Cherish (bài hát của Madonna)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Cherish"
Đĩa đơn của Madonna
từ album Like a Prayer
Mặt B "Supernatural" (trước đây là track chưa phát hành)
Phát hành 1 tháng 8, 1989 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Định dạng CD, 7", 12", Cassette
Thể loại Pop
Thời lượng 5:03 (phiên bản album)
4:03 (phiên bản 7")
3:51 (phiên bản The Immaculate Collection)
3:52 (phiên bản Celebration)
Hãng đĩa Sire, Warner Bros.
Sáng tác Madonna
Patrick Leonard
Sản xuất Madonna
Patrick Leonard
Chứng nhận Vàn (Australia),br> Bạc (Liên hiệp Anh)
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Express Yourself"
(1989)
"Cherish"
(1989)
"Oh Father"
(1989)
Thứ tự bài hát của Like a Prayer
"Promise to Try"
(5)
"Cherish"
(6)
"Dear Jessie"
(7)
Thứ tự bài hát của The Immaculate Collection
"Express Yourself"
(13)
"Cherish"
(14)
"Vogue"
(15)
Nhạc mẫu
trợ giúpthông tin

"Cherish" là một bài hát của nữ ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna, được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba trích từ album phòng thu năm 1989 Like a Prayer của cô. Bài hát này cũng được đưa vào 2 album tổng hợp: The Immaculate Collection (1990) và Celebration phiên bản 2 đĩa. Được viết và sản xuất bởi Madonna và Patrick Leonard, "Cherish" được xây dựng xung quanh các chủ đề về tình yêu và mối quan hệ, với cốt truyện Romeo và Juliet của William Shakespeare là một trong những nguồn cảm hứng lớn.

Sau khi phát hành, "Cherish" đã nhận được phản hồi tích cực từ các nhà phê bình, những người đã rất ngạc nhiên bởi sự thay đổi về nội dung và hình ảnh âm nhạc nhẹ nhàng hơn của Madonna, không giống như đĩa đơn trước đây trong Like a Prayer kết hợp các chủ đề như tôn giáo và tình dục. Họ cũng so sánh lời bài hát với những lời nói của Juliet, trong Romeo và Juliet. "Cherish" cũng đạt thành công lớn về thương mại, khi đạt top 10 ở Úc, Bỉ, Canada, Ireland, Ý, Anh và bảng xếp hạng toàn châu Âu. Trên Billboard Hot 100 (Mỹ), "Cherish" đạt vị trí á quân, và là đĩa đơn thứ 16 liên tiếp của Madonna nằm trong top 5, giúp cô thiết lập một kỷ lục trong lịch sử bảng xếp hạng này.

Video của bài hát được thực hiện dưới tông nền đen trắng, đạo diễn bởi nhiếp ảnh gia Herb Ritts. Video được quay tại tại bãi biển Paradise Cove ở Malibu, California. Trong video, Madonna hát và diễn trước ống kính, trong khi ba diễn viên khác ăn mặc như Mermen bơi trong và ngoài biển. Các viện nghiên cứu lưu ý rằng Mermen đã trở thành biểu tượng cho cộng đồng người đồng tính và sự áp bức mà họ phải đối mặt. Madonna biểu diễn "Cherish" trong tour diễn năm 1990 cô, Blond Ambition World Tour, nơi các vũ công của cô ăn mặc như Mermen

Danh sách track và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cassette single
  1. "Cherish" (7" Version) – 4:03
  2. "Supernatural" – 5:12
  • U.S. 7" vinyl single
  1. "Cherish" (7" Version) – 4:03
  2. "Supernatural" – 5:12
  • U.K. 7" vinyl single
  1. "Cherish" – 5:03
  2. "Supernatural" – 5:12
  • 12" vinyl single
  1. "Cherish" (Extended Version) – 6:18
  2. "Cherish" (7" Version) – 4:03
  3. "Supernatural" – 5:12

next supernatural 1989 dub mix

Phiên bản chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Album Version (5:03)
  • 7" Version/Fade (4:03)
  • Extended Version (6:18)
  • The Immaculate Collection Version (3:52)
  • Celebration Version (3:52)
  • Video Version (4:33)

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1989) Vị trí
cao nhất
Australia ARIA Singles Chart 4
Austrian Singles Chart 16
Belgian Flemmish VRT Top 30 7
Canadian Singles Chart[1] 1
Dutch Top 40 15
Eurochart Hot 100 Singles[2] 3
French SNEP Singles Chart 15
German Singles Chart[3] 16
Irish Singles Chart[4] 2
Italian FIMI Singles Chart[5] 4
Norwegian VG-lista Singles Chart 10
Spanish Singles Chart 10
Swiss Singles Chart 10
UK Singles Chart 3
U.S. Billboard Hot 100[6] 2
U.S. Billboard Hot Adult Contemporary[7] 1

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1989) Vị trí
Australian Singles Chart[8] 47
Canadian RPM Singles Chart[9] 9
Italian Singles Chart[10] 15
US Billboard Hot 100[11] 59
US Hot Adult Contemporary[12] 31

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Top Singles - Volume 50, No. 25, October 16 1989
  2. ^ “Hits of the World: European Hot 100 Singles”. Billboard 98 (41): 58. 25 tháng 7 năm 1989. ISSN 0006-2510. 
  3. ^ “Chartverfolgung / Madonna / Single” (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011. 
  4. ^ “The Irish Charts – All There Is To Know”. Irish Recorded Music Association. 7 tháng 9 năm 1989. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011. 
  5. ^ “Madonna: Discografia Italiana” (bằng Italian). HitParadeItalia. 1984–1999. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  6. ^ “The Billboard Hot 100: Week Ending October 7, 1989”. Billboard. 7 tháng 10 năm 1989. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011. 
  7. ^ “Hot Adult Contemporary: Week Ending October 7, 1989”. Billboard. 7 tháng 10 năm 1989. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011. 
  8. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 50 Singles 1989”. Australian Recording Industry Association. 30 tháng 12 năm 1989. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên canyearend
  10. ^ “Top Annuali Singles: 1989” (bằng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012. 
  11. ^ “Top Pop Singles of 1989”. Billboard. 31 tháng 12 năm 1989. Truy cập 2011-08=21. 
  12. ^ “Top Adult Contemporary Singles of 1989”. Billboard. 31 tháng 12 năm 1989. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Billboard.com. link. Truy cập Mar. 4, 2006. - U.S. chart positions.
  • MoCaW: Madonna on Charts around the World. link. Truy cập Mar. 4, 2006. - Worldwide chart positions and certifications.