Bộ Cẩm chướng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Bộ Cẩm chướng
Dianthus caryophyllus L (Clove pink).JPG
Hoa cẩm chướng (Dianthus caryophyllus)
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
Bộ (ordo)Caryophyllales
Juss. ex Bercht. & J.Presl[1]
Các họ
Xem văn bản.

Bộ Cẩm chướng (danh pháp khoa học: Caryophyllales) là một bộ thực vật có hoa. Theo cập nhật ngày 8 tháng 4 năm 2007 của hệ thống APG II thì bộ này chứa 33 họ với khoảng 692 chi và khoảng 11.155 loài.

Caryophyllales chiếm khoảng 6,3% sự đa dạng của thực vật hai lá mầm (Magallön và ctv., 1999) và có thể đã xuất hiện từ thời kỳ của tầng Alba, 111-104 triệu năm trước (Ma) thuộc kỷ Phấn Trắng, mặc dù họ Rhabdodendraceae mãi tới khoảng 90-83 Ma (Wikström và ctv., 2001). Anderson và cộng tác viên (ctv) (2005: Rhabdodendraceae cũng được gộp vào) cho rằng các số liệu là 116-114 Ma cho nhóm phát sinh sớm của bộ Caryophyllales (nhóm thân cây) và 102-99 Ma cho nhóm phát sinh muộn (nhóm chỏm cây).

APG II và APG III[sửa | sửa mã nguồn]

Theo định nghĩa của hệ thống APG II năm 2003 thì bộ này bao gồm nhiều loài thực vật được nhiều người biết rõ như xương rồng, cẩm chướng, rau bina, củ dền, củ cải đường, đại hoàng, gọng vóbông giấy. Các chứng cứ phân tử và hóa sinh học gần đây đã giải quyết quan hệ giữa các nhánh được hỗ trợ tốt bổ sung trong phạm vi bộ Caryophyllales.

  • Bộ Caryophyllales

Website của APG còn ghi nhận họ Microteaceae, chỉ bao gồm 1 chi Microtea (tách ra từ họ Phytolaccaceae) với 9 loài ở Trung và Nam Mỹ[2], dựa theo kết quả nghiên cứu của Schäferhoff Bastian; Müller Kai F.; Borsch Thomas công bố tháng 12 năm 2009, sau khi đã có hệ thống APG III[3].

APG[sửa | sửa mã nguồn]

Carnegiea gigantea

Hệ thống APG II có một số thay đổi nhỏ so với hệ thống APG năm 1998

  • Bộ Caryophyllales
    Họ Achatocarpaceae
    Họ Aizoaceae
    Họ Amaranthaceae
    Họ Ancistrocladaceae
    Họ Asteropeiaceae
    Họ Basellaceae
    Họ Cactaceae
    Họ Caryophyllaceae
    Họ Didiereaceae
    Họ Dioncophyllaceae
    Họ Droseraceae
    Họ Drosophyllaceae
    Họ Frankeniaceae
    Họ Molluginaceae
    Họ Nepenthaceae
    Họ Nyctaginaceae
    Họ Physenaceae
    Họ Phytolaccaceae
    Họ Plumbaginaceae
    Họ Polygonaceae
    Họ Portulacaceae
    Họ Rhabdodendraceae
    Họ Sarcobataceae
    Họ Simmondsiaceae
    Họ Stegnospermataceae
    Họ Tamaricaceae

Cronquist[sửa | sửa mã nguồn]

Chenopodium album

Hệ thống Cronquist năm 1981 cũng công nhận bộ này, với định nghĩa sau:

  • Bộ Caryophyllales
    Họ Achatocarpaceae
    Họ Aizoaceae
    Họ Amaranthaceae
    Họ Basellaceae
    Họ Cactaceae
    Họ Caryophyllaceae
    Họ Chenopodiaceae
    Họ Didiereaceae
    Họ Nyctaginaceae
    Họ Phytolaccaceae
    Họ Portulacaceae
    Họ Molluginaceae

Khác biệt với các bộ mà APG công nhận là do khái niệm về "bộ". APG ưa thích các bộ và họ lớn vì thế bộ Caryophyllales theo nghĩa của APG có thể so sánh với phân lớp Caryophyllidae theo nghĩa của Cronquist.

Một phần của khác biệt nằm ở chỗ các họ nào được công nhận. Các chi, loài thực vật trong các họ Stegnospermataceae và Barbeuiaceae đã được gộp chung trong họ Phytolaccaceae trong hệ thống Cronquist. Họ Chenopodiaceae (cũng được Cronquist công nhận) được APG đưa vào trong họ Amaranthaceae.

Các bộ phận mới trong bộ này (theo nghĩa của APG) là các họ Asteropeiaceae và Physenaceae, mỗi họ chỉ có một chi, cùng hai chi lấy từ bộ Nepenthales của hệ thống Cronquist.

Cũ hơn[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ thống cũ hơn, chẳng hạn hệ thống Wettstein trong phiên bản cuối cùng năm 1935 hay hệ thống Engler phiên bản năm 1964 cũng có bộ tương tự như bộ này dưới tên gọi Centrospermae.

Phát sinh chủng loài[sửa | sửa mã nguồn]

Cây phát sinh chủng loài dưới đây ở bên trái lấy theo APG III (vị trí của 2 họ GisekiaceaeMicroteaceae là chưa rõ ràng, nhưng Microteaceae có quan hệ chị em với nhánh chứa ba họ Caryophyllaceae - Achatocarpaceae - Amaranthaceae và Gisekiaceae có quan hệ chị em với nhánh chứa 3 họ Sarcobataceae - Phytolaccaceae - Nyctaginaceae) còn ở bên phải là lấy theo Schäferhoff Bastian và ctv,[3]. Cây phát sinh chủng loài bên phải cho thấy họ Phytolaccaceae là cận ngành, trong khi họ Molluginaceae là đa ngành.

 Caryophyllales 

Droseraceae

Nepenthaceae

Drosophyllaceae

Ancistrocladaceae

Dioncophyllaceae

Frankeniaceae

Tamaricaceae

Plumbaginaceae

Polygonaceae

Rhabdodendraceae

Simmondsiaceae

Asteropeiaceae

Physenaceae

Caryophyllaceae

Achatocarpaceae

Amaranthaceae

Stegnospermataceae

Limeaceae

Lophiocarpaceae

Barbeuiaceae

Aizoaceae

Phytolaccaceae

Sarcobataceae

Nyctaginaceae

Molluginaceae

Halophytaceae

Basellaceae

Montiaceae

Didiereaceae

Talinaceae

Portulacaceae

Anacampserotaceae

Cactaceae

 Caryophyllales 
nhánh polygonid (70) 
 96 
 61 

Droseraceae

Nepenthaceae

 99 

Drosophyllaceae

 99 

Ancistrocladaceae

Dioncophyllaceae

 98 

Plumbaginaceae

Polygonaceae

 nhánh caryophyllid (58) 

Frankeniaceae

Tamaricaceae

 92 

Simmondsiaceae

Microteaceae

 71 

Stegnospermataceae

 91 
 66 

Caryophyllaceae

Achatocarpaceae

 99 

Amaranthaceae

 70 

Lophiocarpaceae

Limeaceae

Molluginaceae (Hypertelis)

Aizoaceae

Gisekiaceae

 68 

Phytolaccaceae (Agdestis)

Sarcobataceae

Nyctaginaceae

Phytolaccaceae (Phytolacca)

 84 

Phytolaccaceae (còn lại)

69 

Molluginaceae (Mollugo)

97 

Montiaceae

Halophytaceae

67 

Basellaceae

98 

Didiereaceae

88 

Portulacaceae

Anacampserotaceae

Talinaceae

93 

Cactaceae

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Angiosperm Phylogeny Group (2009). “An update of the Angiosperm Phylogeny Group classification for the orders and families of flowering plants: APG III” (PDF). Botanical Journal of the Linnean Society 161 (2): 105–121. doi:10.1111/j.1095-8339.2009.00996.x. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2013. 
  2. ^ Microteaceae trên website của APG. Tra cứu 26-1-2011.
  3. ^ a ă Schäferhoff B. và ctv., 2009, Caryophyllales phylogenetics: disentangling Phytolaccaceae and Molluginaceae and description of Microteaceae as a new isolated family, Willdenowia - Annals of the Botanic Garden and Botanical Museum Berlin-Dahlem, Volume 39, Number 2, 12-2009, tr. 209-228(20)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]