Bước tới nội dung

Witness (album của Katy Perry)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Witness
Katy Perry với mái tóc vàng ngắn. Cô lấy tay che mắt, với một nhãn cầu bên trong miệng khi đôi môi cô hé mở.
Album phòng thu của Katy Perry
Phát hành9 tháng 6 năm 2017 (2017-06-09)
Thu âm2016 – 2017
Thể loại
Thời lượng57:28
Hãng đĩaCapitol
Sản xuất
Thứ tự album của Katy Perry
Prism
(2013)
Witness
(2017)
Smile
(2020)
Đĩa đơn từ Witness
  1. "Chained to the Rhythm"
    Phát hành: 10 tháng 2, 2017
  2. "Bon Appétit"
    Phát hành: 28 tháng 4, 2017
  3. "Swish Swish"
    Phát hành: 19 tháng 5, 2017
  4. "Save as Draft"
    Phát hành: 26 tháng 6, 2017
  5. "Hey Hey Hey"
    Phát hành: 12 tháng 1, 2018

Witnessalbum phòng thu thứ năm của ca sĩ người Mỹ Katy Perry, phát hành ngày 9 tháng 6 năm 2017 bởi Capitol Records. Sau khi kết thúc chuyến lưu diễn Prismatic World Tour (2014–15), Perry tạm gác lại sự nghiệp để tập trung cải thiện sức khỏe tinh thần và trở lại với một hình tượng mới. Đây là một bản thu âm electropop kết hợp với phong cách âm nhạc danceEDM, đồng thời chịu nhiều ảnh hưởng từ hip hop, new wave thập niên 1980 và house thập niên 1990. Được nữ ca sĩ mô tả như một đĩa nhạc về "sự giải phóng", nội dung ca từ của Witness đề cập đến những chủ đề về tự trao quyềnchủ nghĩa nữ quyền, lấy cảm hứng từ một loạt sự kiện xung quanh cuộc sống của cô lúc bấy giờ, bao gồm thất bại của Hillary Clinton trong Cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2016. Đóng vai trò đồng điều hành dự án với cộng tác viên lâu năm Max Martin, cô kết hợp với một loạt nhà sản xuất khác nhau, bao gồm Jeff Bhasker, Mark Crew, Duke Dumont, Jack Garratt, Oscar Holter, Illangelo, Ilya, Ali PayamiShellback. Đây cũng là đĩa nhạc đầu tiên không có sự tham gia sản xuất từ Dr. Luke kể từ album phòng thu thứ hai One of the Boys (2008).

Witness đánh dấu bước chuyển biến lớn về mặt hình ảnh của Perry, sau khi cô quyết định rũ bỏ hình tượng sân khấu tươi sáng và chấp nhận con người thật của bản thân là Katheryn Hudson, tên thật của nữ ca sĩ. Perry từ bỏ mái tóc đen dài quen thuộc để cắt tóc pixie ngắn và chấp nhận màu tóc vàng tự nhiên của mình. Ngoài ra, đĩa nhạc còn có sự tham gia góp giọng của những rapper như Nicki Minaj, MigosSkip Marley. Album nhận được những phản ứng trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ đánh giá cao bản chất cá nhân của đĩa nhạc nhưng vấp phải nhiều chỉ trích bởi tổng thể thiếu mạch lạc, khâu sản xuất và chiến dịch quảng bá liên quan đến chính trị. Witness cũng gặt hái những thành công đáng kể về mặt thương mại khi đứng đầu các bảng xếp hạng tại Canada và Tây Ban Nha, đồng thời lọt vào top 10 ở nhiều quốc gia khác, bao gồm vươn đến top 5 ở những thị trường lớn như Úc, Pháp, Ireland, Mexico và New Zealand. Album ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 180,000 đơn vị album tương đương, trở thành album quán quân thứ ba liên tiếp trong sự nghiệp của nữ ca sĩ tại Hoa Kỳ.

Năm đĩa đơn đã được phát hành từ Witness. "Chained to the Rhythm" được chọn làm đĩa đơn mở đường và lọt vào top 10 ở gần 20 quốc gia, cũng như đạt vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 tại Hoa Kỳ. Hai đĩa đơn tiếp theo "Bon Appétit" và "Swish Swish" gặt hái những thành tích thương mại tương đối khi vươn đến top 40 ở một số thị trường, trong khi "Save as Draft" và "Hey Hey Hey" chỉ được phát hành giới hạn. Để quảng bá album, Perry xuất hiện và trình diễn trên nhiều chương trình truyền hình và lễ trao giải lớn, bao gồm Saturday Night Live, giải Grammy lần thứ 59, giải Brit năm 2017, giải thưởng âm nhạc iHeartRadio 2017giải Video âm nhạc của MTV năm 2017, cũng như thực hiện chương trình phát trực tiếp kéo dài bốn ngày liên tiếp trên YouTube mang tên Katy Perry Live: Witness World Wide, ghi lại những hoạt động hằng ngày của cô trong một ngôi nhà và kết thúc bằng một hòa nhạc trực tiếp. Ngoài ra, nữ ca sĩ còn tiến hành chuyến lưu diễn Witness: The Tour (2017-18) với 115 đêm diễn và đi qua bốn châu lục. Tính đến tháng 7 năm 2018, album đã bán được hơn 900,000 bản trên toàn cầu.[1]

Danh sách bài hát

[sửa | sửa mã nguồn]
Witness – Phiên bản tiêu chuẩn[2]
STTNhan đềSáng tácSản xuấtThời lượng
1."Witness"
  • Martin
  • Payami
4:10
2."Hey Hey Hey"
  • Martin
  • Payami
3:34
3."Roulette"
  • Martin
  • Payami
  • Shellback
3:18
4."Swish Swish" (hợp tác với Nicki Minaj)
4:02
5."Déjà Vu"
  • H. James
  • Passovoy[d]
3:17
6."Power"
  • Garratt
  • Passovoy[d]
3:46
7."Mind Maze"
4:08
8."Miss You More"
  • Perry
  • Hudson
  • Roddick
  • M. James
3:54
9."Chained to the Rhythm" (hợp tác với Skip Marley)
  • Martin
  • Payami
3:57
10."Tsunami"
3:23
11."Bon Appétit" (hợp tác với Migos)
  • Holter
  • Martin
  • Shellback
3:47
12."Bigger Than Me"
  • Perry
  • Hudson
  • Roddick
  • M. James
4:00
13."Save as Draft"
3:48
14."Pendulum"
4:00
15."Into Me You See"Dustin O'Halloran4:24
Tổng thời lượng:57:28
Witness – Phiên bản cao cấp và tại Target[3][4][5][6][7]
STTNhan đềSáng tácSản xuấtThời lượng
16."Dance with the Devil"
  • Snow
  • Passovoy[d]
3:49
17."Act My Age"
3:42
Tổng thời lượng:64:59
Witness – Phiên bản cao cấp giới hạn tại Nhật Bản (DVD kèm theo)[8]
STTNhan đềĐạo diễnThời lượng
1."Chained to the Rhythm" (video ca nhạc)Mathew Cullen4:00
2."Chained to the Rhythm" (hậu trường video ca nhạc phần 1)Possum Hill5:50
3."Chained to the Rhythm" (hậu trường video ca nhạc phần 2)Hill4:36
Tổng thời lượng:14:26

Ghi chú

  • ^[a] – nghĩa là sản xuất chính và giọng hát
  • ^[b] – nghĩa là sản xuất chính và giọng hát bổ sung
  • ^[c] – nghĩa là sản xuất bổ sung
  • ^[d] – nghĩa là sản xuất giọng hát
  • ^[e] – nghĩa là sản xuất giọng hát bổ sung

Ghi chú nhạc mẫu

Xếp hạng

[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận

[sửa | sửa mã nguồn]
Quốc gia Chứng nhận Số đơn vị/doanh số chứng nhận
Úc (ARIA)[50] Vàng 35.000^
Áo (IFPI Áo)[51] Vàng 7.500
Canada (Music Canada)[52] 2× Bạch kim 160.000
Đan Mạch (IFPI Đan Mạch)[53] Vàng 10.000
Pháp (SNEP)[54] Vàng 50.000
Ấn Độ (IMI)[55] 3× Bạch kim 90,000[56]
Ý (FIMI)[57] Vàng 25.000
México (AMPROFON)[58] Bạch kim 60.000
Hà Lan (NVPI)[59] Vàng 25.000
New Zealand (RMNZ)[60] Vàng 7.500
Na Uy (IFPI)[61] Bạch kim 20.000*
Ba Lan (ZPAV)[62] Bạch kim 20.000
Anh Quốc (BPI)[63] Vàng 100.000
Hoa Kỳ (RIAA)[64] Vàng 500.000
Tổng hợp
Toàn cầu 900,000[1]

* Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ.
^ Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng.
Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ và phát trực tuyến.

Lịch sử phát hành

[sửa | sửa mã nguồn]
Lịch sử phát hành của Witness
Khu vực Ngày Phiên bản Định dạng Hãng đĩa Ct
Nhiều 9 tháng 6, 2017
  • Tiêu chuẩn
  • cao cấp
Capitol [65]
11 tháng 8, 2017 LP [66]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b Berthelot, Théau (ngày 22 tháng 7 năm 2018). "Katy Perry se confie sur les critiques et sa dépression après l'échec de "Witness"" (bằng tiếng Pháp). Pure Charts. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2025.
  2. ^ "Witness by Katy Perry on Apple Music". iTunes Store. Bản gốc (Credits can be obtained from the songs once added to the iTunes library) lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2017.
  3. ^ "Katy Perry - Witness (Target Exclusive)". Target Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
  4. ^ "Witness Exclusive Deluxe CD". Katy Perry. Bản gốc lưu trữ tháng 6 2, 2017. Truy cập tháng 5 21, 2017.
  5. ^ "Witness - PK Eksklusiv". Platekompaniet Norge. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017.
  6. ^ "ケイティ・ペリー、新作『ウィットネス』の日本盤トラックリストが明らかに | NME Japan". NME.jp (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2017.
  7. ^ "Witness (Deluxe Edition) KATY PERRY | JB Hi-Fi". JB Hi-Fi. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2018.
  8. ^ "CDJapan : Witness (Deluxe Edition) [w/ DVD, Limited Edition]". CDJapan. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2017.
  9. ^ "Australiancharts.com – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  10. ^ "Austriancharts.at – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017.
  11. ^ "Ultratop.be – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  12. ^ "Ultratop.be – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  13. ^ "Katy Perry Chart History (Canadian Albums)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017.
  14. ^ "Czech Albums – Top 100" (bằng tiếng Séc). ČNS IFPI. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2017. Ghi chú: Trên trang xếp hạng này, chọn 201724 trên trường này ở bên cạnh từ "Zobrazit", và sau đó nhấp qua từ để truy xuất dữ liệu bảng xếp hạng chính xác.
  15. ^ "Danishcharts.dk – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017.
  16. ^ "Dutchcharts.nl – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  17. ^ "Katy Perry: Witness" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2017.
  18. ^ "Le Top de la semaine : Top Albums – SNEP (Week 24, 2017)". Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2017.
  19. ^ "Offiziellecharts.de – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment Charts. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  20. ^ "Official IFPI Charts – Top-75 Albums Sales Chart (Week: 26/2017)". IFPI Greece. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2017.
  21. ^ "Album Top 40 slágerlista – 2017. 24. hét" (bằng tiếng Hungary). MAHASZ. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017.
  22. ^ "Irish Albums Chart: 16 June 2017". Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  23. ^ "Italiancharts.com – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  24. ^ "Oricon Top 50 Albums: 2017-06-26" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017.
  25. ^ "週間 洋楽アルバムランキング" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2024.
  26. ^ "Top Album - Semanal (del 09 de Junio al 15 de Junio)" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2017.
  27. ^ "Charts.nz – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  28. ^ "Norwegiancharts.com – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  29. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLiS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Ba Lan. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017.
  30. ^ "Portuguesecharts.com – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017.
  31. ^ "Official Scottish Albums Chart Top 100" (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  32. ^ "Slovak Albums – Top 100" (bằng tiếng Slovak). ČNS IFPI. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017. Note: On the chart page, select 201724 on the field besides the word "Zobrazit", and then click over the word to retrieve the correct chart data
  33. ^ "South Korea Circle Album Chart" (bằng tiếng Hàn). Circle Chart. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2017. Trên trang này, chọn "2017.06.04~2017.06.10" để có được bảng xếp hạng tương ứng.
  34. ^ "South Korea Circle International Album Chart" (bằng tiếng Hàn). Circle Chart. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2017. Trên trang này, chọn "2017.06.04~2017.06.10", sau đó chọn mục "국외", để có được bảng xếp hạng tương ứng.
  35. ^ "Spanishcharts.com – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017.
  36. ^ "Swedishcharts.com – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  37. ^ "Swisscharts.com – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2017.
  38. ^ "Katy Perry | Artist | Official Charts" (bằng tiếng Anh). UK Albums Chart. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  39. ^ "Katy Perry Chart History (Billboard 200)". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2017.
  40. ^ "Ventas físicas mensual – 2017 Junio" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2020.
  41. ^ "Circle International Albums Chart: July 2017" (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2025.
  42. ^ "ARIA End of Year Albums 2017". Australian Recording Industry Association. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2018.
  43. ^ "Jaaroverzichten 2017 – Albums". Ultratop. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018.
  44. ^ "Rapports Annuels 2017 – Albums". Ultratop. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2018.
  45. ^ "Top Canadian Albums – Year-End 2017". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2017.
  46. ^ "Jaaroverzichten – Album 2017". Hung Medien. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
  47. ^ "Classifiche annuali dei dischi più venduti e dei singoli più scaricati nel 2017" (bằng tiếng Ý). FIMI. Bản gốc (Click on "Scarica allegato" and open the "Classifica annuale 2017 Album combined" file) lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2018.
  48. ^ "Los más vendidos 2017" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018.
  49. ^ "Top Billboard 200 Albums – Year-End 2017". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2017.
  50. ^ "ARIA Charts – Accreditations – 2017 Albums" (PDF) (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2017.
  51. ^ "Chứng nhận album Áo – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2017.
  52. ^ "Chứng nhận album Canada – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Music Canada. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2025.
  53. ^ "Chứng nhận album Đan Mạch – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Đan Mạch). IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2021.
  54. ^ "Chứng nhận album Pháp – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017.
  55. ^ "Katy Perry's Witness receives triple platinum certification in India". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2023.
  56. ^ "Standards - IMI". Indian Music Industry (IMI). Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2024.
  57. ^ "Chứng nhận album Ý – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2021.
  58. ^ "Certificaciones" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2019. Nhập Katy Perry ở khúc dưới tiêu đề cột ARTISTA  và Witness ở chỗ điền dưới cột tiêu đề TÍTULO'.
  59. ^ "Chứng nhận album Hà Lan – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld- en geluidsdragers. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2018. Nhập Witness trong mục "Artiest of titel". Chọn 2018 trong tùy chọn "Alle jaargangen".
  60. ^ "Chứng nhận album New Zealand – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Radioscope. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2024. Nhập Witness trong mục "Search:".
  61. ^ "Chứng nhận album Na Uy – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2020.
  62. ^ "OLiS - oficjalna lista wyróżnień" (bằng tiếng Ba Lan). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Ba Lan. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2023. Bấm vào "TYTUŁ" và nhập Witness trong hộp tìm kiếm.
  63. ^ "Chứng nhận album Anh Quốc – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2024.
  64. ^ "Chứng nhận album Hoa Kỳ – Katy Perry – Witness" (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2023.
  65. ^ "Witness". Amazon. ngày 9 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2017.
  66. ^ "Witness [VINYL]". Amazon UK. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2017.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]