Me Against the Music

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Me Against the Music"
Đĩa đơn của Britney Spears hợp tác với Madonna
từ album In the Zone
Phát hành Flag of the United States.svg 20 tháng 10, 2003
Newworldmap.png 10 tháng 11, 2003
Định dạng Đĩa đơn CD, Đĩa 13"
Thu âm Đầu 2003
Thể loại Dance-pop, hip hop
Thời lượng 3:43
Hãng đĩa Jive
Sáng tác Britney Spears, Madonna, Chris "Tricky" Stewart, Penelope Magnet, Thabiso Nikhereanye, Terius "The-Dream" Nash, Gary O'Brien
Sản xuất Chris "Tricky" Stewart, Penelope Magnet
Chứng nhận Bạch kim (ARIA)
Thứ tự đĩa đơn của Britney Spears
"Boys"
(2002)
"Me against the Music"
(2003)
"Toxic"
(2004)
Thứ tự Madonna
"Hollywood"
(2003)
"Me against the Music"
(2003)
"Nothing Fails"
(2003)

"Me Against the Music" là bài hát của ca sĩ nhạc pop người Mỹ, Britney Spears hợp tác với Madonna nằm trong album phòng thu thứ tư của Britney, In the Zone. Bài hát được phát hành vào ngày 20 tháng 10 năm 2003 bởi hãng Jive Records như là đĩa đơn đầu tiên trích từ album. Sau khi gặp gỡ nhau tại một hộp đêm ở thành phố New York, Christopher Stewart và Penelope Magnet bắt đầu làm việc với Britney. Trong buổi diễn tập cho lễ trao giải MTV Video Music Awards năm 2003, Britney Spears đã hát thử bài hát với Madonna và sau đó Madonna quyết định cho cô ấy được song ca bài hát này. "Me Against the Music" có ảnh hưởng của hip hop và sử dụng funk guitar.

"Me Against the Music" đã nhận được những đánh giá trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc. Một số cảm thấy nó là một ca khúc dance mạnh mẽ trong In the Zone, trong khi số khác cảm thấy nó khá mờ nhạt và đáng thất vọng. Bài hát đã đạt thành công về thương mại, khi đứng đầu ở Úc, Đan Mạch, Hungary, IrelandTây Ban Nha, cũng như European Hot 100 Singles. Bài hát cũng đạt vị trí số hai ở Canada, Ý, Na Uy, Vương quốc Anh, và nằm trong top 5 tại nhiều quốc gia khác. Bài hát đã giành giải thưởng "Đĩa đơn Dance của năm" tại giải thưởng "Billboard Music Awards" năm 2004. Video của bài hát miêu tả Britney và Madonna đối lập nhau và cùng chơi tại một hộp đêm. Một cuộc chiến mèo đuổi chuột xảy ra, và Britney tìm thấy Madonna cuối cùng, sau đó Madonna biến mất trước khi họ hôn. Video đã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình, những người ghi nhận nó như là biểu tượng của vai trò tình dục giữa những người phụ nữ.

Britney Spears cũng đã biểu diễn "Me Against the Music" tại một số chương trình như: NFL Kickoff Live năm 2003, Saturday Night Live, giải thưởng American Music Awards và TRL. Britney cũng đã biểu diễn phiên bản remix của bài hát với yếu tố âm nhạc của nhạc bhangra tại The Onyx Hotel Tour (2004) và The Circus Starring: Britney Spears (2009). Video của bài hát đã được tái hiện lại bởi các diễn viên trong bộ phim truyền hình Glee và có sự tham gia xuất hiện đặc biệt của Britney.

Dạng đĩa và các track[sửa | sửa mã nguồn]

Australia CD 1 (82876 577552)

  1. "Me against the Music" — 3:43
  2. "Me against the Music" [Peter Rauhofer Radio Mix] — 3:42
  3. "Me against the Music" [The Mad Brit Mixshow] — 5:55

Australia CD 2

  1. "Me Against the Music" [Rishi Rich's Desi Kulcha Remix] — 4:32
  2. "Me Against the Music" [Passengerz vs. The Club Mix] — 7:37
  3. "Me Against the Music" [Terminalhead Vocal Mix] — 7:10
  4. "Me Against the Music" [Video Mix Instrumental] — 3:35

UK/Europe CD Single (82876576432)

  1. "Me against the Music" — 3:43
  2. "Me against the Music" [Rishi Rich's Desi Kulcha Remix] — 4:33
  3. "Me against the Music" [Peter Rauhofer Radio Mix] — 3:42
  4. "Me against the Music" [The Mad Brit Mixshow] — 5:55

U.S. CD Single (82876 582152)

  1. "Me against the Music" — 3:43
  2. "Me against the Music" [Trak Starz Remix] — 3:31
  3. "Me against the Music" [Gabriel & Dresden Club Mix] — 8:51
  4. "Me against the Music" [Peter Rauhofer Radio Mix] — 3:43
  5. "Me against the Music" [The Mad Brit Mixshow] — 5:55
  6. "Me against the Music" [Bloodshy & Avant "Dubbie Style" Remix] — 5:15
  7. "Me against the Music" [Kanye West Remix] — 3:43

U.S. 12" Vinyl (82876 577571)

  • Mặt A:
  1. "Me against the Music" [Peter Rauhofer's Electrohouse Mix] — 8:17
  2. "Me against the Music" [The Mad Brit Mixshow] — 5:55
  • Mặt B:
  1. "Me against the Music" [Gabriel & Dresden Club Mix] — 8:51
  2. "Me against the Music" [Rishi Rich's Punjabi Club Mix] — 5:34
  • Mặt C:
  1. "Me against the Music" [Peter Rauhofer's Electrohouse Dub] — 6:49
  2. "Me against the Music" [Passengerz Vs The Club Mix] — 7:34
  • Mặt D:
  1. "Me against the Music" [Gabriel & Dresden Dub] — 7:14
  2. "Me against the Music" [Terminalhead Vocal Mix] — 7:07

Bảng xếp hạng và chứng nhận doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2003)[1][2] Vị trí
cao nhất
Australian Singles Chart[3] 1
Austrian Singles Chart[3] 12
Belgian Singles Chart (Flanders)[3] 5
Belgian Walloon Singles Chart[3] 3
Canadian Singles Chart[4] 2
Czech Airplay Chart[3] 4
Danish Singles Chart[3] 1
Dutch Top 40<[5] 5
European Hot 100 Singles[6] 1
Finnish Singles Chart[3] 5
French Singles Chart[3] 11
German Singles Chart[5] 5
Greek Singles Chart[7] 2
Hungarian Singles Chart[8] 1
Irish Singles Chart[5] 1
Italian Singles Chart[3] 2
Japanese Singles Chart[9] 38
New Zealand Singles Chart[5] 13
Norwegian Singles Chart[3] 2
Spanish Singles Chart[10] 1
Swedish Singles Chart[3] 5
Swiss Singles Chart[5] 4
UK Singles Chart[11] 2
US Billboard Hot 100[12] 35
US Pop Songs (Billboard)[13] 11
US Hot Dance Club Songs (Billboard)[14] 1

Lượng tiêu thụ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận
Theo doanh số
Úc Bạch kim[15]
Na Uy Vàng[16]

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2003) Vị trí
Australian Singles Chart[17] 48
Belgian Singles Chart (Flanders)[18] 85
Belgian Singles Chart (Wallonia)[19] 81
UK Singles Chart[20] 60
Bảng xếp hạng (2004) Vị trí
Australian Singles Chart[21] 95
Tiền nhiệm:
"Be Faithful" của Fatman Scoop featuring Crooklyn Clan
Đĩa đơn quán quân tại Ireland
15 tháng 11 2003 - 22 tháng 11 2003
Kế nhiệm:
"Mandy" của Westlife
Tiền nhiệm:
"Slow" của Kylie Minogue
Đĩa đơn quán quân tại Úc
16 tháng 11 200323 tháng 11 2003
Kế nhiệm:
"Angels Brought Me Here" của Guy Sebastian
Tiền nhiệm:
"White Flag" của Dido
Bảng xếp hạng Thế giới
13 tháng 12 20033 tháng 1 2004
Kế nhiệm:
"Hey Ya!" của OutKast

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Britney Spears and Madonna - Me Against The Music”. αCharts.us. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ “Britney Spears: Billboard Singles”. Allmusic. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h “ultratop.be – Britney Spears feat. Madonna – Me Against The Music”. Ultratop 50. Hung Medien. 2003. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ “allmusic (((Britney Spears > Charts & Awards > Billboard Singles)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2010. 
  5. ^ a ă â b c “Britney Spears and Madonna – Me Against The Music – Music Charts”. acharts.us. 2003. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  6. ^ Sexton, Paul (8 tháng 12 năm 2003). “Will Young Overtakes U.K. Charts”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009. 
  7. ^ “Internet Archive Wayback Machine”. Web.archive.org. 9 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  8. ^ “Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége” (bằng Hungarian). Mahasz. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  9. ^ “ブリトニー・スピアーズのCDシングルランキング、ブリトニー・ORICON STYLE” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2011. 
  10. ^ “Hits of the World: Spain”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc) 115 (49): 46. 6 tháng 12 năm 2003. ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2010. 
  11. ^ “Busted beat Britney to number one”. BBC News. BBC. 16 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  12. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Hot 100 for Britney Spears. Prometheus Global Media. Truy cập 2 tháng 4 năm 2011.
  13. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Pop Songs for Britney Spears. Prometheus Global Media. Truy cập 2 tháng 4 năm 2011.
  14. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Hot Dance/Club Play for Britney Spears. Prometheus Global Media. Truy cập 2 tháng 4 năm 2011.
  15. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2003 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  16. ^ “IFPI Norsk platebransje”. International Federation of the Phonographic Industry. ifpi.no. 2004. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2010. 
  17. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Singles 2003”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2010. 
  18. ^ “Jaaroverzichten 2003 (Flanders)” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2010. 
  19. ^ “Rapports Annuels 2003 (Wallonia)” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2010. 
  20. ^ “UK Year-end Singles 2003” (PDF). The Official Charts Company. Chartplus.co.uk. tr. 1. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  21. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Singles 2004”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2010.