Zanclus cornutus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Zanclus cornutus
Zanclus cornutus4.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Nhánh Actinopteri
Phân lớp (subclass)Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)Teleostei
Nhánh Osteoglossocephalai
Nhánh Clupeocephala
Nhánh Euteleosteomorpha
Nhánh Neoteleostei
Nhánh Eurypterygia
Nhánh Ctenosquamata
Nhánh Acanthomorphata
Nhánh Euacanthomorphacea
Nhánh Percomorphaceae
Nhánh Eupercaria
Bộ (ordo)Acanthuriformes
Họ (familia)Zanclidae
Bleeker, 1877
Chi (genus)Zanclus
Cuvier in Cuvier and Valenciennes, 1831
Loài (species)Z. cornutus
Danh pháp hai phần
Zanclus cornutus
(Linnaeus, 1758)

Cá thù lù (Danh pháp khoa học: Zanclus cornutus) là một loài cá còn sinh tồn duy nhất trong chi ZanclusZanclidae. Hiện nay các cá thể của loài này được nuôi làm cá cảnh, sự phổ biến của chúng tăng lên một phần nhờ bộ phim Finding Nemo.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Loài cá này sinh sống trong khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, từ vùng biển Đông Phi tới các đảo Rapa và Ducie, về phía bắc tới miền nam Nhật Bản và quần đảo Hawaii, về phía nam tới đảo Lord Howe. Ở Đông Thái Bình Dương: từ miền nam vịnh California tới Peru[1]. Hiện nay, chúng la một trong những loài cá nhiệt đới di cư về vùng cực vì biến đổi khí hậu, chúng đủ khả năng để di chuyển và xâm lấn vùng nước phía Nam. Đây là loài cá nhiệt đới không hề có khả năng tương thích với nhiệt độ quả thấp. Tuy nhiên hình dáng cơ thể của Moorish Idol sẽ không làm ảnh hưởng tới quần thể sinh vật sống tại vùng nước lạnh[2].

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Zanclidae theo truyền thống được xếp trong bộ Cá vược (Perciformes)[3], nhưng những kết quả nghiên cứu phát sinh chủng loài gần đây của Betancur và ctv đã xếp nó trong bộ mới lập là Acanthuriformes[4][5].

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Loài cá này đặc trưng bởi các vạch sọc màu trắng, vàng, đen ở thân, khó có thể phân biệt sự khác nhau giữa con đực và con cái. Chúng thường xuyên tụ tập thành bầy dọc theo các bãi đá ngầm và miễn là có một cái bể đủ lớn. Loại cá biển này rất khó thích nghi và khó nuôi. Hiếm thấy sự tồn tại lâu dài của loài này trong các bể cá tại nhà.

Ở đại dương, chúng là loài ăn thực vật với tảo biển và bọt biển, chúng là loài động vật ăn tạp, bao gồm cả tảo biển và bọt biển. Chúng là những kẻ ăn uống khá cầu kỳ và vấn đề có thể trở nên tồi tệ, những cái miệng nhô ra của chúng có thể bị tổn thương khi thu nhặt và vận chuyển thức ăn, khi nuôi chúng có thể ăn thức ăn đông lạnh hoặc thức ăn sống dành cho cá biển. Chúng có thể ốm vì nhiễm hầu hết các bệnh của cá biển đặc biệt nếu chúng đang bỏ ăn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thông tin "Zanclus cornutus" trên FishBase, chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. Phiên bản tháng 11 năm 2014.
  2. ^ Loài cá nhiệt đới di cư về vùng cực vì biến đổi khí hậu
  3. ^ Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2014). "Zanclidae" trên FishBase. Phiên bản tháng 11 năm 2014.
  4. ^ Ricardo Betancur-R., Richard E. Broughton, Edward O. Wiley, Kent Carpenter, J. Andrés López, Chenhong Li, Nancy I. Holcroft, Dahiana Arcila, Millicent Sanciangco, James C Cureton II, Feifei Zhang, Thaddaeus Buser, Matthew A. Campbell, Jesus A Ballesteros, Adela Roa-Varon, Stuart Willis, W. Calvin Borden, Thaine Rowley, Paulette C. Reneau, Daniel J. Hough, Guoqing Lu, Terry Grande, Gloria Arratia, Guillermo Ortí, 2013, The Tree of Life and a New Classification of Bony Fishes, PLOS Currents Tree of Life. 18-04-2013. Ấn bản 1, doi:10.1371/currents.tol.53ba26640df0ccaee75bb165c8c26288.
  5. ^ Betancur-R, R., E. Wiley, N. Bailly, M. Miya, G. Lecointre, and G. Ortí. 2014. Phylogenetic Classification of Bony Fishes - Version 3, 30-7-2014.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]