Xương rồng Nopal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Opuntia ficus-indica
Fichi d'India (Alcamo).jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
Bộ (ordo)Caryophyllales
Họ (familia)Cactaceae
Chi (genus)Opuntia
Phân chi (subgenus)Opuntia
Loài (species)O. ficus-indica
Danh pháp hai phần
Opuntia ficus-indica
(L.) Mill., 1768
Danh pháp đồng nghĩa[1]
  • Cactus decumanus Willd.
  • Cactus ficus-indica L.
  • Opuntia amyclaea Ten.
  • Opuntia cordobensis Speg.
  • Opuntia decumana (Willd.) Haw.
  • Opuntia gymnocarpa F. A. C. Weber
  • Opuntia hispanica Griffiths
  • Opuntia maxima Mill.
  • Opuntia megacantha Salm-Dyck
  • Opuntia paraguayensis K. Schum.

Xương rồng Nopal (Opuntia ficus-indica) là một loài xương rồng, một loài cây trồng quan trọng ở những vùng hoang mạc và bán hoang mạc trên thế giới. Nó được cho là có thể có nguồn gốc từ Mexico.[1] Tên thông dụng là cây lê gai (prickly pear), lê gai ngọt (sweet prickly pear), lê gai sung Ấn (Indian fig prickly pear), hoặc có thể gọi là lưỡi long không gai, xương rồng bánh không gai vì nó cùng chi với loài lưỡi long của VN là O. dillenii (vợt gai). Chú ý tránh nhầm lẫn với xương rồng tai thỏ O. microdasys (bunny-ear prickly pear - lê gai tai thỏ).

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa nopal đang trổ
Ra hoa
Quả cây nopal

Opuntia ficus-indica là thể đa bội , lưỡng tínhtự phối.[2] Vì các loài Opuntia phát triển trong môi trường bán khô hạn, yếu tố hạn chế chính trong môi trường của chúng là nước. Chúng đã phát triển một số khả năng thích nghi với điều kiện khô, đặc biệt là sự mọng nước. [3]

Các cây bụi lâu năm Xương rồng Nopal có thể phát triển lên đến chiều cao 3-5 m, dày, mọng nước và thuôn dài để hình thìa thân cây gọi cladodes. Nó có lớp biểu bì dạng sáp chống thấm nước và phản xạ ánh nắng mặt trời. Những quả chùm từ 1–2 năm tuổi sẽ ra hoa, màu sắc của quả từ xanh nhạt đến đỏ đậm.[2]

Cây ra hoa với ba màu rõ rệt: trắng, vàng và đỏ. Những bông hoa lần đầu tiên xuất hiện vào đầu tháng 5 đến đầu mùa hè ở Bắc bán cầu, và quả chín từ tháng 8 đến tháng 10. Quả ăn được, trừ lớp vỏ dày bên ngoài, sau khi để lạnh trong tủ lạnh vài giờ. Chúng có hương vị tương tự như dưa hấu. Phần thịt có màu đỏ tươi, tím, trắng hoặc vàng chứa nhiều hạt cứng nhỏ thường khó nuốt được, nhưng những người có vấn đề về tiêu hóa nên tránh dùng hạt.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu dùng của con người[sửa | sửa mã nguồn]

Nopal cắt lát

O.ficus-indica được tiêu thụ rộng rãi như thực phẩm. Quả của nó được thương mại hóa ở nhiều nơi trên thế giới, được ăn sống và có một trong những hàm lượng vitamin C cao nhất so với bất kỳ loại trái cây nào. “Lá” (hay cladodes - về mặt kỹ thuật là thân) được nấu chín và ăn như một loại rau được gọi là nopalitos.[4] Chúng được cắt thành dải, bỏ vỏ hoặc không, rồi chiên với trứng và ớt jalapeños , được phục vụ như một món ăn sáng. Chúng có kết cấu và hương vị giống như đậu que. Quả hoặc lá có thể được luộc chín, dùng sống hoặc trộn với nước quả, nấu trên chảo, dùng làm món ăn kèm với thịt gà, hoặc thêm vào bánh taco. Mứt và thạch được sản xuất từ ​​trái cây, giống như dâu tây và quả sung về màu sắc và hương vị. Người Mexico có thể sử dụng Opuntia như một thức uống có cồn được gọi là thuốc giảm đau ruột kết.

Ở Sicily, một loại rượu mùi có vị lê gai được gọi là ficodi được sản xuất, có hương vị giống như một loại rượu khai vị . Ở Malta, một loại rượu mùi có tên là bajtra (tên tiếng Malta có nghĩa là lê gai) được làm từ loại quả này, có thể được tìm thấy mọc hoang ở hầu hết các cánh đồng. Trên đảo Saint Helena, lê gai còn có tên gọi khác là rượu mùi chưng cất tại địa phương, Tungi Spirit .

Thức ăn gia súc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành chăn nuôi gia súc của Tây Nam Hoa Kỳ đã bắt đầu trồng O. ficus-indica như một nguồn thức ăn tươi cho gia súc. [2] [8] Cây xương rồng được trồng vừa làm nguồn thức ăn vừa làm hàng rào ranh giới. Gia súc được cho ăn nhiều loại xương rồng không có gai. [8] Miếng đệm xương rồng có hàm lượng chất khô và protein thô thấp, nhưng hữu ích như một chất bổ sung trong điều kiện khô hạn. Ngoài giá trị lương thực, độ ẩm còn giúp hạn chế việc tưới nước cho gia súc trong thời gian khô hạn. Nhiều loài động vật hoang dã sử dụng quả lê gai làm thức ăn.

Chống xói mòn đất[sửa | sửa mã nguồn]

Opuntia ficus-indica được trồng trong hàng rào để kiểm soát xói mòn giá rẻ nhưng hiệu quả ở lưu vực Địa Trung Hải. Dưới những hàng rào đó và các khu vực lân cận, tính chất vật lý của đất, nitơ và chất hữu cơ được cải thiện đáng kể. Tính ổn định cấu trúc của đất được nâng cao, giảm thiểu nước chảy và xói mòn, đồng thời tăng cường khả năng trữ nước và khả năng thấm. Việc trồng lê gai cũng có tác động tích cực đến sự phát triển thực vật của các loài khác bằng cách cải thiện các điều kiện môi trường khắc nghiệt tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm chiếm và phát triển của các loài thân thảo. [5]

Opuntia ficus-indica đang được sử dụng một cách thuận lợi ở Tunisia và Algeria để làm chậm và định hướng sự di chuyển của cát cũng như tăng cường phục hồi lớp phủ thực vật, giảm thiểu sự xuống cấp của các ruộng bậc thang đã xây dựng nhờ hệ thống rễ sâu và khỏe của nó.[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Opuntia ficus-indica (L.) Mill”. USDA GRIN.
  2. ^ a b Miller, =L. Opuntia ficus-indica. Ecocrop, FAO. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2015.
  3. ^ Mondragón-Jacobo and Pérez-González, C. and S. “Cactus (Opuntia spp.) as Forage”. FAO Plant Production and Protection Paper 169. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2015.
  4. ^ “Are prickly pear leaves edible?”. 27 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2019.
  5. ^ Neffar S, Chenchouni H, Beddiar A, Redjel N (2013). “Rehabilitation of Degraded Rangeland in Drylands by Prickly Pear (Opuntia ficus-indica L.) Plantations: Effect on Soil and Spontaneous Vegetation”. Ecologia Balkanica. 5 (2).
  6. ^ Darrell N. Ueckert. “Pricklypear ecology”. Texas Agricultural Experiment Station, Texas A&M University. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2020.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]