Glee (chương trình truyền hình)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Glee (phim truyền hình))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Glee
Bức ảnh gồm ảnh nền màu đen cùng chữ "Glee" nằm ở giữa và khá nhỏ.
Cảnh tiêu đề của Glee
Thể loại Nhạc kịch
Hài kịch
Tâm lý
Sáng lập Ryan Murphy
Brad Falchuk
Ian Brennan
Kịch bản Ryan Murphy (17 tập phim)
Brad Falchuk (15 tập phim)
Ian Brennan (16 tập phim)
Đạo diễn Ryan Murphy (8 tập phim)
Brad Falchuk (8 tập phim)
Elodie Keene (5 tập phim)
Alfonso Gomez-Rejon (4 tập phim)
Bradley Buecker (4 tập phim)
Paris Barclay (3 tập phim)
Eric Stoltz (3 tập phim)
và nhiều đạo diễn khác
Diễn viên Dianna Agron
Chris Colfer
Jessalyn Gilsig
Jane Lynch
Jayma Mays
Kevin McHale
Lea Michele
Cory Monteith
Heather Morris
Matthew Morrison
Mike O'Malley
Amber Riley
Naya Rivera
Mark Salling
Jenna Ushkowitz
Quốc gia Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Số mùa 4
Số tập 88 (Danh sách chi tiết)
Sản xuất
Giám đốc sản xuất Ryan Murphy
Brad Falchuk
Dante Di Loreto
Ian Brennan
Nhà sản xuất Alexis Marion Woodall
Michael Novick
Kenneth Silverstein
Địa điểm Los Angeles, California
Kỹ thuật quay phim Christopher Baffa
Bố trí camera Một góc máy
Thời lượng 42–48 phút
Công ty sản xuất 20th Century Fox Television
Brad Falchuk Teley-Vision
Ryan Murphy Television
Nhà phân phối 20th Television
Trình chiếu
Kênh trình chiếu Fox
Định dạng hình ảnh 480i (SDTV)
720p (HDTV)
Phát sóng 19 tháng 5, 2009 (2009-05-19) – nay
Thông tin khác
Chương trình liên quan Glee: The 3D Concert Movie
The Glee Project
Liên kết ngoài
Trang web chính thức

Glee (tạm dịch: Đội hát Trung học) là một bộ phim truyền hình nhạc kịch hài tâm lý Mỹ được trình chiếu trên kênh Fox tại Mỹ, kênh Global và Fox Canada tại Canada và kênh STAR World tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Bộ phim xoay quanh về nhóm hát trung học New Directions luôn luyện tập và tìm những ý tưởng mới để có thể đại diện trường học của mình tham gia những cuộc thi âm nhạc khác nhau. Dù vậy, những thành viên của nhóm đã phải đối mặt với những rắc rối nội bộ như những mối quan hệ tình cảm, tình dục và việc kết nối với cộng đồng học sinh. Trong bộ phim, người dẫn dắt và sáng lập lên nhóm New Directions là thầy dạy tiếng Tây Ban Nha Will Schuester (Matthew Morrison), huấn luyện viên đội cổ vũ Sue Sylvester (Jane Lynch), giáo viên tâm lý Emma Pillsbury (Jayma Mays), vợ cũ của Will Terri (Jessalyn Gilsig), và tám thành viên của đội hát được thủ vai bởi Dianna Agron, Chris Colfer, Kevin McHale, Lea Michele, Cory Monteith, Amber Riley, Mark SallingJenna Ushkowitz. Cho đến mùa hai của bộ phim, ba diễn viên của bộ phim là Mike O'Malley, Heather MorrisNaya Rivera được trở thành một trong những nhân vật chính của Glee.

Sê-ri phim này được sáng lập bởi Ryan Murphy, Brad FalchukIan Brennan, người trước đó đã có ý định thực hiện Glee trở thành một bộ phim điện ảnh. Cả ba nhà biên kịch đều viết mọi tập phim cho sê-ri nhưng Murphy và Falchuk sau đó đã đảm nhiệm vai trò đạo diễn chính của bộ phim. Tập đầu tiên của bộ phim được phát sóng vào ngày 19 tháng 5 năm 2009 còn mùa đầu tiên của phim thì được phát sóng vào ngày 9 tháng 9 năm 2009 đến ngày 9 tháng 6 năm 2010. Tiếp đó là mùa thứ hai được phát sóng đầu tiên vào ngày 21 tháng 9 năm 2010 còn mùa thứ ba vẫn chưa được công bố. Glee chủ yếu trình diễn các ca khúc nổi tiếng tại Mỹ và được chọn lọc bởi Murphy, người chịu trách nhiệm về việc phát sóng ca khúc trên truyền hình và cân bằng ca khúc đó trên các bảng xếp hạng âm nhạc. Bên cạnh anh là nhà sản xuất âm nhạc, Adam Anders. Những ca khúc này đều được bán thông qua iTunes Store nội trong tuần phát sóng tập phim ấy, còn về các album thì được hãng Columbia Records phát hành trong giai đoạn trình chiếu bộ phim. Phần nhạc của Glee nhận được rất nhiều thành công khi hơn 21 triệu đĩa đơn trực tuyến đã được tiêu thụ cùng 9 triệu album cũng đã được bán. Những sản phẩm khác của bộ phim gồm DVD, đĩa Blu-ray, bộ sách giành cho thanh niên, ứng dụng iPad và trò chơi hát karaoke trên Wii.

Trong khoảng thời gian trình chiếu mùa thừ nhất, Glee nhận được khá nhiều những đánh giá tích cực từ những nhà phê bình truyền hình khi Metacritic đã trao tặng cho bộ phim 77 điểm dựa trên 18 bài đánh giá chính thức tại Mỹ. Mùa phim này đã được đề cử cho 19 hạng mục của Giải Emmy, bốn Giải Quả Cầu Vàng, sáu Giải Satellite kèm theo 57 giải thưởng khác, trong đó có hạng mục Giải Quả cầu vàng cho Phim truyền hình - Nhạc kịch hoặc Hài kịch Xuất sắc nhất, và giải Emmy cho Jane Lynch, cùng nhân vật khách mời Neil Patrick Harris và Chỉ đạo Xuất sắc của Murphy trong tập đầu tiên. Năm 2011, bộ phim lại tiếp tục giành được một Giải Quả cầu vàng cho Phim truyền hình - Nhạc kịch hoặc Hài kịch Xuất sắc nhất. Hai diễn viên Jane Lynch và Chris Colfer đều thắng một giải Quả cầu vàng cho hạng mục Nữ diễn viên phụ Xuất sắc NhấtNam diễn viên phụ Xuất sắc Nhất; Matthew Morrison và Lea Michele sau đó cũng đã nhận được đề cử cho Nam diễn viên chính Xuất sắc NhấtNữ diễn viên chính Xuất sắc Nhất. Bộ phim đồng thời cũng được kênh Fox chọn để trình chiếu vào giờ Vàng sau chương trình Siêu Cúp XLV vào năm 2011. Vào ngày 14 tháng 7 năm 2011, Glee đã được đề cử cho 12 giải Primetime Emmys.

Ngày 4 tháng 5 năm 2011, kênh Fox đã tuyên bố rằng Murphy và hãng phim sẽ ra mắt bộ phim biểu diễn của sê-ri mang tên, Glee: The 3D Concert Movie, gồm những màn trình diễn và những thước phim hậu trường của các diễn viên khi họ đang thực hiện tour lưu diễn của mình, Glee Live! In Concert!. Phim được đạo diễn bởi Kevin Tancharoen và chỉ được phát hành giới hạn hai tuần tại Mỹ bắt đầu vào ngày 12 tháng 8 năm 2011.[1]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ian Brennan "thú nhận" rằng Glee được dựa trên những kỷ niệm của anh khi từng là một thành viên đội hát của Trường Trung học Prospect tại Mount Prospect, Illinois.[2] Đầu tiên, anh đã có ý định rằng sẽ thực hiện Glee với tư cách là bộ phim điện ảnh hơn là một bộ phim truyền hình. Anh sau đó đã viết nháp kịch bản của bộ phim này vào tháng 8 năm 2005, nhờ vào cuốn sách hướng dẫn Tập viết kịch bản cho mọi người[2] và hoàn tất kịch bản vào năm 2005 nhưng lại không tạo nhiều ấn tượng cho những hãng phim một vài năm liền.[3] Mike Novick, một nhà sản xuất truyền hình và là bạn của Brennan đến từ Los Angeles, đồng thời cũng là thành viên của phòng tập mà Ryan Murphy tham gia, anh đã đưa kịch bản này của Brennan cho anh.[4] Thật trùng hợp rằng Murphy cũng chính là một thành viên của đội hát khi anh học đại học, vì thế, anh cảm thấy rất gần gũi với kịch bản này. Murphy cùng đồng nghiệp của anh trong bộ phim Nip/Tuck gợi ý cho Brad Falchuk nên sản xuất Glee với tư cách là một bộ phim truyền hình. Kịch bản sau đó đã được viết lại,[3] và được kênh truyền hình Fox chấp thuận sản xuất sau 15 giờ đồng hồ đọc kịch bản. Murphy cho rằng, một phần nhờ vào chương trình truyền hình thành công, American Idol. "Nó trở thành một làn sóng trên TV cũng đúng thôi, vì đó là chương trình âm nhạc, nó đã đánh thức khoảng trống tĩnh lặng trong khán giả", anh phát biểu.[5] Murphy và Falchuk sau đó đã trở thành giám đốc sản xuất và là một trong những người thực hiện bộ phim, trong khi đó, Brennan trở thành đồng giám đốc sản xuất và Novick trở thành nhà sản xuất.[5] Brennan, Falchuk và Murphy đã cùng nhau biên kịch tất cả những tập phim trong hai mùa đầu.[6]

Ian Brennan, người sản xuất của Glee chính là người đầu tiên thực hiện viết bộ phim này.

Glee lấy bối cảnh tại Lima, Ohio.[7] Murphy đã chọn miền Trung Tây Hoa Kỳ để làm bối cảnh của bộ phim vì anh đã lớn lên tại Indiana, và địa điểm này khiến anh nhớ về thưở thơ ấu của mình khi anh đến công viên Kings Island tại Ohio.[8] Dù được lấy bối cảnh tại Lima nhưng sê-ri được quay tại Paramount Studios ở Hollywood.[9] Ngoài ra, bộ phim còn bị đem ra so sánh với loạt phim High School Musical, Murphy sau đó cũng đã lên tiếng rằng anh chưa bao giờ xem bộ phim này và chỉ chú tâm vào việc thực hiện những bộ phim nhạc kịch "hậu hiện đại" hơn là "một bộ phim mà các nhân vật xông vào hát." Dù vậy, sê-ri được dựng lên khá giống với bộ phim năm 2001, Chicago.[10] Murphy cũng khá chú tâm về việc thực hiện một chương trình giúp mọi người "giải thoát". "Có rất nhiều chương trình hiện đang phát sóng kể về những người với những cây súng, những người ngoài hành tinh hay những vị luật sư chạy lòng vòng xung quanh. Đây chính một thể loại khác hoàn toàn, đây không phải là những gì đã từng trình chiếu trên các kênh truyền hình hay truyền hình cáp. Thế giới nay đã quá đen tối, vì vậy những Thần tượng Âm nhạc này đã phải vào cuộc. Đây chính là một cuộc giải thoát đến thế giới tươi sáng," anh phát biểu.[5] Murphy đồng thời còn chú tâm về việc thực hiện một chương trình truyền hình gia đình cho người lớn và đồng thời cả trẻ nhỏ, được dẫn dắt bởi những nhận vật thanh niên đóng bởi những diễn viên lớn tuổi[5] và anh cũng đã chuẩn bị trước cho kế hoạch trình chiếu sê-ri phim này đến ba năm liền.[11]

Âm nhạc và vũ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ryan Murphy chịu trách nhiệm về việc chọn lọc các ca khúc và cân bằng về việc phát sóng ca khúc trên truyền hình và trên các bảng xếp hạng âm nhạc.

Bộ phim này gồm những bài hát được trình diễn lại trên màn ảnh nhỏ bởi những nhân vật của sê-ri phim.[12] Murphy chịu trách nhiệm về việc chọn lọc các ca khúc sẽ được sử dụng trong bộ phim và chịu trách nhiệm về việc phát sóng ca khúc trên truyền hình và cân bằng ca khúc đó trên các bảng xếp hạng âm nhạc, anh phát biểu: "Tôi muốn phải có một thứ gì đó giành cho tất cả mọi người trong mỗi tập phim. Tất cả đều phải hòa hợp một cách khéo léo và nó rất quan trọng — vì sự cân bằng được quyết định bởi nó."[4] Việc lựa chọn ca khúc chính là việc cần thiết để phát triển kịch bản, Murphy giải thích: "Mỗi tập phim đều có một chủ đề cốt lõi. Sau khi tôi viết xong kịch bản, tôi sẽ chọn ca khúc thích hợp để có thể giúp câu chuyện xúc động hơn."[13] Trong bài phỏng vấn năm 2010 của Chris Colfer với Allison Kugel, anh cho rằng "có một vài lần tôi cùng Ryan Murphy (người sáng lập Glee) đã tâm sự về một số câu chuyện từng xảy ra với tôi [thời trung học], sau đó, anh đã thêm những câu chuyện này vào kịch bản của bộ phim. Hay khi anh ấy hỏi tôi ca khúc nào mà bạn muốn trình diễn trong đoạn này hai đoạn kia. Tôi không nghĩ một trong số chúng tôi sẽ trở thành người chỉ đạo hay cố gắng để mang một thứ gì đó cho nhân vật hay trong kịch bản, nhưng chắc chắn họ sẽ sử dụng ý tưởng từ cuộc sống của chúng tôi."[14] Đến mùa hai, bộ phim đã chuyển hướng sử dụng những ca khúc nằm trong Top 40, chính vì vậy mà bộ phim đã gia tăng số lượng người xem trong Nhân khẩu học từ 18–49 tuổi.[15]

Murphy khá bất ngờ về việc chấp thuận sử dụng các ca khúc một cách dễ dàng bởi những hãng đĩa, anh giải thích: "Tôi nghĩ chìa khóa đã giúp khán giả yêu thích chương trình chính là nhờ vào phần giai điệu của các ca khúc. Họ yêu bộ phim vì sự lạc quan và câu chuyện của những lũ trẻ, nhưng chủ yếu họ yêu thích bộ phim này vì chúng tôi đã tái tạo lại những bản nhạc cổ điển cho một thế hệ khán giả mới."[12] Ngược lại, một số nghệ sĩ đã từ chối việc sử dụng của bài hát của họ trong bộ phim này, trong đó có Bryan Adams, Guns N' RosesColdplay; nhưng sau đó, vào tháng 6 năm 2010, Coldplay đã đổi lại quyết định của nhóm và cho phép Glee sử dụng những ca khúc của họ.[16] Adams thì lại đăng lên tài khoản Twitter của mình là nhà sản xuất của Glee đã chưa bao giờ xin phép sự yêu cầu của anh hay kêu gọi anh rằng hãy anh hãy "nhấc điện thoại lên đi!".[17] Nhạc sĩ và nhạc công Billy Joel rất thường xuyên cung cấp bài hát của mình để sử dụng cho bộ phim,[18] còn một số nghệ sĩ khác thường cho sê-ri sử dụng miễn phí ca khúc của mình.[19] Loạt album nhạc phim của Glee được phát hành thông qua hãng đĩa Columbia Records. Các ca khúc trong chương trình thường được phát hành dưới dạng tải kỹ thuật số trên iTunes khoảng hai tuần trước khi tập phim mới trình chiếu. Sau đó, các ca khúc này sẽ được phát hành trên những cửa hàng kỹ thuật số và nhạc chuông điện thoại một tuần sau đó.[11] Ngoài ra, nhà sản xuất âm nhạc của Glee Adam Anders đồng thời cũng đã sáng tác hai ca khúc cho bộ phim là "Loser Like Me" và "Get It Right," nằm trong tập phim ngày 15 tháng 3 năm 2011.[20]

Zach Woodlee chính là biên đạo múa của nhóm từ mùa đầu tiên đến nay.

Glee được biên đạo bởi Zach Woodlee và phần vũ đạo này được xuất hiện từ bốn đến tám bài hát trong một tập phim.[21] Sau khi Murphy đã lựa chọn ca khúc và được P. J. Bloom đăng ký bản quyền, nhà sản xuất Adam Anders sẽ đưa bài hát này đến dàn diễn viên của Glee.[11] Những bài hát này sẽ được thu âm trước bởi các diễn viên, trong khoảng thời giai ấy, Woodlee sẽ chuẩn bị những động tác vũ đạo, sẽ được nhóm tập luyện và ghi hình.[4] Trong khi đó, đội phòng thu sẽ phối lại những ca khúc mà nhóm đã thực hiện. Những công việc này được thực hiện từ sáu đến tám tuần trước khi họ quay một tập phim mới.[11] Mỗi tập phim thường tốn 3 triệu đô-la để sản xuất,[4] và phải cần đến 10 ngày tùy theo kết quả của việc tập luyện vũ đạo bởi các diễn viên.[10] Cuối năm 2010, Bloom đã chia sẻ rằng thời gian sản xuất một tập phim nay đã ngắn hơn rất nhiều; "nếu nhanh nhất thì chỉ gồm vài tuần".[15] Đến mùa hai, nhà sáng lập của sê-ri thường xuyên nghe thử ca khúc sắp trình diễn nhưng vẫn xin phép bản quyền từ nghệ sĩ gốc cũng như hãng thu của họ như mùa trước. Ngược lại, các ca khúc nay được sản xuất trong khoảng thời gian chưa xin phép bản quyền của nghệ sĩ[15] giúp tăng tốc việc sản xuất các tập phim mới của Glee.

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Một quả bóng quảng bá cho Glee tại thành phố New York.

Trong khoảng thời gian chuẩn bị phát sóng tập thứ hai, dàn diễn viên của Glee đã thực hiện tour lưu diễn của mình tại một vài cửa hàng Hot Topic khắp quốc gia.[22] Nhóm đồng thời cũng đã trình bày ca khúc quốc ca chính thức của Hoa Kỳ tại trận đấu thứ ba của 2009 World Series.[23] Dàn diễn viên của bộ phim đã được Macy's mời tới biểu diễn tại Lễ diễu hành Ngày lễ Tạ ơn của Macy's năm 2009, nhưng đơn vị tổ chức phát sóng NBC đã phản đối vì Glee trình chiếu trên mạng lưới truyền hình đối thủ của họ.[24][25] Ryan Murphy đã nhận xét: "Tôi hoàn toàn hiểu vị trí của NBC, và trông chờ để nhìn thấy một chiếc xe diễu hành của Jay Leno".[26]

Sau thành công của chương trình, nhóm sau đó cũng đã thực hiện một tour diễn sau khi kết thúc mùa một của bộ phim mang tên, Glee Live! In Concert!, tại Phoenix, Chicago, Los Angeles và New York.[27] Ngoài ra, nhóm cũng đã thực hiện một bản thu lại của "Last Christmas", trình bày gốc bởi Wham!, bản thu này sau đó đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn cuối năm 2009 nhưng cho đến ngày 10 tháng 12 năm 2010, ca khúc mới được xuất hiện trong tập phim "A Very Glee Christmas" của sê-ri.[11] Matthew Morrison, Jane Lynch, Lea Michele, Cory Monteith và Chris Colfer sau đó đã thủ vai Will, Sue, Rachel, Finn và Kurt trong một tập phim của The Cleveland Show, phát sóng vào ngày 16 tháng 1 năm 2011 nhưng với tư cách là nhân vật khách mời.[28] Lea Michele, Cory Monteith và Amber Riley lại tiếp tục xuất hiện với vai những đứa trẻ vui cắm trại trong tập phim mùa thứ 22, Elementary School Musical của The Simpsons.[29]

Jane Lynch, Chris Colfer, Cory Monteith, và Amber Riley cũng đã xuất hiện tại lễ trao giải MTV Video Music Awards 2010 vào ngày 12 tháng 9 năm 2010.[30] Trong số báo tháng 11 của tạp chí GQ, ba diễn viên là Agron, Michele và Monteith đã thực hiện một bộ ảnh mang tính "khích dục" và đã nhận khá nhiều sự chỉ trích từ Parents Television Council (PTC). Chủ tịch của hội PTC, Tim Winter cho rằng Glee có rất nhiều người hâm mộ trẻ tuổi, và "sự xuất hiện khiêu dâm này đã khiến chương trình thu hút theo một chiều hướng xấu. Và điều này sẽ có tác hại đến những gia đình đang theo dõi bộ phim."[31]

Những tấm ảnh áp phích quảng bá của mùa một khá đặc biệt khi mỗi diễn viên của bộ phim đều xuất hiện cùng bàn tay giờ lên chữ "L" (viết tắt cho "loser"; tạm dịch: "kẻ thua cuộc") trên trán và thay thế bằng chữ L trong Glee. Đến mùa hai, áp phích của bộ phim có vài thay đổi khi đồng loạt các diễn viên đều đổ loại thức uống đá dầm (slushies) vào camera. Ngoài ra, họ còn thực hiện tour lưu diễn của mình là Glee Live! In Concert!, bắt đầu vào ngày 15 tháng 5 năm 2010 với bốn thành phố lớn tại Mỹ mỗi tháng. Nhóm cũng đã thực hiện phiên bản thứ hai cùng một danh sách ca khúc mới kèm theo bốn tuần tại Mỹ và Canada từ 21 tháng 5 đến 18 tháng 6 năm 2011, và 12 ngày tại Anh và Ireland, từ 22 tháng 6 đến 3 tháng 7 năm 2011.[32] Đặc biệt, nhóm đồng thời cũng đã trình diễn tại mùa 7 của chương trình The X Factor vào ngày 5 tháng 12 năm 2010.[33]

Diễn viên và các nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Morrison đã được chọn vào bộ phim sau ba tháng Murphy tuyển chọn những diễn viên tại Broadway.

Trong khi tuyển diễn viên cho Glee, Murphy muốn tìm kiếm một nam diễn viên thể hiện được tâm huyết của nhân vật. Thay vì tổ chức một buổi tuyển diễn viên, anh lại giành ba tháng tại Broadway, nơi anh tìm được Matthew Morrison, người xuất hiện trong vở kịch HairsprayThe Light in the Piazza; Lea Michele, người xuất hiện trong Spring Awakening; và Jenna Ushkowitz, người xuất hiện trong phiên bản mới của vở kịch The King and I.[34]

Anh đồng thời cũng tuyển chọn những nam diễn viên dù không có kinh nghiệm như có thể hát, nhảy và diễn tốt. Chris Colfer cũng vậy, nhưng Murphy đã viết một nhân vật nữa trong bộ phim để dành cho anh.[34] Jayma Mays cũng đã tham gia buổi tuyển chọn với ca khúc "Touch-a, Touch-a, Touch-a, Touch Me" trong The Rocky Horror Show. Trong khi đó, Cory Monteith chỉ gửi cho họ một cuốn phim mà anh diễn xuất, nhưng chỉ trong vòng vài giây, anh đã được nhận một yêu cầu gửi một đoạn băng thể hiện tài năng trình diễn của mình. Trong đoạn băng ấy, anh đã hát "phiên bản tầm thường của video ca nhạc thập niên 80" "Can't Fight This Feeling" do REO Speedwagon trình bày.[34] Kevin McHale đến từ một nhóm nhạc bè nam, họ từng là một phần của ban nhạc Not Like Them. Anh giải thích về sự đa dạng về thể loại của nhóm nhạc cũng như tính nhạc trong bộ phim: "Đó chính là sự hòa trộn giữa nhiều thể loại khác nhau: rock cổ điển, những thứ hiện đại, R&B. Kể cả những bản nhạc kịch cũng được tái tạo lại. Và bạn sẽ không bao giờ nhận ra nó."[34] Jane Lynch ban đầu chỉ định nhận một vai phụ trong bộ phim,[35] nhưng sau đó đã trở thành vai chính khi tập phim mở đầu của Damon Wayans cho kênh ABC.[36] Sau đó, dàn diễn viên của bộ phim đã ký hợp đồng để xuất hiện trong trong ba bộ phim điện ảnh của Glee[37] với điều khoản là "[Diễn viên] phải thực hiện ba bộ phim điện ảnh độc quyền cho kênh Fox, [diễn viên] không thể thay đổi hợp đồng sau khi đã ký." Dù vậy, đến nay, chưa có một bộ phim điện ảnh nào được lên kế hoạch sản xuất.[38]

Monteith thủ vai thành viên của đội hát, Finn Hudson.

Glee gồm 12 diễn viên chính. Morrison thủ vai Will Schuester, thầy giáo Tây Ban Nha của trường McKinley High và là người sáng lập đội hát của trường với hi vọng có thể giúp nhóm trở nên thành công như những ngày tháng từng hoạt động.[21] Lynch thủ vai Sue Sylvester, huấn luyện viên của đội cổ vũ "Cheerios" và luôn tìm cách để phá hoại đội hát.[36] Mays thủ vai Emma Pillsbury, là một giáo viên tâm lý bị hội chứng mysophobia (ám ảnh dơ bẩn) nhưng lại có tình cảm với Will,[39]Jessalyn Gilsig thủ vai Terri Schuester, vợ cũ của Will, người đã bị Will ly hôn vì cô đã giả vờ mang bầu.[40] Lea Michele thủ vai Rachel Berry, một ngôi sao tài năng của đội nhưng bị nhóm cổ vũ và đội bóng bầu dục bắt nạt.[40] Monteith thủ vai Finn Hudson, ngôi sao tiền đạo của đội bóng bầu dục và là người bị bạn bè trêu chọc từ khi tham gia vào đội hát.[40] Trong nhóm còn có Amber Riley trong vai Mercedes Jones, một diva da màu thời trang người thường xuyên phải đảm nhiệm vai trò hát bè; Colfer trong vai Kurt Hummel—một anh chàng đồng tính với kiểu giọng countertenor;[41] McHale trong vai Artie Abrams, một chàng trai thường xuyên chơi guitar và bị liệt ở chân; và Ushkowitz trong vai Tina Cohen-Chang, một học sinh người Mỹ gốc Á và có khả năng giả tật nói. Mark Salling trong vai Noah "Puck" Puckerman, một người bạn thân của Finn trong đội bóng và là người đầu tiên phát hiện ra cậu tham gia đội hát. Nhưng sau đó, cậu cũng đã tự nguyện tham gia vào đội. Dianna Agron trong vai Quinn Fabray, đội trưởng của đội cổ vũ và là bạn gái của Finn, người sau đó cũng đã gia nhập vào đội hát. Naya RiveraHeather Morris trong vai Santana LopezBrittany Pierce, họ đều là thành viên của đội hát và đội cổ vũ. Trong mùa một, họ đã được chọn làm hai diễn viên phụ, cho đến mùa hai, hai người đều xuất hiện trong danh sách những diễn viên chính của bộ phim.[42] Mike O'Malley, người thủ vai cha của Kurt, Burt Hummel, đồng thời cũng là nhân vật chính vào mùa hai.[43]

Trong một buổi phỏng vấn với Ryan Seacrest vào tháng 6 năm 2011, Ryan Murphy đã tuyên bố rằng những thành viên của đội hát sẽ tốt nghiệp tại trường McKinley High vào mùa ba. Còn hai nhân vật chính là Matthew Morrison và Jane Lynch sẽ tiếp tục dẫn dắt câu chuyện.[44]

Phát sóng[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa đầu tiên của Glee gồm 22 tập phim.[45] tập đầu tiên được phát sóng vào ngày 19 tháng 5 năm 2009.[46] Sê-ri sau đó đã trở lại vào ngày 9 tháng 9 năm 2009,[47] và được trình chiếu vào thứ Tư lúc 9:00 giờ tối cho đến ngày 9 tháng 12 năm 2009 với tổng cộng 30 tập phim. Vào ngày 21 tháng 9 năm 2009, 9 tập phim nữa đã được kênh Fox yêu cầu,[48] tập đầu tiên trong 9 tập này được phát sóng đầu tiên vào ngày 13 tháng 5 năm 2010 nhưng lại được trình chiếu vào thứ Ba vào lúc 9 giờ tối[49] Vào 11 tháng 1 năm 2010, đoàn làm phim đã thông báo rằng Fox đã chấp thuận việc thực hiện mùa phim thứ hai. Mùa thứ hai của bộ phim sau đó đã bắt tay vào việc sản xuất vào tháng 6 năm 2010[50][51] và bắt đầu trình chiếu vào ngày 21 tháng 9 năm 2010,[52] vào lúc 8 giờ tối vào thứ Ba, gồm 22 tập phim. Chương trình sau đó đã được Fox chọn lựa để trình chiếu vào giờ Vàng của kênh sau trận Siêu Cúp XLV vào năm 2011,[53] nhưng sau đó, kênh đã chính thức dời bộ phim vào 9 giờ tối thứ Tư sau lần trở lại vào giờ Vàng trước đó.[54] Dù vậy, bộ lại được tiếp tục lên lịch lại và được trình chiếu vào hai ngày liên tiếp là thứ Tư và thứ Năm.[55] Mùa ba của bộ phim được kênh Fox dự kiến phát sóng vào ngày 23 tháng 5 năm 2010. Chương trình đã cho phép đội sản xuất cắt những chi phí không cần thiết và tập trung vào việc viết kịch bản.[56] Mùa 3 sẽ được tiếp tục trình chiếu vào lúc 8 giờ tối thứ Ba trên kênh Fox.

Một đoạn quảng cáo của Glee trên kênh STAR World tại Đông Nam Á

Glee được trình chiếu tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, trong đó có Úc, nơi đoàn làm phim đã đến và quảng bá cho chương trình vào tháng 9 năm 2009.[57] Chương trình thời còn được trình chiếu tại Canada,[58] New Zealand,[59] và Fiji.[60] Chương trình cũng được phát sóng tại Châu Phi, nơi họ đã gửi những tập phim đến kênh M-Net, trạm phát sóng chính thức của bộ phim tại Johannesburg.[61] Ngoài ra, chương trình còn được phát sóng tại Anh,[62] tại Ý sau một tuần phát sóng tại Hoa Kỳ, được lồng tiếng Ý và phát sóng tại Lithuania.[63] Tại Ireland, nhiều tập phim của Glee được trình chiếu chỉ 20 giờ sau khi được trình chiếu tại Mỹ, trở thành lần công chiếu đầu tiên tại khắp Châu Âu.[64] Còn tại Châu Á, bộ phim được trình chiếu tại Philippines,[65] Ấn Độ,[66] Malaysia,[67] Singapore[68] Indonesia và Nhật Bản. Chương trình được bắt đầu phát sóng tại Brazil vào ngày 2 tháng 7 năm 2011 trên kênh Rede Globo.[69] Glee đồng thời cũng được phát sóng ở Trung Đông và Vịnh Ba Tư thông qua đài Fox Series.[70] Đồng thời, tại Việt Nam (cũng như Đông Nam Á), chương trình còn được trình chiếu trên kênh STAR World.[71]

Các sản phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Album nhạc phim Glee: The Music, Volume 6, phần thứ sáu trong loạt album của bộ phim và đồng thời cũng chính là sản phẩm mới nhất của họ.

Ba album nhạc phim của mùa thứ nhất gồm: Glee: The Music, Volume 1, Glee: The Music, Volume 2Glee: The Music, Volume 3 Showstoppers.[72][73][74] Hai đĩa mở rộng gồm những bài hát từ những tập phim đặc biệt "The Power of Madonna" và "Journey to Regionals" là: Glee: The Music, The Power of MadonnaGlee: The Music, Journey to Regionals respectively.[75][76] Glee: The Music, The Complete Season One, chính là album tuyển tập của mùa 1 gồm 100 bản thu âm đã được thu trong mùa này, album đã được bán độc quyền trên iTunes Store.[77] Năm album nhạc phim sau đó cũng đã được phát hành trong mùa 2 gồm: Glee: The Music, The Christmas Album, kèm theo những ca khúc với chủ đề Giáng Sinh, và Glee: The Music, Volume 4, đều được phát hành vào tháng 11 năm 2010;[78][79][80] Glee: The Music, Volume 5,[81] Glee: The Music Presents the Warblers,[82]Glee: The Music, Volume 6[83] đều được phát hành năm 2011, vào tháng 3, tháng 4 và tháng 5. Một đĩa mở rộng cũng đã được phát hành với tên Glee: The Music, The Rocky Horror Glee Show nhằm quảng bá cho tập phim chủ đề Halloween, "The Rocky Horror Glee Show".[84]

Glee sau đó cũng đã phát hành một vài bộ đĩa DVD và Blu-ray. Glee – Pilot Episode: Director's Cut chính là một DVD được phát hành kèm theo tập đầu tiên và một trích đoạn của tập phim thứ hai, "Showmance".[85] Glee – Volume 1: Road to Sectionals gồm tổng cộng 30 tập phim đầu tiên của mùa 1,[86]Glee – Volume 2: Road to Regionals gồm chín tập phim cuối cùng của mùa 1.[87] Glee – The Complete First Season được phát hành vào ngày 13 tháng 9 năm 2010 cùng tất cả các tập phim của mùa 1.[88] Glee Season 2: Volume 1 sau đó cũng đã được phát hành.

Hãng Little, Brown Books đã có ý định xuất bản năm tiểu thuyết thanh niên về câu chuyện của Glee, được kết hợp giữa nhà sản xuất của chương trình và nhà văn.[89] Ba quyển tiểu thuyết đầu tiên đã được phát hành vào viết bởi Sophia Lowell; quyển đầu tiên, Glee: The Beginning, được phát hành vào tháng 8 năm 2010 tại những địa điểm quảng bá của sê-ri phim.[90] Tiểu thuyết tiếp theo là Glee: Foreign Exchange, phát hành vào tháng 2 năm 2011,[91]Glee: Summer Break, phát hành vào tháng 7 năm 2011.[92] Sau khi phát hành xong sê-ri tiểu thuyết này, hãng đã thực hiện kế hoạch xuất bản tự truyện của nhân vật Sue Sylvester trong mùa phim thứ hai; Murphy đồng thời cũng có ý định phát hành quyển tự truyện này và sẽ được Lynch đi tour khắp thế giới với tư cách là Sue để quảng bá quyển tự truyện này.[93][94] Tuy nhiên, việc phát hành sách này đã không hề được nhắc đến trong chương trình vào mùa hai và không hề được lên lịch để quảng bá trước công chúng.

Twentieth Century Fox Consumer Products sau đó cũng đã phát hành một dòng sản phẩm mang thương hiệu Glee kèm theo trò chơi, sản phẩm điện tử, thiệp, hàng may mặc và văn phòng phẩm.[95] Ngoài ra, các cửa hàng của Macy's còn cho ra mắt dòng thời trang Glee còn Claire's thì ra mắt dòng thời trang riêng cho bộ phim.[96]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Brian Lowry của Variety cho rằng Jayma Mays thủ vai Emma chính là người "khiêm tốn nhất" trong dàn diễn viên lớn tuổi như "những chú hề thường xuyên pha trò".

Glee nhận được số điểm từ Metacritic là 77 trên một 100 điểm, dựa trên 18 bài đánh giá.[97] Bộ phim nhận được khá nhiều khen ngợi từ các nhà phê bình trong năm 2009. James Poniewozik củaTime liệt kê bộ phim là một trong những chương trình truyền hình xuất sắc nhất trong năm với trí thứ tám, cho rằng: "khi Glee làm việc—mà lúc nào bộ phim cũng vậy-nó thật điêu luyện, mất nhiều nước mắt và cảm động hơn mất cứ thứ gì khác trên TV."[98] Ken Tucker của Entertainment Weekly thì liệt kê bộ phim với vị trí thứ chín, nhận xét: "Hãy vui lên cho chương trình mới nhất của năm, Glee, họ đồng thời đã thu hút sự thành công khá lớn, rất xứng đáng với một bộ phim có nội dung phim hay",[99] Lisa Respers France của CNN đã mở đầu bài đánh giá của Glee với câu "một công thức cho những người thảm họa", và cho rằng chương trình "có một sức hút kỳ lạ và họ có thể tự tin cho rằng bộ phim không thể bị càn quét bởi những thứ khác".[100]

Sau khi phát sóng tập phim "Showmance", hiệp hội Parents Television Council đã cho Glee trở thành 'Chương trình Truyền hình Tệ nhất của Tuần' và cho rằng bộ phim là "một chương trình đầy những nội dung khiêu dâm người lớn và đó chính là sê-ri phim không thể nào phù hợp với thanh thiếu niên."[101] Nancy Gibbs của tạp chí Time cho rằng cô đã từng nghe một mục sư cho rằng bộ phim này đã "chống đối Chúa", và nhận xét:

Mọi người có thể dễ dàng hiểu được điều ông ấy nói nếu nhìn một cách cụ thể hơn. [...] Những học dối trá, lừa bịp, trộm cắp, thèm muốn tình dục, cho chất gây nghiện vào bánh bông lan nướng để thu được nhiều tiền hơn. Họ đã làm sai gần như Mười điều răn, trong khi đó, những khán giả xem chương trình thì cười đùa với nỗi đau, sự ngu ngốc và sự sỉ nhục của người khác.... Không ai nghĩ rằng khi lũ trẻ của ta xem TV và thấy những nhân vật hành xử tệ bạc thì chúng sẽ bắt chước như vậy. [...] Hơn nữa bộ phim được dựng lên từ một trường trung học, đó chính là một cuộc hành trình không chỉ đi đến đại học và sự nghiệp mà còn chính là bản thân và niềm tin của chúng ta, cái giá của sự nổi tiếng, đây chính là một thỏa hiệp quan trọng mà ta bắt buộc phải thực hiện để có thể làm những gì ta muốn và làm những gì ta cần."[102]

Brian Lowry của Variety đã đánh giá vài tập đầu của sê-ri và khen ngợi dàn diễn viên sáng giá cùng những vấn đề xã hội trong bộ phim. Dù vậy, anh cho rằng dàn diễn viên lớn tuổi của bộ phim như "những chú hề thường xuyên pha trò", trừ vai Emma của Mays, anh cho rằng cô là người "khiêm tốn nhất" trong bộ phim.[103] Anh cũng khen ngợi phần diễn của Colfer và Michele nhưng lại cho rằng những tài năng trong chương trình trở nên lãng phí, "ngớ ngẩn, cường điệu hóa, không đồng đều" và gọi sê-ri này chỉ "nổi được một thời".[104] Nhưng cho đến tập cuối giữa mùa 1 của Glee, Lowry đã cho rằng "bộ phim gợi cho tôi nhớ về những ngày tháng không hề tốt đẹp thời trung học", nhưng "những màn trình diễn sôi động và dàn diễn viên tài năng đã kéo chương trình lên vị trí quán quân trong danh sách TiVo [của anh]" và nói thêm rằng "nếu phim kết thúc, TV sẽ rất khổ sở nếu không có Glee."[105]

Thành công ban đầu của Glee đã thu hút rất nhiều lượng khán giả, John Doyle của tờ Globe & Mail cho rằng chương trình "rất mới mẻ, chủ yếu nhờ vào dàn diễn viên sôi động và trẻ trung". Doyle đồng thời nói thêm những thành công ban đầu của Glee đã làm phai nhòa những nhân vật chính và nội dung phim, khán giả chỉ chú tâm hơn về những vị khách mời nổi tiếng. "Sự vui tươi đã rời bỏ Glee. Bạn phải trau dồi thêm về phần nội dung trong vài tháng trước".[106]

Sản phẩm âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ những màn trình diễn của dàn diễn viên trong bộ phim đã giúp phần thương mại âm nhạc của Glee trở nên thành công khi hơn 21 triệu đĩa đơn trực tuyến đã được tiêu thụ cùng 9 triệu album cũng đã được bán toàn thế giới.[107] Năm 2009, Glee đã có tổng cộng 25 đĩa đơn xuất hiện trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, gần bằng con số 31 ca khúc của nhóm The Beatles vào năm 1964;[108] năm 2010, bộ phim đã có 80 đĩa đơn trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, thành công hơn cả những ca khúc năm trước của bộ phim.[109] Vào tháng 2 năm 2011, Glee đã đánh bại Elvis Presley với danh hiệu nghệ sĩ có nhiều bài hát xuất hiện trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 nhất, với trung bình một hay bốn đĩa đơn của bộ phim xuất hiện hơn một tuần.[110] Đĩa đơn của nhóm, "Don't Stop Believin'" đã được chứng nhận đĩa Vàng vào ngày 13 tháng 10 năm 2009 với hơn 500,000 bản kỹ thuật số đã được tiêu thụ,[111] tiếp đó vào ngày 16 tháng 3 năm 2011, đĩa đơn tiếp tục nhận được đĩa Bạch kim khi hơn 1 triệu bản đã tiếp tục được tiêu thụ.[112] Những bài hát được trình diễn lại của bộ phim nhận được nhiều tiếp nhận tích cực như bản thu lại của "Take a Bow", trình diễn gốc bởi Rihanna, đã giúp tập phim thứ hai "Showmance" tăng lên 189% lượng người xem tính riêng tại Mỹ.[111]

Dù vậy, vẫn còn một số bài hát của sê-ri không nhận được nhiều đánh giá cao, như Jon Dolan của Rolling Stone cho rằng Matthew Morrison "không thể rap với giọng hát kiểu 98 Degrees của anh" và Andrew Leahey từ Allmusic thì cho rằng Cory MonteithDianna Agron "còn hát tệ hơn cả những diễn viên phụ".[113] Joal Ryan của E! Online chỉ trích việc bộ phim "sử dụng quá nhiều kỹ thuật trong nhạc phim" khi cho rằng nhiều ca khúc lạm dụng kỹ thuật Auto-Tune, nhận xét: "Dù trong những giây phút ngắn khi Lea Michele hát thật và khiến tôi cảm giác rất dễ thương trong "What a Girl Wants," hay Monteith hát dưới vòi hoa sen bài hát của REO Speedwagon. Nhưng họ còn chính là những người xuất hiện trong phiên bản Cher thập niên 1990 của "No Air," hay chiếc máy Monteith XRZ-200 trong phiên bản ra-khỏi-phòng-tắm của "Can't Fight This Feeling".[114]

Trong khi thực hiện mùa phim thứ hai, Rob Sheffield của Rolling Stone khen ngợi hai tập phim thuộc chủ đề Britney SpearsRocky Horror cũng như sự lựa chọn chuẩn xác của họ. Anh khen ngợi Murphy bởi những lựa chọn ca khúc, cho rằng anh đã hồi sinh những ca khúc nhạc pop "bị lãng quên" và so sánh chương trình với "thời hoàng kim của MTV" trong tư cách là một khán giả của văn hóa đại chúng.[115]

Một vài nghệ sĩ như Slash, Kings of Leon, Red Hot Chili PeppersFoo Fighters đã từ chối việc sử dụng ca khúc của mình trong phim và khiến người đồng sáng lập, Ryan Murphy khá tức giận vì quyết định của họ và anh thường xuyên tấn công những nghệ sĩ này trên các phương tiện truyền thông.[116]

Hâm mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Những người hâm mộ của Glee đã được bộ phim gọi bằng tên là "gleek",[117] sự kết hợp giữa từ "glee" và "geek" (tạm dịch: kẻ quái gở). Fox sau đó đã tổ chức cuộc thi "Người GLEEK nhất", kêu gọi những người hâm mộ tham gia vào những chủ đề liên quan đến bộ phim trên những trang mạng xã hội như FacebookMySpace hay tham gia vào những chiến dịch quảng bá của chương trình ngoài đường phố.[118] Tour lưu diễn của nhóm tại Hot Topic cũng được đặt tên là "The Gleek Tour".[22] Glee sau đó đã trở thành một trong những chương trình truyền hình được tweet nhiều nhất trên Twitter.[119] "Gleek" sau đó cũng đã tái tạo nhiều màn trình diễn của bộ phim và đăng tải lên YouTube. Cũng chính vì làn sóng này mà nhà sản xuất đã quyết định cho thêm vài ca khúc không lời trong những album nhạc phim của Glee.[119]

Ngoài ra, những người hâm mộ Glee đồng thời cũng ghép tên của những cặp đôi mà yêu thích trong phim, tương tự như "Finchel" cho Finn và Rachel, "Klaine" cho Kurt và Blaine, và "Brittana" cho Brittany và Santana. Việc ghép tên này đồng thời cũng được sử dụng trong một vài tập phim của mùa hai, đáng chú ý nhất là "Furt", tên của tập phim này đồng thời cũng là tên ghép của hai anh em Finn và Kurt, cùng tập "Rumours".[120][121]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Lynch đã nhận được tổng cộng 18 đề cử khác nhau (tám thắng), người chiến thắng nhiều nhất trong dàn diễn viên của bộ phim.

Glee nhận được rất nhiều giải thưởng và đề cử. Năm 2009, bộ phim đã thắng năm Giải Satellite, gồm: "Sê-ri Truyền hình Nhạc kịch hay Hài kịch Xuất sắc nhất", "Nam diễn viên" và "Nữ diễn viên trong một Sê-ri truyền hình Nhạc kịch hay Hài kịch Xuất sắc nhất" cho Morrison và Michele, "Nữ diễn viên phụ Xuất sắc nhất" cho Lynch và "Giải thưởng Đặc biệt cho Khách mời Nổi tiếng Xuất sắc nhất", Kristin Chenoweth.[122] Năm 2010, chương trình đã giành được một giải Quả Cầu Vàng cho "Phim truyền hình Xuất sắc nhất - Nhạc kịch hay Hài kịch". Morrison, Michele và Lynch đồng thời cũng nhận được đề cử cho phần diễn xuất của mình.[123] Sê-ri sau đó đã tiếp tục nhận được hai giải Writers Guild of America Award, cho hạng mục "Sê-ri Hài" và "Sê-ri Phim mới Xuất sắc nhất".[124] Dàn diễn viên của Glee đồng thời còn nhận được giải "Phần trình diễn Xuất sắc bởi một Tập thể trong một Sê-ri phim Hài" tại Screen Actors Guild Awards lần thứ 16.[125] Paris Barclay và Murphy đều nhận được đề cử cho hạng mục "Chỉ đạo Xuất sắc Nhất – Sê-ri Hài" tại lễ trao giải Directors Guild of America Awards.[126] Vào tháng 7 năm 2010, Glee đã nhận được 19 đề cử Giải Emmy, trong đó gồm "Sê-ri Hài Xuất sắc nhất", "Nam diễn viên chính Xuất sắc nhất – Sê-ri Hài" cho Morrison và "Nữ diễn viên chính Xuất sắc nhất – Sê-ri Hài" cho Michele; bộ phim sau đó đã thắng tổng cộng 4 giải Emmy, trong đó có "Nữ diễn viên phụ Xuất sắc nhất trong một Sê-ri Hài" cho Lynch và "Phần xuất hiện Khách mời bởi một Nam diễn viên Xuất sắc nhất trong một Sê-ri Hài" cho Neil Patrick Harris.[127]

Ngày 16 tháng 1 năm 2011, bộ phim đã tiếp tục giành được một giải Quả Cầu Vàng cho "Phim truyền hình Xuất sắc nhất - Nhạc kịch hay Hài kịch". Đồng thời, Lynch và Colfer đều thắng hạng mục "Nữ diên viên phụ" và "Nam diễn viên phụ Xuất sắc nhất trong một Sê-ri Truyền hình, Sê-ri phim nhỏ hay Phim truyền hình".[128] Vào tháng 7 năm 2011, Glee đã nhận được 12 đề cử giải Emmy nhưng vẫn chưa được công bố.[127]

Dàn diên viên của bộ phim đồng thời còn được mời đến Nhà Trắng để trình diễn trước phu nhân Michelle Obama vào tháng 4 năm 2010 cho lễ hội thường niên Lăn Trứng Phục Sinh.[129]

Số lượng người xem[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách số lượng người xem theo từng mùa
Mùa Thời gian Trình chiếu (ET) Ngày bắt đầu Ngày kết thúc Mùa TV Vị trí Số lượng người xem
(triệu người)
1 9:00 giờ tối, thứ Tư (2009)
9:00 tối, thứ Ba (2010)
19 tháng 5 năm 2009 8 tháng 6 năm 2010 2009–2010 Thứ 33 (tổng thể)[130] 9.77[130]
2 8:00 tối, thứ Ba (2010–2011)[54]
10:38 giờ tối, Chủ Nhật (6 tháng 2 năm 2011)
9:00 giờ tối, thứ Ba (24 tháng 5 năm 2011)[131]
21 tháng 9 năm 2010 24 tháng 5 năm 2011 2010–2011 Thứ 43 10.112<[132]
3 8:00 giờ tối, thứ Ba (2011–2012)[133] 20 tháng 9 năm 2011 Chưa công bố 2011–2012 Chưa công bố Chưa công bố

Tập phim đầu tiên của Glee đã thu hút tổng cộng 9.62 triệu người xem,[134] và 11 tập phim sau đó có số lượng từ 6.10 đến 7.65 triệu người.[135][136] Tập cuối giữa mùa một của Glee thu hút 8.13 triệu người xem,[137] nhưng đến khi chương trình trở lại vào tháng 4 năm 2010, chương trình đã thu hút khá nhiều khán giả khi 13.66 triệu người đã theo dõi tập phim này.[138] 6 tập tiếp theo của bộ phim trung bình từ 11.49 đến 12.98 triệu người xem,[139][140] và sau đó rơi xuống 8.99 triệu người trong tập kế chót, "Funk".[141] Dù vậy, trong tập phim cuối mùa 1, lượng người xem bắt đầu tăng vọt lên với 11.07 triệu người xem,[142] giúp Glee trở thành chương trình mới thu hút nhất trong mùa truyền hình 2009-10.[143] Dù vậy, những thống kê của mùa 1 chỉ lấy 20 tập đầu tiên, còn những tập còn lại chủ yếu được tính trung bình thay vì phải đi thăm dò bằng cách truyền thống.[144] Vào ngày 6 tháng 3 năm 2011, sau lễ trao giải Superbowl, Glee nhận được số lượng người xem cao ngất ngưỡng là 26.8 triệu người, gần bằng số lượng người xem của Superbowl là 39.5 triệu người.[145]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Glee: The 3D Concert Movie, là một bộ phim trình diễn chủ yếu gồm những cảnh quay từ bốn tuần lưu diễn của nhóm tại Bắc Mỹ trong khuôn khổ của tour lưu diễn Glee Live! In Concert! năm 2011 cùng những màn trình diễn của dàn diễn viên học sinh và những thước phim hậu trường kèm theo. Bộ phim đã được phát hành vào ngày 12 tháng 8 năm 2011 tại Mỹ nhưng chỉ giới hạn trong hai tuần trình chiếu. Phim được Kevin Tancharoen đảm nhiệm vai trò đạo diễn.[1]

Những phương tiện truyền thông liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Ca sĩ Anastacia tại lễ trao giải Women's World Award năm 2009, là một trong những ban giám khảo của chương trình Don't Stop Believing.

Vào tháng 1 năm 2010, bộ phim đã thông báo rằng họ sẽ tổ chức một buổi tuyển chọn diễn viên cho ba vai diễn mới trong mùa 2 của Glee. Họ sẽ tuyển chọn những diễn viên có kinh nghiệm từ 16 đến 26 tuổi, người chiến thắng sẽ xuất hiện trong bộ phim tài liệu hai phần và sẽ dẫn đầu bộ phim vào mùa thu 2010 trong tập phim đầu tiên.[50] Murphy nhận xét rằng: "Mọi người nay đã có được cơ hội để trở thành một phần trong chương trình về những tài năng bị bỏ mặc. Chúng tôi muốn trở thành những người đầu tiên tương tác với chủ đề nhạc-hài kịch trên truyền hình."[146] Vào ngày 22 tháng 6, Josef Adalian của tạp chí New York đã tiết lộ rằng chương trình thực tế này sẽ không được thực hiện vì Murphy chỉ muốn tập trung vào sêri chính, anh sợ rằng chương trình này sẽ phá hoại sự nghiệp của Glee. Nhưng Adalian cũng đã thông báo rằng đội sản xuất vẫn sẽ chọn một vài người chiến thắng và họ sẽ xuất hiện trong Glee ít nhất một tập phim.[147] Vào tháng 6 năm 2010, bộ phim đã thông báo rằng kênh Oxygen sẽ thực hiện một chương trình thực tế và được phát sóng vào tháng 6 năm 2011, chủ yếu xoay quanh về những màn trình diễn được trình bày do các thí sinh và một trong số họ sẽ trở thành người xuất hiện trong Glee.[148][149]

Vào ngày 7 tháng 6 năm 2010, hãng truyền hình Anh Kênh 4 đã thực hiện chương trình Gleeful: The Real Show Choirs of America, được phát sóng trên kênh E4. Bộ phim tài liệu này chủ yếu khám phá cuộc sống của một nhóm hát lấy cảm hứng từ Glee.[150] Dẫn chương trình bởi Nick Grimshaw,[151] chương trình đã tiết lộ những thước phim đời thật của những nhóm hát tại Mỹ, đồng thời, tiết lộ thêm về những hình ảnh của các ngôi sao khi họ từng là thành viên của nhóm hát khi học trung học như Lance Bass, Ashton Kutcher, Blake LivelyAnne Hathaway.[152] Chương trình được chọn lọc bởi khán giả của The Guardian, cùng nhận xét: "nhóm New Directions thật lôi cuốn trong đời thật, tôi tin nhóm sẽ rất nổi tiếng và sẽ trở thành những người vô địch của truyền hình."[153] Nhà báo Lucy Mangan nhận xét về bộ phim tài liệu này khá tích cực khi cho rằng: "Nó sẽ bằng một hoặc nhiều cách làm cho trái tim của bạn bùng nổ", và nói thêm: "Glee hóa ra không phải là sự vẻ vang ngớ ngẩn, hay đánh bóng bằng cách trốn thoát khỏi xã hội. Nó chính là cinéma vérité (tạm dịch: điện ảnh thực sự)."[154] Chương trình sau đó đã nhận được số lượng người xem là 411,000 cùng 2.3% khán giả chia sẻ.[155]

Vào hè 2010, kênh Kênh 5 tại Anh đã phát sóng chương trình Don't Stop Believing, một cuộc thi tài năng được lấy cảm hứng từ bộ phim. Sê-ri này gồm những màn trình diễn trực tiếp của nhiều đội thí sinh khác nhau mỗi tuần, nhóm có số điểm bầu chọn cao nhất từ khán giả sẽ là người chiến thắng.[156] Ngoài ra, những ca sĩ solo nghiệp dư của Anh cũng sẽ được tìm kiếm bởi chương trình và họ sẽ tham gia vào một nhóm bất kỳ, cũng như giành được cơ hội chiến thắng cùng nhóm thi của họ.[157][158] Chủ tịch của kênh 5, Richard Woolfe phát biểu: "Đang có hiện tượng bùng nổ của những tiết mục trình diễn nhạc kịch và Don't Stop Believing sẽ giúp nó trở thành một hiện tượng bùng cháy hơn nữa."[159] Cuộc thi được Emma Bunton dẫn chương trình,[160] người đã chia sẻ với tờ The Belfast Telegraph rằng cô "rất hâm mộ" Glee.[161] Ngoài ra, Don't Stop Believing gồm bốn vị ban giám khảo gồm nữ diễn viên Tamsin Outhwaite, từng xuất hiện trong EastEnders, thành viên của nhóm Blue, Duncan James, ca sĩ Anastacia và biên đạo múa của High School Musical, Charles "Chucky" Klapow.[162]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

2009
2010
2011

Đĩa mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

2010

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă McClintock, Pamela (4 tháng 5 năm 2011). “"Glee Live! 3D!," featuring the North American tour, will be released Aug. 12.”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2011. 
  2. ^ a ă “Mount Prospect native helped create new Fox show 'Glee'”. Daily Herald. Truy cập 17 tháng 3 năm 2010. 
  3. ^ a ă Arado, Matt (19 tháng 5 năm 2009). “Mount Prospect native helped create new Fox show 'Glee'”. Daily Herald. Truy cập 19 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ a ă â b Fernandez, Maria Elena (26 tháng 4 năm 2009). “Will TV audiences watch with 'Glee'?”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập 1 tháng 6 năm 2009. 
  5. ^ a ă â b Schneider, Michael (23 tháng 7 năm 2009). “Fox greenlights 'Glee' pilot”. Variety (Reed Business Information). Truy cập 19 tháng 1 năm 2010. 
  6. ^ Silver, Curtis (7 tháng 12 năm 2009). “We're All Gleeks — 10 Questions for Glee Co-Creator Brad Falchuk”. Wired. Condé Nast Publications. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2012. Truy cập 19 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ Kelly, Mike (17 tháng 5 năm 2009). “'Glee' series set in a Lima high school has Toledo connection too”. The Blade. The Toledo Times. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009. 
  8. ^ Heldenfels, Rich (6 tháng 5 năm 2009). “The Heldenfiles — Glee-ful Ohio”. Akron Beacon Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  9. ^ Simpson, Melody (17 tháng 3 năm 2009). “Meet Cory Monteith & Naya Rivera of Glee”. Hollywood the Write Way. Truy cập 3 tháng 6 năm 2009. 
  10. ^ a ă Wyatt, Edward (15 tháng 5 năm 2009). “Not That High School Musical”. The New York Times. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  11. ^ a ă â b c Herrera, Monica (23 tháng 10 năm 2009). “Glee Rewrites the Script on TV Music”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  12. ^ a ă Kinon, Cristina (18 tháng 5 năm 2009). “'Glee' puts edgy spin on Top 40 tunes”. The Daily News. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009. 
  13. ^ Wyatt, Edward (11 tháng 10 năm 2009). “From 'Cabaret' to Kanye, Songs of 'Glee' Are a Hit”. The New York Times. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  14. ^ Kugel, Allison (26 tháng 4 năm 2010). “Glee Star Chris Colfer Shares His Best Behind-the-Scenes Moments and Surreal Adventures”. PR.com. Truy cập 28 tháng 5 năm 2011. 
  15. ^ a ă â Donahue, Ann (13 tháng 12 năm 2010). “"Glee" throws lifeline to music industry”. Billboard. Los Angeles. Reuters. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  16. ^ “Coldplay gets a Glee-over”. Inside Ireland. 16 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  17. ^ Bryan Adams tells Glee Creator to "Pick up the Phone"!
  18. ^ Malkin, Marc (29 tháng 7 năm 2009). “An Afternoon Filled With Glee. E! Online. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2009. 
  19. ^ Frankel, Daniel (13 tháng 1 năm 2009). “'Glee' gets songs for free”. Variety. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  20. ^ “'Glee': Music producer Adam Anders spills details on the show's upcoming original music – EXCLUSIVE”. Entertainment Weekly. 23 tháng Hai năm 2011. Truy cập 17 tháng Sáu năm 2011. 
  21. ^ a ă Carter, Kelley L. (18 tháng 5 năm 2009). “Broadway star Morrison gets all keyed up for 'Glee'”. USA Today. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  22. ^ a ă “Photo Flash: The GLEE 'GLEEK' Tour Hits The Road”. Broadway World. 20 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  23. ^ Ghosh, Korbi (16 tháng 10 năm 2009). “'Glee' cast to sing the national anthem at the World Series”. Zap2it. Tribune Media Services. Truy cập 21 tháng 2 năm 2010. 
  24. ^ TMZ staff (12 tháng 10 năm 2009). “'Glee' cast dumped from Macy's parade”. TMZ. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2009. 
  25. ^ Dos Santos, Kristin (12 tháng 10 năm 2009). “Glee Bumped From Macy's Parade”. E! Online. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2009. 
  26. ^ Armstrong, Jennifer (13 tháng 10 năm 2009). “'Glee' creator Ryan Murphy responds to cast being pulled from Macy's parade”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2009. 
  27. ^ Little, Lyneka (2 tháng 3 năm 2010). “Julianne Moore Gets Soapy; 'Glee' Tours; Holt Halts Hiroshima Book”. The Wall Street Journal (Dow Jones & Company). Truy cập 4 tháng 3 2010. 
  28. ^ Keck, William (7 tháng 1 năm 2010). “Glee is Moving to Cleveland”. TV Guide. Truy cập 22 tháng 2 năm 2010. 
  29. ^ “Breaking News — STARS ALIGN IN SPRINGFIELD FOR SEASON 22 OF "THE SIMPSONS"”. The Futon Critic. 
  30. ^ “Glee”. TVGuide.com. 9 tháng 9 năm 2010. 
  31. ^ “PTC: Sexualized GQ Photo Shoot of "Glee" Cast Crosses the Line” (Thông cáo báo chí). Parents Television Council. 20 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  32. ^ “Glee Live Tour 2011: Performance Dates”. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  33. ^ “Glee cast on X Factor semi-finals”. BBC Radio 1. BBC. 25 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  34. ^ a ă â b Martin, Denise (26 tháng 4 năm 2009). “Video: 'Glee' team rewrites the school musical”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009. 
  35. ^ Andreeva, Nellie (23 tháng 4 năm 2009). “Trio promoted to series regulars”. The Hollywood Reporter. Truy cập 20 tháng 5 năm 2009. 
  36. ^ a ă Itzkoff, David (18 tháng 5 năm 2009). “Jane Lynch Brings Her Inner Mean Girl to 'Glee'”. The New York Times. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009. 
  37. ^ Tyler, Matt (21 tháng 6 năm 2010). “Glee The Movie Coming Soon”. The Film Stage. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  38. ^ “'Glee' movies? Stars are already signed on for a trilogy”. Zap2it. Tribune Media Services. 18 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2010. 
  39. ^ Abrams, Natalie (18 tháng 5 năm 2009). “Time to Get Happy with the Cast of Glee. E! Online. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  40. ^ a ă â Wieselman, Jarett (19 tháng 5 năm 2009). “Meet The Cast of 'Glee,' I Did!”. tr. New York Post. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  41. ^ “Chris Colfer as Kurt Hummel”. Fox. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  42. ^ Wightman, Catriona (28 tháng 4 năm 2010). “'Glee' Rivera, Morris to become regulars”. Digital Spy. Truy cập 28 tháng 6 năm 2010. 
  43. ^ Ghosh, Korbi (13 tháng 7 năm 2010). “GLEE Exclusive: Mike O’Malley Made Series Regular for Season 2, Plus More Show Intel...”. GiveMeMyRemote.com. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2010. 
  44. ^ Oldenburg, Ann. “'Glee' kids to graduate next year”. USA Today. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2011. 
  45. ^ Schneider, Michael (1 tháng 12 năm 2009). “'Glee' co-creator gets big Fox deal”. Variety. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009. 
  46. ^ “FOX Holds "Glee" Tryouts After "American Idol" Tuesday, May 19” (Thông cáo báo chí). The Futon Critic. 5 tháng 3 năm 2009. Truy cập 14 tháng 8, 2011. 
  47. ^ Matt Mitovich (28 tháng 7 năm 2009). “Fox Moves Up Two Fall Premieres; Plus a Glee Video Preview”. TV Guide. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2009. 
  48. ^ “Fox sings praises of "Glee" with full-season pickup” (Thông cáo báo chí). The Futon Critic. 21 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009. 
  49. ^ “FOX Announces Primetime Slate for 2009-2010 Season” (Thông cáo báo chí). The Futon Critic. 18 tháng 5 năm 2009. Truy cập 14 tháng 8, 2011. 
  50. ^ a ă “Gleeks Rejoice! FOX Picks Up Second Season of "Glee"” (Thông cáo báo chí). The Futon Critic. 11 tháng 1 năm 2010. Truy cập 14 tháng 8 năm 2011. 
  51. ^ Abrams, Natalie (11 tháng 1 năm 2010). “Glee Picked Up For Season 2”. TV Guide. Truy cập 11 tháng 1 năm 2010. 
  52. ^ Gorman, Bill (13 tháng 7 năm 2010). “Fox Announces Fall Premiere Dates For 2010–11 Season”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2010. 
  53. ^ Krakauer, Steve (17 tháng 5 năm 2010). “Smooth Transition? FOX Picks 'Glee' For Post-Super Bowl Slot”. Mediaite. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2011. 
  54. ^ a ă Rice, Lynette (19 tháng 11 năm 2010). “Fox moves 'American Idol' to Wednesdays and Thursdays”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2010. 
  55. ^ Adalian, Josef (19 tháng 11 năm 2010). “Fox Moves American Idol to Thursday, a Potentially Bad Sign for ABC and NBC Comedies”. New York. New York Media Holdings. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2010. 
  56. ^ Rice, Lynette (23 tháng 5 năm 2010). “'Glee' earns season 3 pickup from Fox (EW Exclusive)”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2010. 
  57. ^ Knox, David (4 tháng 9 năm 2009). “Glee to visit Oz”. TV Tonight. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2009. 
  58. ^ “Glee”. Global Television Network. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2009. 
  59. ^ Smith, Jacqueline (22 tháng 10 năm 2009). “A chorus of approval for 'Glee'”. New Zealand Herald. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009. 
  60. ^ “Fuji Tv”. Truy cập 11 tháng 1 năm 2010. 
  61. ^ “Glee beamed direct to M-Net”. Screen Africa. 30 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2009. 
  62. ^ “Glee pilot date announced”. E4. 23 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2009. 
  63. ^ “Choras (Glee)” (pdf) (bằng Lithuanian). TV3. 17 tháng 9 năm 2010. Truy cập 28 tháng 4 năm 2011. 
  64. ^ Catterson, Maureen; Byrne, Ciara (26 tháng 4 năm 2010). “TV3 takes to the road to promote the return of the hit series, Glee” (Thông cáo báo chí). TV3. Truy cập 18 tháng 5 năm 2010. 
  65. ^ “Glee coming to town”. The Philippine Star. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009. 
  66. ^ “Star World”. STAR World. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  67. ^ “Glee, The Vampire Diaries, KAMII and more coming to a small screen near you in 2010!”. klue.com.my. 2 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  68. ^ “Glee Premieres 9th June On Channel 5”. MediaCorp. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2010. 
  69. ^ “Glee in Globo”. Organizações Globo. 1 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  70. ^ “Glee on Fox Series”. Fox Series. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2012. 
  71. ^ “STAR World - Glee”. STAR World. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2011. 
  72. ^ “Glee Cast: Glee: The Music, Volume 1”. Glee: The Music. Truy cập 14 tháng 8 năm 2011. 
  73. ^ “Glee: The Music – Volume 2 – Glee Cast”. JB Hi-Fi Online.com.au. Truy cập 13 tháng 4 năm 2010. 
  74. ^ “'Glee: The Music, Vol. 3 - Showstoppers' at Tommy2.net”. Truy cập 19 tháng 4 năm 2010. 
  75. ^ “Glee: The Music, The Power of Madonna”. Amazon.com. Truy cập 1 tháng 6 năm 2010. 
  76. ^ “Glee Cast: Glee: The Music, Journey To Regionals”. Glee: The Music. Truy cập 14 tháng 8 năm 2011. 
  77. ^ “Glee: The Music, The Complete Season One by Glee Cast”. iTunes Store. 14 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010. 
  78. ^ “Glee: The Music, The Christmas Album”. Billboard. e5 Global Media. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010. 
  79. ^ “Susan Boyle Glee cameo confirmed by Ryan Murphy”. entertainment.stv.tv. STV Group plc. 24 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010. 
  80. ^ “Glee: The Music, Volume 4 Available November 30” (Thông cáo báo chí). PR Newswire. 9 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010. 
  81. ^ “Glee Debuts Original Songs on Glee: The Music, Volume 5 Available March 8” (Thông cáo báo chí). PR Newswire. 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập 2 tháng 3 năm 2011. 
  82. ^ “Glee: The Music Presents The Warblers Available April 19” (Thông cáo báo chí). New York: Columbia Records. PR Newswire. 23 tháng 3 năm 2011. Truy cập 23 tháng 3 năm 2011. 
  83. ^ “Glee: The Music, Volume 6 Available Monday, May 23 but 27 of may in australia” (Thông cáo báo chí). New York: Columbia Records. PR Newswire. 3 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2011. 
  84. ^ “Glee: The Music — The Rocky Horror Glee Show”. Barnes & Noble. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010. 
  85. ^ Lambert, David (4 tháng 9 năm 2009). “Glee — Exclusively at Walmart, Fox Announces a Pilot Episode: Director's Cut DVD”. TV Shows on DVD. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2009. 
  86. ^ Lambert, David (7 tháng 10 năm 2009). “Glee DVD news: Official Announcement for Glee — Season 1, Volume 1: Road to the Sectionals”. TV Shows on DVD. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2009. 
  87. ^ “Glee – Season 1, Volume 2 – Road to Regionals (DVD)”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2010. 
  88. ^ “Glee — Complete Season 1 (DVD)”. Amazon.co.uk. 28 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2010. 
  89. ^ Sellers, John A. (10 tháng 6 năm 2010). “Little, Brown Launching 'Glee' Publishing Program”. Publishers Weekly. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  90. ^ “Glee: The Beginning: An Original Novel (Glee Original Novels) (Paperback)”. Amazon.com. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010. 
  91. ^ Relaxnews (9 tháng 6 năm 2010). “First official 'Glee' novel due out in late summer”. The Independent (UK). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010. 
  92. ^ “Glee: Summer Break: An Original Novel (Glee (Quality)) (Paperback)”. Amazon.com. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  93. ^ Adalian, Josef (3 tháng 8 năm 2010). “Paul McCartney Reveals His Inner Gleek, Sends Ryan Murphy A Mixtape”. New York. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2010. 
  94. ^ Keller, Joel (2 tháng 8 năm 2010). “Coming to 'Glee' Season 2: Original Music, a Sue Sylvester Book, a Second Theme Show — TCA Report”. TV Squad. Weblogs, Inc. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2010. 
  95. ^ Szalai, Georg (10 tháng 6 năm 2010). “'Glee' merchandise to hit stores in fall”. The Hollywood Reporter. Nielsen Company. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010. 
  96. ^ Stanley, T.L. (8 tháng 6 năm 2010). “Dress yourself in ‘Glee’: TV shows go licensing crazy”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010. 
  97. ^ “Glee Season One”. Metacritic. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2009. 
  98. ^ Poniewozik, James (8 tháng 12 năm 2009). “The Top 10 Everything of 2009”. Time. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009. 
  99. ^ Tucker, Ken (21 tháng 12 năm 2009). “10 Best TV Series of 2009: Ken Tucker's Picks”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2009. 
  100. ^ Respers France, Lisa (23 tháng 12 năm 3009). “Some of the best of 2009's TV”. CNN. Truy cập 2 tháng 1 năm 2010. 
  101. ^ “Worst TV Show of the Week”. Parents Television Council. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2009. 
  102. ^ Gibbs, Nancy (7 tháng 12 năm 2009). “The Gospel of Glee”. Time. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  103. ^ Lowry, Brian (14 tháng 5 năm 2009). “Glee”. Variety. Truy cập 3 tháng 6 năm 2009. 
  104. ^ Lowry, Brian (5 tháng 9 năm 2009). “Glee”. Variety. Truy cập 6 tháng 9 năm 2009. 
  105. ^ Lowry, Brian (29 tháng 12 năm 2009). “2009: No room for error”. Variety (Reed Business Information). Truy cập 31 tháng 12 năm 2009. 
  106. ^ Doyle, John (25 tháng 5 năm 2010). “These Days, I'm Watching Glee with hint of Dread”. The Globe and Mail (Canada: CTVglobemedia). Truy cập 14 tháng 8 năm 2010. 
  107. ^ “Exclusive: Inside the Hot Business of 'Glee'. The Hollywood Reporter. Lori Burgess. 25 tháng 1 năm 2011. tr. 2. Truy cập 26 tháng 1 năm 2011. 
  108. ^ Trust, Gary (29 tháng 12 năm 2009). “Best Of 2009: By-The-Numbers”. Billboard. Truy cập 2 tháng 1 năm 2010. 
  109. ^ Trust, Gary (22 tháng 12 năm 2010). “Chart Beat: Best Of 2010: Part 4”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2011. 
  110. ^ Trust, Gary (24 tháng 11 năm 2010). “Weekly Chart Notes: Rihanna, Gwyneth Paltrow, the Beatles”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010. 
  111. ^ a ă Serjeant, Jill (9 tháng 11 năm 2009). “"Glee" brings joy to beleaguered music industry”. Reuters. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  112. ^ “RIAA Gold & Platinum”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  113. ^ Leahey, Andrew. “Review: Glee: The Music, Vol. 1. Allmusic. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2009. 
  114. ^ Ryan, Joal (23 tháng 10 năm 2009). “Glee's Great, but the Music Ain't”. E! Online. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2009. 
  115. ^ Sheffield, Rob (11 tháng 11 năm 2010). “Sheffield: How 'Glee' Became a Pop-Culture Juggernaut”. Rolling Stone. Jann Wenner. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  116. ^ Grohl, Dave (18 tháng 3 năm 2011). “Glee Diss Alert! This Time It's Head Foo Fighter Dave Grohl Piling On”. E! Online. Truy cập 19 tháng 3 năm 2011. 
  117. ^ Schott, Ben (16 tháng 9 năm 2009). “Schott's Vocab”. The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  118. ^ Stelter, Brian (1 tháng 9 năm 2009). “A Long Wait Stirs Enthusiasm for Fox Show 'Glee'”. The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  119. ^ a ă Hiltbrand, David (18 tháng 11 năm 2009). “Gaga for Glee: Gleeks delight in online mimicry of TV show's musical numbers”. The Vancouver Sun. Canada: Pacific Newspaper Group. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009. 
  120. ^ Arrow, Jennifer (23 tháng 11 năm 2010). Glee-Dux: Do You Believe in True Bromance?”. E! Online (NBCUniversal). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  121. ^ Mullins, Jenna (3 tháng 5 năm 2011). Glee-Dux: We've Got All the Hot Gossip—and Then Some!”. E! Online (NBCUniversal). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2012. 
  122. ^ “2009 14th Annual Satellite Awards Nominees and Winners”. International Press Academy. 20 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2009. 
  123. ^ “Nominations & Winners”. Golden Globes. Hollywood Foreign Press Association. Truy cập 18 tháng 1 năm 2010. 
  124. ^ “2010 WGA Awards TV Nominees Announced” (Thông cáo báo chí). Writers Guild of America. 14 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009. 
  125. ^ “Nominations announced for the 16th annual Screen Actors Guild awards” (Thông cáo báo chí). Screen Actors Guild Awards. 17 tháng 12 năm 2009. Truy cập 24 tháng 12 năm 2009. 
  126. ^ “Nominees for Directorial Achievement in Movies for Television/Mini-Series, Dramatic Series Night, Comedy Series, Musical Variety, Reality Programs, Daytime Serials, Children's Programs, Commercials” (Thông cáo báo chí). Directors Guild of America. 8 tháng 1 năm 2010. Truy cập 8 tháng 1 năm 2010. 
  127. ^ a ă “Glee”. Academy of Television Arts and Sciences. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  128. ^ “Nominations & Winners: 2010”. Golden Globes. Hollywood Foreign Press Association. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2011. 
  129. ^ “Glee cast to sing at the White House”. BBC News. 15 tháng 3 năm 2010. Truy cập 16 tháng 3 năm 2010. 
  130. ^ a ă “Deadline Hollywood”. ZDeadline Hollywood. 28 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2010. 
  131. ^ “Showatch”. The Futon Critic. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 
  132. ^ Gorman, Bill (1 tháng 6 năm 2011). “2010-11 Season Broadcast Primetime Show Viewership Averages”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2011. 
  133. ^ “Fox Announces Primetime Slate for 2011-2012 Season - ComingSoon.net”. ComingSoon.net. 16 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 
  134. ^ Seidman, Robert (20 tháng 5 năm 2009). “Top Fox Primetime Shows, May 18–24, 2009”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2009. 
  135. ^ Grieser, Andy (26 tháng 11 năm 2009). “TV Ratings: CBS' 'Criminal Minds' overshadows NBC's 'The Biggest Loser'”. Zap2it. Tribune Media Services. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2009. 
  136. ^ Seidman, Robert (15 tháng 10 năm 2009). “Wednesday, October 14, 2009 Broadcast Final Finals”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  137. ^ Seidman, Robert (10 tháng 12 năm 2009). “Broadcast Finals: Glee rises to season high; Criminal Minds up; The Middle, Gary Unmarried down a tick”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2009. 
  138. ^ Gorman, Bill (14 tháng 4 năm 2010). “Broadcast Finals Tuesday: Dancing, Lost Adjusted Up; V Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập 14 tháng 4 năm 2010. 
  139. ^ Gorman, Bill (26 tháng 5 năm 2010). “TV Ratings: Idol, Glee Tops; NCIS: LA, Good Wife Hit Lows”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2010. 
  140. ^ Gorman, Bill (21 tháng 4 năm 2010). “Broadcast Finals Tuesday: Lost, Idol Adjusted Up; Glee, V Adjusted Down”. TV by the Numbers. Truy cập 21 tháng Tư năm 2010. 
  141. ^ Gorman, Bill (2 tháng 6 năm 2010). “TV Ratings Tuesday: America's Got Talent Opens Up; But Hell's Kitchen + Glee Put Fox On Top”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2010. 
  142. ^ Porter, Rick (9 tháng 6 năm 2010). “TV ratings: 'Glee' finale solid, but NBA Finals win Tuesday”. Zap2it. Tribune Media Services. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  143. ^ Gorman, Bill (9 tháng 6 năm 2010). “Tuesaday TV Ratings: NBA Finals Rise, Glee Finishes Strong”. TV by the Numbers. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2010. 
  144. ^ “Deadline.com: Full Series Rankings for The 2009–2010 Broadcast Season”. 27 tháng 5 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |source= (trợ giúp)
  145. ^ Sunday Final Ratings: Super Bowl Demos Galore, Plus 'Glee' 15 Minute Detail
  146. ^ Schneider, Michael (11 tháng 1 năm 2010). “Fox execs in informal talks with O'Brien's reps”. Variety (Reed Business Information). Truy cập 12 tháng 1 năm 2010. 
  147. ^ Adalian, Josef (22 tháng 6 năm 2010). “Fox’s Plans for a Glee Reality Show Have Been Quietly Shelved”. New York. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  148. ^ Stelter, Brian (29 tháng 6 năm 2010). “Join the ‘Glee’ Club”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  149. ^ Stack, Tim (29 tháng 6 năm 2010). “'Glee' reality show to air on Oxygen along with episodes of the original series”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  150. ^ “Gleeful: The Real Show Choirs of America”. UK: Channel 4. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  151. ^ Simon, Jane (7 tháng 6 năm 2010). “Gleeful: The real show choirs of America: E4, 10pm”. Daily Mirror. UK: Trinity Mirror. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  152. ^ “Gleeful: The Real Show Choirs Of America”. tv.sky.com. British Sky Broadcasting. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  153. ^ Robinson, John; Stubbs, David; Wright, Jonathan; Nicholson, Rebecca; Hodgkinson, Will (7 tháng 6 năm 2010). “Watch this”. The Guardian (UK: Guardian Media Group). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  154. ^ Mangan, Lucy (8 tháng 6 năm 2010). “Cable girl: Gleeful”. The Guardian (UK: Guardian Media Group). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  155. ^ Deans, Jason (8 tháng 6 năm 2010). “TV ratings: Father & Son launches with 5.2m viewers”. The Guardian (UK: Guardian Media Group). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  156. ^ “About the Show”. Channel 5. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  157. ^ “Don't Stop Believing”. Shine TV. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  158. ^ “Emma Bunton interview” (video). Channel 5. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  159. ^ French, Dan (18 tháng 3 năm 2010). “Five plots 'Glee'-like reality series”. Digital Spy. Truy cập 21 tháng 6 năm 2010. 
  160. ^ McCabe, Maisie (17 tháng 5 năm 2010). “Bunton to present GroupM's 'Don't Stop Believing' on Five”. Media Week. Haymarket Media Group. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  161. ^ “Emma Bunton shows glee over Glee”. The Belfast Telegraph. Independent News & Media. 21 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  162. ^ Kilkelly, Daniel (11 tháng 6 năm 2010). “Five's 'Don't Stop' judges revealed”. Digital Spy. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền vị:
Undercover Boss
2010
Chương trình chiếu vào giờ Vàng của Siêu Cúp
Glee
2011
Kế vị
The Voice
2012