Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Georg von Kameke”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
nKhông có tóm lược sửa đổi
nKhông có tóm lược sửa đổi
Dòng 2: Dòng 2:
'''Arnold Karl Georg von Kameke''' ([[14 tháng 4]] năm [[1817]], tại [[Pasewalk]] – [[12 tháng 10]] năm [[1893]], tại [[Berlin]]) là một [[Thượng tướng Bộ binh (Đức)|Thượng tướng Bộ binh]] và [[Bộ trưởng Chiến tranh Phổ|Bộ trưởng Chiến tranh]] của [[Phổ (quốc gia)|Phổ]].
'''Arnold Karl Georg von Kameke''' ([[14 tháng 4]] năm [[1817]], tại [[Pasewalk]] – [[12 tháng 10]] năm [[1893]], tại [[Berlin]]) là một [[Thượng tướng Bộ binh (Đức)|Thượng tướng Bộ binh]] và [[Bộ trưởng Chiến tranh Phổ|Bộ trưởng Chiến tranh]] của [[Phổ (quốc gia)|Phổ]].


Kameke đã khởi đầu sự nghiệp [[quân sự]] của mình vào năm [[1834]] trong khu [[công binh]] số 2 tại [[Szczecin|Stettin]]. Vào năm [[1836]], ông trở thành một [[sĩ quan]] trong [[quân đoàn]] công binh và vào năm [[1850]], sau khi được phong cấp [[Đại úy]], ông được đưa vào [[Bộ Tổng tham mưu Đức|Bộ Tổng tham mưu]]. Vào năm [[1861]], ông được lên chức [[Đại tá]] và trao quyền [[chỉ huy quân sự|chỉ huy]] [[Trung đoàn Phóng lựu "Vua Friedrich" (Schlesien số 2) số 11]]<ref>Georg v. Alten (Hrsg.): ''Handbuch für Heer und Flotte'', Band 5, Deutsches Verlagshaus Bong & Co., Berlin 1913, S. 243 f.</ref>, và vào năm [[1863]] ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của ''[[Quân đoàn VIII (Đế quốc Đức)|Quân đoàn VIII]]''. Vào năm [[1865]], ông trở thành một [[Thiếu tướng]] và không lâu sau đó ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của ''[[Quân đoàn II (Đế quốc Đức)|Quân đoàn]]''.
Ông là một thành viên trong [[Kameke (dòng họ quý tộc)|dòng họ quý tộc lâu đời Kameke]] tại Pommern. Ông là con trai của cố [[Trung tướng]] [[Georg Christian Friedrich von Kameke]] ([[1770]] &ndash; [[1837]]). Người em trai của ông là [[Hermann von Kameke|Hermann Friedrich Wilhelm]] ([[1819]] &ndash; [[1889]]) cũng theo đuổi một sự nghiệp [[quân sự]] được thăng đến [[Thượng tướng]] [[Bộ binh]]. Sau khi học trung học ở [[Szczecin|Stettin]], Kameke đã khởi đầu sự nghiệp [[quân sự]] của mình vào năm [[1834]] trong khu [[công binh]] số 2 tại thành phố này. Vào năm [[1836]], ông trở thành một [[sĩ quan]] trong [[quân đoàn]] công binh và vào năm [[1850]], sau khi được phong cấp [[Đại úy]], ông được đưa vào [[Bộ Tổng tham mưu Đức|Bộ Tổng tham mưu]]. Vào năm [[1861]], ông được lên chức [[Đại tá]] và trao quyền [[chỉ huy quân sự|chỉ huy]] [[Trung đoàn Phóng lựu "Vua Friedrich" (Schlesien số 2) số 11]]<ref>Georg v. Alten (Hrsg.): ''Handbuch für Heer und Flotte'', Band 5, Deutsches Verlagshaus Bong & Co., Berlin 1913, S. 243 f.</ref>, và vào năm [[1863]] ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của ''[[Quân đoàn VIII (Đế quốc Đức)|Quân đoàn VIII]]''. Vào năm [[1865]], ông trở thành một [[Thiếu tướng]] và không lâu sau đó ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của ''[[Quân đoàn II (Đế quốc Đức)|Quân đoàn]]''.


Ông đã tham gia trong cuộc [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm [[1866]] với cương vị là Tham mưu trưởng của ''Quân đoàn II''. Vào năm [[1867]], ông được bổ nhiệm làm tổng chỉ huy cua quân đoàn công binh; vào năm [[1868]] ông được phong hàm [[Trung tướng]].
Ông đã tham gia trong cuộc [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm [[1866]] với cương vị là Tham mưu trưởng của ''Quân đoàn II''. Vào năm [[1867]], ông được bổ nhiệm làm tổng chỉ huy của quân đoàn công binh; vào năm [[1868]] ông được phong hàm [[Trung tướng]].


Trong cuộc [[Chiến tranh Pháp-Phổ|Chiến tranh Pháp-Đức]] ([[1870]] &ndash; [[1871]]), Kameke chỉ huy ''[[Sư đoàn số 14 (Đế quốc Đức)|Sư đoàn Bộ binh số 14]]'' và chiến đấu tại [[Trận Spicheren]], [[Trận Borny-Colombey]] và [[Trận Gravelotte]]. Sau khi [[quân đội Phổ]] &ndash; [[Đức]] [[Cuộc vây hãm Metz|hạ được]] [[Hệ thống công sự tại Metz|pháo đài]] [[Metz]], ông xua quân chinh phạt [[Cuộc vây hãm Thionville|Thionville]], [[Cuộc vây hãm Montmédy|Montmédy]] và [[Cuộc vây hãm Mézières|vây hãm]] [[Charleville-Mézières|Mézières]]. Nhưng trước khi Méziéres thất thủ, ông được Bộ Tổng Chỉ huy quân đội Đức triệu tập đến thành phố [[Versailles]] vào ngày [[23 tháng 12]] năm [[1870]] để chỉ đạo cuộc tấn công của lực lượng công binh nhằm vào [[Paris]]. Nhờ những cống hiến của mình đối với quân lực [[Vương quốc Phổ|Phổ]] trong cuộc [[chiến tranh]] này, ông đã được ban thưởng 100.000 [[thaler]]. Vào ngày [[18 tháng 12]] năm [[1871]], ông được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng quân đoàn công binh và tướng thanh tra của các [[pháo đài]].
Trong cuộc [[Chiến tranh Pháp-Phổ|Chiến tranh Pháp-Đức]] ([[1870]] &ndash; [[1871]]), Kameke chỉ huy ''[[Sư đoàn số 14 (Đế quốc Đức)|Sư đoàn Bộ binh số 14]]'' và chiến đấu tại [[Trận Spicheren]], [[Trận Borny-Colombey]] và [[Trận Gravelotte]]. Sau khi [[quân đội Phổ]] &ndash; [[Đức]] [[Cuộc vây hãm Metz|hạ được]] [[Hệ thống công sự tại Metz|pháo đài]] [[Metz]], ông xua quân chinh phạt [[Cuộc vây hãm Thionville|Thionville]], [[Cuộc vây hãm Montmédy|Montmédy]] và [[Cuộc vây hãm Mézières|vây hãm]] [[Charleville-Mézières|Mézières]]. Nhưng trước khi Méziéres thất thủ, ông được Bộ Tổng Chỉ huy quân đội Đức triệu tập đến thành phố [[Versailles]] vào ngày [[23 tháng 12]] năm [[1870]] để chỉ đạo cuộc tấn công của lực lượng công binh nhằm vào [[Paris]]. Nhờ những cống hiến của mình đối với quân lực [[Vương quốc Phổ|Phổ]] trong cuộc [[chiến tranh]] này, ông đã được ban thưởng 100.000 [[thaler]]. Vào ngày [[18 tháng 12]] năm [[1871]], ông được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng quân đoàn công binh và tướng thanh tra của các [[pháo đài]].

Phiên bản lúc 14:39, ngày 17 tháng 4 năm 2013

Chân dung Georg von Kameke.

Arnold Karl Georg von Kameke (14 tháng 4 năm 1817, tại Pasewalk12 tháng 10 năm 1893, tại Berlin) là một Thượng tướng Bộ binhBộ trưởng Chiến tranh của Phổ.

Ông là một thành viên trong dòng họ quý tộc lâu đời Kameke tại Pommern. Ông là con trai của cố Trung tướng Georg Christian Friedrich von Kameke (17701837). Người em trai của ông là Hermann Friedrich Wilhelm (18191889) cũng theo đuổi một sự nghiệp quân sự được thăng đến Thượng tướng Bộ binh. Sau khi học trung học ở Stettin, Kameke đã khởi đầu sự nghiệp quân sự của mình vào năm 1834 trong khu công binh số 2 tại thành phố này. Vào năm 1836, ông trở thành một sĩ quan trong quân đoàn công binh và vào năm 1850, sau khi được phong cấp Đại úy, ông được đưa vào Bộ Tổng tham mưu. Vào năm 1861, ông được lên chức Đại tá và trao quyền chỉ huy Trung đoàn Phóng lựu "Vua Friedrich" (Schlesien số 2) số 11[1], và vào năm 1863 ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của Quân đoàn VIII. Vào năm 1865, ông trở thành một Thiếu tướng và không lâu sau đó ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của Quân đoàn.

Ông đã tham gia trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ năm 1866 với cương vị là Tham mưu trưởng của Quân đoàn II. Vào năm 1867, ông được bổ nhiệm làm tổng chỉ huy của quân đoàn công binh; vào năm 1868 ông được phong hàm Trung tướng.

Trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức (18701871), Kameke chỉ huy Sư đoàn Bộ binh số 14 và chiến đấu tại Trận Spicheren, Trận Borny-ColombeyTrận Gravelotte. Sau khi quân đội PhổĐức hạ được pháo đài Metz, ông xua quân chinh phạt Thionville, Montmédyvây hãm Mézières. Nhưng trước khi Méziéres thất thủ, ông được Bộ Tổng Chỉ huy quân đội Đức triệu tập đến thành phố Versailles vào ngày 23 tháng 12 năm 1870 để chỉ đạo cuộc tấn công của lực lượng công binh nhằm vào Paris. Nhờ những cống hiến của mình đối với quân lực Phổ trong cuộc chiến tranh này, ông đã được ban thưởng 100.000 thaler. Vào ngày 18 tháng 12 năm 1871, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng quân đoàn công binh và tướng thanh tra của các pháo đài.

Vào ngày 9 tháng 11 năm 1873, Kameke kế nhiệm Albrecht von Roon làm Bộ trưởng Chiến tranh. Vào ngày 22 tháng 3 năm 1875, ông được bổ nhiệm làm Thượng tướng Bộ binh. Vào ngày 3 tháng 3 năm 1883, ông rời nhiệm sở và lui về điền trang của mình, Hohenfelde gần Kolberg tại Pommern.

Kameke đã được tặng thưởng Huân chương Hiệp sĩ Đại bàng Đen và Huân chương Quân công (Pour le mérite) gắn Lá sồi của Phổ.[2] Ngoài ra, ông cũng được tặng thưởng Huân chương Hiệp sĩ Thánh Gioan. [3]

Chú thích

  1. ^ Georg v. Alten (Hrsg.): Handbuch für Heer und Flotte, Band 5, Deutsches Verlagshaus Bong & Co., Berlin 1913, S. 243 f.
  2. ^ Genealogisches Handbuch des Adels. Bd. A VII. C. A. Starke-Verlag, Limburg 1965, Bildunterschrift zu Bild Kamekes nach S. 144.
  3. ^ Genealogisches Handbuch des Adels. Band A VII. C.A. Starke-Verlag, Limburg 1965, S. 147.

Tài liệu tham khảo

Chức vụ chính trị
Tiền nhiệm:
Albrecht von Roon
Bộ trưởng Chiến tranh Phổ
18731883
Kế nhiệm:
Paul Bronsart von Schellendorf