏi càng nghiêm khắc:
Tình đòi hỏi chia ly và khoảng cách
Không nghỉ ngơi, không cho ngủ cho yên.
 
Nhưng không quay lại những kẻ điên cuồng
Mà họ bằng lòng trả bằng mọi giá
Sẵn sàng mạo hiểm cả cuộc đời mình
Để cho không làm rách và để giữ
Sợi chỉ thần tiên, sợi chỉ vô hình
Mà người ta đã căng ra giữa họ.
 
Tôi trải giường cho những kẻ đang yêu
Để họ hát cả ngoài đời, trong mộng!..
Tôi đang thở – nghĩa là tôi đang yêu!
Tôi đang yêu – nghĩa là tôi đang sống!
 
Nhưng có khối kẻ chết ngạt vì tình
Gọi tình yêu nhưng chưa từng gọi đến
Biết bao nhiêu trống vắng với tin đồn
Nhưng tổng số này ngâm trong máu nóng.
Còn ta đặt những ngọn nến đầu giường
Thờ những kẻ chết mà chưa được nhận.
 
Linh hồn họ trong cỏ hoa thơ thẩn
Giọng nói rồi sẽ hòa nhập cùng nhau
Và một nhịp thở cùng chung vĩnh viễn
Thổn thức trên môi – khi họ gặp nhau
Trên bến đò ngang run rẩy, trên cầu
Và trên những ngã tư đời chật lắm.
 
Cơn gió mát làm say người được chọn
Quấn bàn chân, làm người chết hồi sinh
Bởi vì rằng, nếu như bạn chưa từng
Yêu – nghĩa là chưa thở và chưa sống.
 
Khúc ca về nhà tiên tri Cassandra[2]
Thành Tơ-roa lâu ngày bị bao vây
Vẫn trở thành một pháo đài đứng vững
Nhưng dân Tơ-roa đã không tin tưởng.
Nếu không, đã còn cho đến ngày nay.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Trong cái đêm từ bụng con ngựa gỗ
Cái chết đi ra (như có cánh bay)
Trên đám đông hoảng loạn và cuồng si
Ai đó kêu: "Lỗi lầm do phù thủy!"
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Trong đêm hoảng loạn, trong cái chết này
Khi lời dự báo trở thành hiện thực
Giá mà đám đông tìm ra một phút
Để trừng phạt cho cái thói quen này.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
 
Kết cục giản đơn – dù bất thường, đáng giận:
Một người Hy Lạp tìm ra Cassandra
Nhưng dùng không như Cassandra, mà
Như người chiến thắng giản đơn, nhàm chán.
 
Cô gái cuồng điên nhắc đi nhắc lại:
"Ta thấy Tơ-roa sẽ cháy thành tro… "
Nhưng người mục kích, nhưng nhà tiên tri
Muôn đời nay bị thiêu trên lửa cháy.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
О нашей встрече
О нашей встрече - что там говорить!
Я ждал ее, как ждут стихийных бедствий,
Но мы с тобою сразу стали жить,
Не опасаясь пагубных последствий.
 
Я сразу сузил круг твоих знакомств,
Одел, обул и вытащил из грязи,
Но за тобой тащился длинный хвост, -
Длиннющий хвост твоих коротких связей.
 
Потом я, помню, бил друзей твоих -
Мне с ними было как-то неприятно, -
Хотя, быть может, были среди них
Наверняка отличные ребята.
 
О чем просила - делал мигом я,
Мне каждый час хотелось сделать ночью брачной.
Из-за тебя под поезд прыгал я,
Но, слава богу, не совсем удачно.
 
И если б ты ждала меня в тот год,
Когда меня отправили «на дачу», -
Я б для тебя украл весь небосвод
И две звезды Кремлевские в придачу.
 
И я клянусь - последний буду гад! -
Не ври, не пей - и я прощу измену,
И подарю тебе Большой театр
И Малую спортивную арену.
 
А вот теперь я к встрече не готов:
Боюсь тебя, боюсь ночей интимных -
Как жители японских городов
Боятся повторенья Хиросимы.
 
Я любил и женщин и проказы
Я любил и женщин и проказы:
Что ни день, то новая была, -
И ходили устные рассказы
Про мои любовные дела.
 
И однажды как-то на дороге
Рядом с морем - с этим не шути -
Встретил я одну из очень многих
На моем на жизненном пути.
 
А у ней - широкая натура,
А у ней - открытая душа,
А у ней - отличная фигура, -
А у меня в кармане - ни гроша.
 
Ну а ей - в подарок нужно кольца;
Кабаки, духи из первых рук, -
А взамен - немного удовольствий
От ее сомнительных услуг.
 
«Я тебе, - она сказала, - Вася,
Дорогое самое отдам!..»
Я сказал: «За сто рублей согласен, -
Если больше - с другом пополам!»
 
Женщины - как очень злые кони:
Захрипит, закусит удила!..
Может, я чего-нибудь не понял,
Но она обиделась - ушла.
 
...Через месяц улеглись волненья -
Через месяц вновь пришла она, -
У меня такое ощущенье,
Что ее устроила цена!
 
Очень жаль, писатели не слышат
Про меня - про парня из села, -
Очень жаль, сонетов не напишут
Про мои любовные дела.
 
Сначала было Слово...
Сначала было слово, но не было идей,
Был хаос, мрак и уйма неполадок,
А в мире еще не было ответственных людей,
Чтоб навести какой-нибудь порядок.
 
Тогда из-за романтики, а может - от тоски,
Как утверждает точная наука и молва,
От суши отделялись отдельные куски
И в море уплывали, превращаясь в острова.
 
Сначала было Слово печали и тоски,
Рождалась в муках творчества планета, -
Рвались от суши в никуда огромные куски
И островами становились где-то.
 
И, странствуя по свету без фрахта и без флага
Сквозь миллионолетья, эпохи и века,
Менял свой облик остров - отшельник и бродяга, -
Но сохранял природу и дух материка.
 
Сначала было Слово, но кончились слова,
Уже матросы Землю населяли, -
И ринулись они по сходням вверх на острова,
Для красоты назвав их кораблями.
 
Но цепко держит берег - надежней мертвой хватки, -
И острова вернутся назад наверняка,
На них царят морские - особые порядки,
На них хранят законы и честь материка.
 
Простит ли нас наука за эту параллель,
За вольность в толковании теорий, -
И если уж сначала было слово на Земле,
То это, безусловно, - слово «море»!
 
И палубы надраили, до лоска довели,
Вросла ногами в палубы и душами братва.
Отдав концы, от суши отрывались корабли,
На месяцы и годы превращаясь в острова.
 
Красивых любят чаще и прилежней
Красивых любят чаще и прилежней,
Веселых любят меньше, но быстрей, -
И молчаливых любят, только реже,
Зато уж если любят, то сильней.
 
Не кричи нежных слов, не кричи,
До поры подержи их в неволе, -
Пусть кричат пароходы в ночи,
Ну а ты промолчи, промолчи, -
Поспешишь - и ищи ветра в поле.
 
Она читает грустные романы, -
Ну пусть сравнит, и ты доверься ей, -
Ведь появились черные тюльпаны -
Чтобы казались белые белей.
 
Не кричи нежных слов, не кричи,
До поры подержи их в неволе, -
Пусть кричат пароходы в ночи,
Ну а ты промолчи, промолчи, -
Поспешишь - и ищи ветра в поле.
 
Слова бегут, им тесно - ну и что же! -
Ты никогда не бойся опоздать.
Их много - слов, но все же если можешь -
Скажи, когда не можешь не сказать.
 
Не кричи нежных слов, не кричи,
До поры подержи их в неволе, -
Пусть кричат пароходы в ночи,
Ну а ты промолчи, промолчи, -
Поспешишь - и ищи ветра в поле.
 
Баллада о Любви
Когда вода Всемирного потопа
Вернулась вновь в границы берегов,
Из пены уходящего потока
На берег тихо выбралась Любовь -
И растворилась в воздухе до срока,
А срока было - сорок сороков...
 
И чудаки - еще такие есть -
Вдыхают полной грудью эту смесь,
И ни наград не ждут, ни наказанья, -
И, думая, что дышат просто так,
Они внезапно попадают в такт
Такого же - неровного - дыханья.
 
Я поля влюбленным постелю -
Пусть поют во сне и наяву!..
Я дышу, и значит - я люблю!
Я люблю, и значит - я живу!
 
И много будет странствий и скитаний:
Страна Любви - великая страна!
И с рыцарей своих - для испытаний -
Все строже станет спрашивать она:
Потребует разлук и расстояний,
Лишит покоя, отдыха и сна...
 
Но вспять безумцев не поворотить -
Они уже согласны заплатить:
Любой ценой - и жизнью бы рискнули, -
Чтобы не дать порвать, чтоб сохранить
Волшебную невидимую нить,
Которую меж ними протянули.
 
Я поля влюбленным постелю -
Пусть поют во сне и наяву!..
Я дышу, и значит - я люблю!
Я люблю, и значит - я живу!
 
Но многих захлебнувшихся любовью
Не докричишься - сколько не зови, -
Им счет ведут молва и пустословье,
Но этот счет замешан на крови.
А мы поставим свечи в изголовье
Погибших от невиданной любви...
 
И душам их дано бродить в цветах,
Их голосам дано сливаться в такт,
И вечностью дышать в одно дыханье,
И встретиться - со вздохом на устах -
На хрупких переправах и мостах,
На узких перекрестках мирозданья.
 
Свежий ветер избранных пьянил,
С ног сбивал, из мертвых воскрешал, -
Потому что если не любил -
Значит, и не жил, и не дышал!
 
Песня о вещей Кассандре
Долго Троя в положении осадном
Оставалась неприступною твердыней.
Но троянцы не поверил Кассандре.
Троя, может быть, стояла б и поныне.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
И в ночь, когда из чрева лошади на Трою
Спустилась смерть (как и положено, крылата),
Над избиваемой безумною толпою
Кто-то крикнул: "Это ведьма виновата!"
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
И в эту ночь, и в эту смерть, и в эту смуту, -
Когда сбылись все предсказания на славу,
Толпа нашла бы подходящую минуту,
Чтоб учинить свою привычную расправу.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.
 
Конец простой - хоть необычный, но досадный:
Какой-то грек нашел Кассандрину обитель
И начал пользоваться ей не как Кассандрой,
А как простой и ненасытный победитель.
 
Без умолку безумная девица
Кричала: "Ясно вижу Трою павшей в прах…"
Но ясновидцев - впрочем, как и очевидцев, -
Во все века сжигали на кострах.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.interesniy.kiev.ua/old/7137/7143/8216/vysotskiy
  2. ^ Cassandra – nhà tiên tri người Tơ-roa. Apollo đã yêu Cassandra say đắm và ban cho Cassandra tài tiên tri, còn Cassandra thì học nghệ thuật tiên tri nhưng từ chối tình yêu của Apollo nên Apollo đã làm cho dân chúng không tin những lời tiên tri của Cassandra. Bởi thế, dân Tơ-roa không một ai tin những lời dự báo của Cassandra về sự nguy hiểm của cuộc hôn nhân giữa Helen và Paris cũng như con ngựa gỗ… Sau khi thành Tơ-roa thất thủ Cassandra bị Ajax (the Lesser) bắt và cưỡng hiếp.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]