Xoáy thuận nhiệt đới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bão nhiệt đới)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xoáy thuận Catarina, một trong những xoáy thuận nhiệt đới hiếm thấy ở Nam Đại Tây Dương nhìn từ Trạm không gian quốc tế ngày 26 tháng 3 năm 2004.

Xoáy thuận nhiệt đới là những hệ thống áp thấp được hình thành trên các vùng đại dương nhiệt đớihoàn lưu xoáy thuận (ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc Bán cầu). Các xoáy thuận nhiệt có tốc gió duy trì cực đại nhỏ hơn 17 m/s được gọi là áp thấp nhiệt đới (tropical depression), từ 17 m/s đến 33 m/s được gọi là bão nhiệt đới (tropical cyclone hoặc tropical storm).

Ở Việt Nam, các xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ vào Biển Đông thường khá yếu. Bão được phân loại dựa trên cấp gió Beaufort. Nó bao gồm áp thấp nhiệt đới (Có sức gió mạnh nhất từ cấp 6 đến cấp 7 và có thể có gió giật.) và bão nhiệt đới (Có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và có thể có gió giật. Bão từ cấp 10 đến cấp 11 được gọi là bão mạnh; từ cấp 12 trở lên được gọi là bão rất mạnh). Ngoài ra còn có những siêu bão với sức gió lớn hơn cấp 15.

Cấu trúc và phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Đường đi tô màu theo độ lớn (theo thang bão Saffir-Simpson) của tất cả các xoáy thuận nhiệt đới trên thế giới từ năm 1985 đến năm 2005.

Một cơn bão nhiệt đới trưởng thành bao gồm một hoàn lưu ngang gần đối xứng và một hoàn lưu đứng. Các hoàn lưu này đôi khi được gọi là hoàn lưu sơ cấp và hoàn lưu thứ cấp. Sự kết hợp của 2 hoàn lưu tạo thành một dạng chuyển động xoáy ốc. Không khí hội tụ theo hình xoắn ốc vào khu vực trung tâm của bão ở mực thấp, hầu hết dòng thổi vào bị giới hạn trong lớp biên mỏng có độ dày cỡ 500 m đến 1000 m.

Mắt bão là khu vực trong tâm của bão, nơi không có mây hoặc ít mây, lặng gió, có dòng giáng yếu. Thông thường chỉ có những cơn bão mạnh trường thành mới hình thành mắt bão rõ nét.

Hoàn lưu sơ cấp của xoáy thuận nhiệt đới mạnh nhất ở các mực thấp tại vùng mây thành mắt bão và giảm dần theo cả độ cao và bán kính. Trường nhiệt độ thể hiện một cấu trúc lõi nóng với nhiệt độ lớn nhất ở trong mắt bão do sự giải phóng ẩn nhiệt khi không khí nâng lên trong thành mây mắt bão.

Dòng thổi ra của xoáy thuận nhiệt đới nằm ở nửa trên tầng bình lưu với hoàn lưu xoáy nghịch ở ngoài bán kính vài trăm km.

Cơ chế[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Bão hình thành được phải hội đủ các điều kiện cần thiết như nhiệt độ của nước biển phải cao (tính từ mặt nước đến độ sâu hơn 50 mét ít nhất là trên 26.5°C): Những nơi có bão biển thường ở trong vùng biển nhiệt đới ở cả hai bán cầu: Bán cầu Bắc và Bán cầu Nam, khí áp của khí quyển phải cực thấp để thu hút năng lượng từ các khu vực áp cao chung quanh và bão phải được duy trì nghĩa là không bị vật cản khi có lực ma sát (như khi đổ bộ vào đất liền). Do đó, bề mặt đại dương hoặc biển nhiệt đới, trong khoảng 10⁰ - 30⁰ vĩ tuyến Bắc và Nam, ở phía Tây các đại dương, nơi có lực Coriolis mạnh và có hiện tượng các dương lưu nóng duy trì nhiệt độ cao cho bão hình thành. Khu vực tam giác Bermuda (Tam Giác Quỷ) ở miền Tây Đại Tây Dương là một thí dụ điển hình, nơi có nhiều siêu bão cấp hành tinh.

Sự tăng cường[sửa | sửa mã nguồn]

Năng lượng của bão được tăng cường vì nhiều nguyên nhân: Do các luồng không khí ẩm từ các khu áp cao xung quanh hút vào, hoặc do kết hợp với sóng Đông, nơi có các khu áp thấp nhiệt đới xâm nhập vào áp cao chí tuyến, hoặc mạnh lên khi đi vào vùng có dòng biển nóng... Thường thì năng lượng của bão biển giảm khi đi vào đất liền vì tốc độ của gió giảm đi do ma sát với đất liền.

Quĩ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Tâm bão nhiệt đới thường di chuyển theo quĩ đạo parabol, ở bắc bán cầu, vào giai đoạn mới hình thành, hầu hết các cơn bão đều di chuyển theo hướng tây, sau đó tiếp tục di chuyển theo hướng tây bắc và giai đoạn sau cùng, nếu không bị suy yếu, sẽ di chuyển theo hướng đông bắc. Ở nam bán cầu, ban đầu bão di chuyển về hướng tây, sau chuyển về tây nam, rồi đến hướng đông nam. Nhưng cũng có những cơn bão di chuyển theo quĩ đạo rất phức tạp, nói chung quĩ đạo của bão phụ thuộc vào sự phân bố khí áp bề mặt trong khu vực lân cận.

Dự báo[sửa | sửa mã nguồn]

Tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Các xoáy thuận nhiệt đới tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Bão Bhola năm 1970 là cơn bão có sức hủy diệt gây ra hậu quả nặng nề nhất trong lịch sử. Bão đã đổ bộ vào vùng đồng bằng sông Hằng ở Ấn ĐộBangladesh, làm ít nhất 300 nghìn người đã chết,[1] 100 nghìn người mất tích, và ảnh hưởng đến gần 1 triệu người[2]. Ở Trung Quốc, bão Nina năm 1975 gây mưa lớn đã làm vỡ đập Bản Kiều và giết chết hơn 100 nghìn người.[3] Siêu bão năm 1780 ở khu vực Bắc Đại Tây Dương đã giết chết khoảng 22.000 người ở Antilles Lesser..[4] Bão nhiệt đới Thelma vào tháng 11 năm 1991 đã giết chết hàng ngàn người Philippines.[5] Cơn bão Katrina đổ bộ vào Hoa Kỳ làm 1.836 người chết, thiệt hại tài sản lên tới 81,2 tỉ đô la (2008),[6] với tổng thiệt hại hơn $100 tỉ USD (2005). Bão Mitch làm 10.000 người thiệt mạng ở Mỹ Latinh.

Siêu bão dữ dội nhất trong lịch sử là siêu bão Tip ở Tây Bắc Thái Bình Dương năm 1979, với mức áp suất thấp kỉ lục là 870 hPa (652,5 mmHg) và tốc độ gió duy trì cực đại 165 hải lý trên giờ (85 m/s) (tức 310 km/h duy trì gió trong 1 phút)..[7] Bão Keith ở Thái Bình Dương và cơn bão Camille và Allen ở Bắc Đại Tây Dương cũng có cùng sức gió với bão Tip.[8] Siêu bão Nancy năm 1961 đã ghi nhận tốc độ gió kỉ lục 185 hải lý trên giờ (95 m/s) (tức 346 km/h duy trì gió trong 1 phút), nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy tốc độ gió từ những năm 1940 đến những năm 1960 đã đo sức gió quá cao, không chính xác, do vậy bão Nancy có thể có sức gió thấp hơn.[9] Bão Paka năm 1997 ở Guam được ghi nhận gió giật lên tới 205 hải lý (105 m/s) (tức 378 km/h).[10]

Siêu bão Tip còn giữ kỉ lục là cơn bão lớn nhất với sức gió trên 64 km/h trải rộng với đường kính 2170 km. Cơn bão nhỏ nhất được ghi nhận, cơn bão nhiệt đới Marco, hình thành trong tháng 10 năm 2008, ở vịnh Mexico với sức gió trên 64 km/h trải rộng với đường kính 37 km.

Bão John là cơn bão nhiệt đới tồn tại lâu nhất và có đường đi dài nhất, kéo dài 31 ngày trong năm 1994 đi được 13280 km. Bão Rewa năm 1993-1994 có đường đi dài nhất ở Nam Bán Cần, 8920 km.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chris Landsea (1993). “Which tropical cyclones have caused the most deaths and most damage?”. Hurricane Research Division. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2007. 
  2. ^ Lawson (2 tháng 11 năm 1999). “South Asia: A history of destruction”. British Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2007. 
  3. ^ Linda J. Anderson-Berry. Fifth International Workshop on Tropycal Cyclones: Topic 5.1: Societal Impacts of Tropical Cyclones. Retrieved on 2008-02-26.
  4. ^ National Hurricane Center (22 tháng 4 năm 1997). “The Deadliest Atlantic Tropical Cyclones, 1492-1996”. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2006. 
  5. ^ Joint Typhoon Warning Center. “Typhoon Thelma (27W)” (PDF). 1991 Annual Tropical Cyclone Report. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2006. 
  6. ^ Knabb, Richard D., Jamie R. Rhome and Daniel P. Brown (20 tháng 12 năm 2005). “Tropical Cyclone Report: Hurricane Katrina: 23–30 August 2005” (PDF). National Hurricane Center. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2006. 
  7. ^ George M. Dunnavan & John W. Dierks (1980). “An Analysis of Super Typhoon Tip (October 1979)” (PDF). Joint Typhoon Warning Center. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2007. 
  8. ^ Ferrell, Jesse (26 tháng 10 năm 1998). “Hurricane Mitch”. Weathermatrix.net. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2006. 
  9. ^ Atlantic Oceanographic and Meteorological Laboratory, Hurricane Research Division. “Frequently Asked Questions: Which is the most intense tropical cyclone on record?”. NOAA. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2006. 
  10. ^ Houston, Sam, Greg Forbes and Arthur Chiu (17 tháng 8 năm 1998). “Super Typhoon Paka's (1997) Surface Winds Over Guam”. National Weather Service. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2006. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]