Me Against the Music
| "Me Against the Music" | |||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Đĩa đơn của Britney Spears hợp tác với Madonna | |||||||||||
| từ album In the Zone | |||||||||||
| Phát hành | |||||||||||
| Định dạng | Đĩa đơn CD, Đĩa 13" | ||||||||||
| Thu âm | Đầu 2003 | ||||||||||
| Thể loại | Dance-pop, hip hop | ||||||||||
| Thời lượng | 3:43 | ||||||||||
| Hãng đĩa | Jive | ||||||||||
| Sáng tác | Britney Spears, Madonna, Chris "Tricky" Stewart, Penelope Magnet, Thabiso Nikhereanye, Terius "The-Dream" Nash, Gary O'Brien | ||||||||||
| Sản xuất | Chris "Tricky" Stewart, Penelope Magnet | ||||||||||
| Chứng nhận | Bạch kim (ARIA) | ||||||||||
| Thứ tự đĩa đơn của Britney Spears | |||||||||||
|
|||||||||||
|
|||||||||||
"Me Against the Music" là bài hát của ca sĩ nhạc pop người Mỹ, Britney Spears hợp tác với Madonna nằm trong album phòng thu thứ tư của Britney, In the Zone. Bài hát được phát hành vào ngày 20 tháng 10 năm 2003 bởi hãng Jive Records như là đĩa đơn đầu tiên trích từ album. Sau khi gặp gỡ nhau tại một hộp đêm ở thành phố New York, Christopher Stewart và Penelope Magnet bắt đầu làm việc với Britney. Trong buổi diễn tập cho lễ trao giải MTV Video Music Awards năm 2003, Britney Spears đã hát thử bài hát với Madonna và sau đó Madonna quyết định cho cô ấy được song ca bài hát này. "Me Against the Music" có ảnh hưởng của hip hop và sử dụng funk guitar.
"Me Against the Music" đã nhận được những đánh giá trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc. Một số cảm thấy nó là một ca khúc dance mạnh mẽ trong In the Zone, trong khi số khác cảm thấy nó khá mờ nhạt và đáng thất vọng. Bài hát đã đạt thành công về thương mại, khi đứng đầu ở Úc, Đan Mạch, Hungary, Ireland và Tây Ban Nha, cũng như European Hot 100 Singles. Bài hát cũng đạt vị trí số hai ở Canada, Ý, Na Uy, Vương quốc Anh, và nằm trong top 5 tại nhiều quốc gia khác. Bài hát đã giành giải thưởng "Đĩa đơn Dance của năm" tại giải thưởng "Billboard Music Awards" năm 2004. Video của bài hát miêu tả Britney và Madonna đối lập nhau và cùng chơi tại một hộp đêm. Một cuộc chiến mèo đuổi chuột xảy ra, và Britney tìm thấy Madonna cuối cùng, sau đó Madonna biến mất trước khi họ hôn. Video đã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình, những người ghi nhận nó như là biểu tượng của vai trò tình dục giữa những người phụ nữ.
Britney Spears cũng đã biểu diễn "Me Against the Music" tại một số chương trình như: NFL Kickoff Live năm 2003, Saturday Night Live, giải thưởng American Music Awards và TRL. Britney cũng đã biểu diễn phiên bản remix của bài hát với yếu tố âm nhạc của nhạc bhangra tại The Onyx Hotel Tour (2004) và The Circus Starring: Britney Spears (2009). Video của bài hát đã được tái hiện lại bởi các diễn viên trong bộ phim truyền hình Glee và có sự tham gia xuất hiện đặc biệt của Britney.
Dạng đĩa và các track [sửa]
Australia CD 1 (82876 577552)
- "Me against the Music" — 3:43
- "Me against the Music" [Peter Rauhofer Radio Mix] — 3:42
- "Me against the Music" [The Mad Brit Mixshow] — 5:55
Australia CD 2
- "Me Against the Music" [Rishi Rich's Desi Kulcha Remix] — 4:32
- "Me Against the Music" [Passengerz vs. The Club Mix] — 7:37
- "Me Against the Music" [Terminalhead Vocal Mix] — 7:10
- "Me Against the Music" [Video Mix Instrumental] — 3:35
UK/Europe CD Single (82876576432)
- "Me against the Music" — 3:43
- "Me against the Music" [Rishi Rich's Desi Kulcha Remix] — 4:33
- "Me against the Music" [Peter Rauhofer Radio Mix] — 3:42
- "Me against the Music" [The Mad Brit Mixshow] — 5:55
U.S. CD Single (82876 582152)
- "Me against the Music" — 3:43
- "Me against the Music" [Trak Starz Remix] — 3:31
- "Me against the Music" [Gabriel & Dresden Club Mix] — 8:51
- "Me against the Music" [Peter Rauhofer Radio Mix] — 3:43
- "Me against the Music" [The Mad Brit Mixshow] — 5:55
- "Me against the Music" [Bloodshy & Avant “Dubbie Style” Remix] — 5:15
- "Me against the Music" [Kanye West Remix] — 3:43
U.S. 12" Vinyl (82876 577571)
- Mặt A:
- "Me against the Music" [Peter Rauhofer's Electrohouse Mix] — 8:17
- "Me against the Music" [The Mad Brit Mixshow] — 5:55
- Mặt B:
- "Me against the Music" [Gabriel & Dresden Club Mix] — 8:51
- "Me against the Music" [Rishi Rich's Punjabi Club Mix] — 5:34
- Mặt C:
- "Me against the Music" [Peter Rauhofer's Electrohouse Dub] — 6:49
- "Me against the Music" [Passengerz Vs The Club Mix] — 7:34
- Mặt D:
- "Me against the Music" [Gabriel & Dresden Dub] — 7:14
- "Me against the Music" [Terminalhead Vocal Mix] — 7:07
Xếp hạng [sửa]
|
| Tiền nhiệm: "Be Faithful" của Fatman Scoop featuring Crooklyn Clan |
Đĩa đơn quán quân tại Ireland 15 tháng 11 2003 - 22 tháng 11 2003 |
Kế nhiệm: "Mandy" của Westlife |
| Tiền nhiệm: "Slow" của Kylie Minogue |
Đĩa đơn quán quân tại Úc 16 tháng 11 2003–23 tháng 11 2003 |
Kế nhiệm: "Angels Brought Me Here" của Guy Sebastian |
| Tiền nhiệm: "White Flag" của Dido |
Bảng xếp hạng Thế giới 13 tháng 12 2003–3 tháng 1 2004 |
Kế nhiệm: "Hey Ya!" của OutKast |
Chú thích [sửa]
- ^ “Britney Spears and Madonna - Me Against The Music”. αCharts.us. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009.
- ^ “Britney Spears: Billboard Singles”. Allmusic. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2009.
- ^ http://italiancharts.com/showitem.asp?interpret=Britney+Spears+feat.+Madonna&titel=Me+Against+The+Music&cat=s
- ^ Charts.org.nz: 'Me Against the Music' Profile
- ^ Romanian Top 100
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||