Danh sách đĩa đơn của Madonna

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của Madonna
Picture of a middle-aged blond woman uptill the waist, singing in front of a microphone. Her hair is in waves and falls up to her shoulders. She appears to be wearing a black bra covered with a sleeveless netted covering and wears a white hat on her head. There are black gloves on her hand and she plays an electric guitar.
Madonna biểu diễn trong Sticky & Sweet Tour
Các đĩa nhạc
Đĩa đơn 75
Đĩa đơn quảng bá 9
Xuất hiện khác 15

Danh sách đĩa đơn của nữ ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna bao gồm 75 đĩa đơn chính thức, 9 đĩa đơn quảng bá và 13 đĩa đơn góp giọng với tư cách khách mời. Năm 1982, Madonna ký kết hợp đồng thu âm với Sire Records, một nhãn hiệu sở hữu bởi Warner Bros. Records, đồng thời phát hành hai đĩa đơn trước khi tung ra album khởi nghiệp cùng tên.[1] Đĩa đơn đầu tiên của cô với phong cách nhạc dance mang tên "Everybody" phát hành ngày 6 tháng 10 năm 1982 trở thành một bản hit khi đứng hạng 3 trên bảng xếp hạng Billboard Hot Dance Club Play tuy không có mặt trong bảng xếp hạng chính Billboard Hot 100. Đĩa đơn đầu tiên của cô xếp hạng trên Hot 100 là "Holiday", đứng hạng 16.[2] Hai đĩa đơn còn lại được phát hành từ album khởi nghiệp bao gồm "Borderline" và "Lucky Star" và đều lọt vào tốp 10 của Hot 100.[2] Năm 1984, Madonna phát hành "Like a Virgin", ca khúc "tủ" đạt vị trí quán quân tại Mỹ, CanadaÚc. Đây là đĩa đơn đầu tiên của cô đứng hạng nhất trên bảng Billboard Hot 100 và duy trì ở vị trí này trong 6 tuần liên tiếp.[3] Album Like a Virgin còn có thêm 3 đĩa đơn lọt vào tốp 5 tại Mỹ là "Material Girl", "Angel" và "Dress You Up".[4] Năm 1985, Madonna phát hành đĩa đơn quán quân thứ hai tại Mỹ, "Crazy for You" và đĩa đầu bảng đầu tiên tại Anh, "Into the Groove". Cả hai đĩa này đều trích từ album nhạc phim.[5][6] Với việc phát hành album phòng thu thứ 3 vào năm 1986 mang tên True Blue, Madonna có thêm 3 đĩa đơn quán quân tại Mỹ, lần lượt là "Live to Tell", "Papa Don't Preach" và "Open Your Heart". Hai đĩa đơn còn lại của album là "True Blue" và "La Isla Bonita" đều lọt vào tốp 5.[7] Năm 1987 cô gặt hái thêm một đĩa đầu bảng mang tên "Who's That Girl.[8][9] Năm 1989, Madonna phát hành đĩa đơn "Like a Prayer" trích từ album cùng tên và đạt vị trí quán quân tại Mỹ, Anh, Canada, Úc cùng nhiều quốc gia khác. Với thành tích này, cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên có được 7 đĩa đơn đầu bảng trong thập niên 1980 và là nữ nghệ sĩ đầu tiên có nhiều ca khúc quán quân như vậy.[10] Các đĩa đơn tốp 10 khác của album bao gồm "Express Yourself", "Cherish" và "Keep It Together". Nữ ca sĩ kết thúc một thập kỷ thành công trong sự nghiệp khi chỉ đứng sau Michael Jackson về số ca khúc đứng đầu bảng tại Mỹ.[11]

Năm 1990, Madonna phát hành "Vogue" trích từ album nhạc phim I'm Breathless. Đĩa đơn này đứng đầu các bảng xếp hạng của Anh, Canada, Úc cũng như Billboard Hot 100 của Mỹ.[12] Ca khúc quán quân thứ 9 và 10 của cô tại Mỹ là "Justify My Love" và bản ballad "This Used to Be My Playground", lần lượt được phát hành vào năm 1990 và 1992.[13][14] Album phòng thu thứ 5 mang tên Erotica (1992) không gặt hái được đĩa đơn đầu bảng nào, duy chỉ có ca khúc cùng tên và "Deeper and Deeper" lọt được vào tốp 10.[15] Năm 1995, Madonna phát hành ca khúc "Take a Bow" từ album thứ 6 mang tên Bedtime Stories. Đây là ca khúc thành công nhất của cô trên bảng xếp hạng Hot 100 khi đứng ở vị trí đầu bảng trong 7 tuần liên tiếp.[16] Một vài đĩa đơn tốp 10 được phát hành trong thời gian này có thể kể đến "Secret" (1994), "You'll See" (1995) và "Don't Cry For Me Argentina" (1996).[17][18][19] "Frozen", đĩa đơn mở đầu cho album thứ bảy Ray of Light (1998), là đĩa đơn đầu tiên của Madonna đạt vị trí quán quân tại Anh ngay trong tuần đầu tiên xếp hạng. Đây cũng là ca khúc số một đầu tiên của nữ ca sĩ tại Anh kể từ năm 1990, đánh dấu sự trở lại thành công của cô.[20] Đĩa đơn thứ hai của album, ca khúc cùng tên "Ray of Light" lọt vào tốp 10 tại một số quốc gia như Mỹ, Anh, Canada, Úc và Pháp.[21]

Năm 2000, Madonna phát hành album Music cùng với ba đĩa đơn: ca khúc cùng tên album - đĩa đơn quán quân thứ 12 của cô tại Mỹ,[22] "Don't Tell Me" và "What It Feels Like for a Girl".[23] "Die Another Day" (2002), bài hát trích từ bộ phim cùng tên về James Bond, lọt vào tốp 10 tại Mỹ.[24] Năm 2003, cô phát hành album thứ 9 mang tên American Life. Các đĩa đơn của album đều không thu được thành công về thương mại, ngoại trừ ca khúc chủ đề trở thành ca khúc hit quốc tế.[25] Năm 2005, Madonna phát hành "Hung Up", đĩa đơn đầu tiên trích từ album thứ 10 Confessions on a Dance Floor. Đây là ca khúc thành công nhất tính trên phạm vi toàn cầu của cô nhờ đứng đầu bảng xếp hạng của hơn 45 quốc gia và được sách Kỷ lục Thế giới Guinness (2007) ghi nhận là ca khúc đứng quán quân ở nhiều quốc gia hơn bất kỳ bài hát nào khác.[26] Với việc "Hung Up" được chứng nhận đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ (RIAA), Madonna vượt qua ban nhạc The Beatles với kỷ lục về số lượng đĩa đơn vàng tại Mỹ.[27] Đĩa đơn thứ hai của album mang tên "Sorry" là ca khúc đầu bảng thứ 12 của Madonna tại nước Anh.[28] "4 Minutes", đĩa đơn hợp tác cùng Justin TimberlakeTimbaland từ album Hard Candy (2008), đạt hạng 3 tại Billboard Hot 100, giúp Madonna phá vỡ kỷ lục của Elvis Presley về danh hiệu nghệ sĩ sở hữu nhiều ca khúc tốp 10 nhất trong lịch sử của bảng xếp hạng này.[29] Hiện tại Madonna là nghệ sĩ sô-lô có thứ hạng cao nhất trong danh sách các nghệ sĩ thành công nhất mọi thời đại của Billboard Hot 100.[30] Cô đồng thời cũng là nữ ca sĩ có nhiều ca khúc quán quân nhất trong lịch sử bảng xếp hạng của nước Anh (13 ca khúc)[31] và bảng xếp hạng Billboard Hot Dance Club Play (40 ca khúc).[32]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất Chứng nhận
(dựa trên doanh số)
Album
Mỹ
[33]
Club Mỹ
[32][33]
Úc
[34][35]
Áo
[36]
Canada
[33][37]
Pháp
[38]
Đức
[39]
Ý
[40][41]
Thuy Sỹ
[42]
LH Anh
[43]
1982 "Everybody"[A] 107 3 Madonna
1983 "Burning Up"[B] 3 13
"Holiday"[C] 16 1 4 32 9 26 18 2
1984 "Lucky Star"[D] 4 36 8 14
"Borderline"[E] 10 4 12 25 36 23 2
"Like a Virgin" 1 1 1 8 1 8 4 14 9 3 Like a Virgin
1985 "Material Girl" 2 1 4 8 4 47 13 18 15 3
  • LH Anh:  Bạc[44]
"Crazy for You"[F] 1 1 23 1 47 26 15 16 2 Vision Quest
"Angel" 5 1 1 5 31 17 5 Like a Virgin
"Into the Groove"[G] 6 2 3 1 2 1
"Dress You Up" 5 3 5 10 18 20 24 20 5
  • LH Anh:  Bạc[44]
"Gambler" 10 33 25 8 23 4
  • LH Anh:  Bạc[44]
Vision Quest
1986 "Live to Tell" 1 7 1 6 12 1 4 2
  • LH Anh:  Bạc[44]
  • Pháp:  Bạc[49]
True Blue
"Papa Don't Preach" 1 4 1 4 1 3 2 1 2 1
"True Blue" 3 6 5 9 1 6 6 4 6 1
"Open Your Heart" 1 1 16 18 8 24 17 6 11 4
  • LH Anh:  Bạc[44]
1987 "La Isla Bonita" 4 10 6 1 1 1 1 17 1 1
"Who's That Girl" 1 44 7 4 1 2 2 1 2 1
  • LH Anh:  Bạc[44]
  • Pháp: Vàng Vàng[49]
Who's That Girl
"Causing a Commotion" 2 1 7 14 2 14 5 9 4
"The Look of Love" 23 34 20 9
1988 "Spotlight"[H] 1 You Can Dance
1989 "Like a Prayer" 1 1 1 2 1 2 2 1 1 1
  • Mỹ:  Bạch kim[54]
  • LH Anh: Vàng Vàng[44]
Like a Prayer
"Express Yourself" 2 1 5 5 1 3 1 1 5
"Cherish" 2 4 16 1 21 16 4 10 3
"Oh Father"[I] 20 59 26 16
"Dear Jessie" 51 21 20 19 16 5
  • LH Anh:  Bạc[44]
"—" chỉ ra đĩa đơn không có mặt trong bảng xếp hạng hoặc không được phát hành.

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất Chứng nhận
(dựa trên doanh số)
Album
Mỹ
[33]
Club Mỹ
[33]
Úc
[35][57]
Áo
[36]
Canada
[33][37]
Pháp
[38]
Đức
[39]
Ý
[40][41]
Thụy Sỹ
[42]
LH Anh
[43]
1990 "Keep It Together"[J] 8 1 1 8 25 Like a Prayer
"Vogue" 1 1 7 1 9 4 1 2 1
  • LH Anh: Vàng Vàng[44]
  • Pháp:  Bạc[49]
I'm Breathless
"Hanky Panky" 10 6 20 18 21 5 15 2
"Justify My Love" 1 1 4 9 1 17 10 3 3 2
  • Mỹ:  Bạch kim[62]
  • Canada: Vàng Vàng[60]
  • LH Anh:  Bạc[44]
The Immaculate Collection
1991 "Rescue Me" 9 6 16 7 21 21 15 11 3
1992 "This Used to Be My Playground" 1 9 11 1 7 6 1 6 3 Barcelona Gold
"Erotica" 3 1 4 15 13 23 13 1 8 3 Erotica
"Deeper and Deeper" 7 1 11 30 2 17 26 4 23 6
1993 "Bad Girl" 36 32 20 44 47 4 25 10
"Fever" 1 51 31 8 6
"Rain" 14 5 24 2 26 6 11 7
"Bye Bye Baby" 15 15 28
1994 "I'll Remember" 2 7 1 40 49 1 17 7 With Honors
"Secret" 3 1 5 11 1 2 29 3 1 5 Bedtime Stories
"Take a Bow" 1 15 22 1 25 18 2 8 16
1995 "Bedtime Story" 42 1 5 46 8 4
"Human Nature" 46 2 17 64 50 10 17 8
"You'll See" 6 9 5 2 24 15 3 8 5 Something to Remember
1996 "One More Chance" 35 2 11
"Love Don't Live Here Anymore"[K] 78 16 27 24 48
"You Must Love Me" 18 11 11 41 78 4 43 10 Evita
"Don't Cry for Me Argentina" 8 1 9 3 14 1 3 2 4 3
  • Pháp: Vàng Vàng[49]
  • Đức: Vàng Vàng[53]
  • Thụy Sỹ: Vàng Vàng[72]
1997 "Another Suitcase in Another Hall" 8 7
1998 "Frozen" 2 1 5 2 2 2 2 1 2 1 Ray of Light
"Ray of Light" 5 1 6 31 3 18 28 2 32 2
"Drowned World/Substitute for Love" 16 34 18 42 39 5 31 10
"The Power of Good-Bye" 11 33 4 6 21 4 7 8 6
1999 "Nothing Really Matters" 93 1 15 29 6 48 38 6 26 7
  • LH Anh:  Bạc[44]
"Beautiful Stranger"[L] 19 1 5 14 1 17 13 1 6 2
  • LH Anh: Vàng Vàng[44]
Austin Powers: The Spy Who Shagged Me
"—" chỉ ra đĩa đơn không có mặt trong bảng xếp hạng hoặc không được phát hành.

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất Chứng nhận
(dựa trên doanh số)
Album
Mỹ
[33]
Club Mỹ
[33]
Úc
[57]
Áo
[36]
Canda
[33][37]
Pháp
[38]
Đức
[39]
Ý
[40][41]
Thụy Sỹ
[42]
LH Anh
[43]
2000 "American Pie"[L] 29 1 1 3 1 8 1 1 1 1
  • Áo: Vàng Vàng[75]
  • Pháp:  Bạc[49]
  • Đức: Vàng Vàng[53]
  • Thụy Sỹ: Vàng Vàng[80]
The Next Best Thing
"Music" 1 1 1 5 1 8 2 1 1 1
  • Mỹ:  Bạch kim[81]
  • LH Anh: Vàng Vàng[44]
  • Úc: 2×  Bạch kim[79]
  • Pháp: Vàng Vàng[49]
  • Đức: Vàng Vàng[53]
Music
"Don't Tell Me" 4 1 7 12 1 16 22 1 10 4
  • Mỹ: Vàng Vàng[82]
  • Úc:  Bạch kim[52]
  • Pháp:  Bạc[49]
2001 "What It Feels Like for a Girl" 23 1 6 26 2 40 16 3 11 7
2002 "Die Another Day" 8 1 11 2 1 15 4 1 1 3
  • Úc: Vàng Vàng[83]
  • Canada: 2×  Bạch kim[60]
  • Pháp:  Bạc[49]
Die Another Day
2003 "American Life" 37 1 7 7 1 10 10 1 1 2 American Life
"Hollywood"[M] 1 16 34 5 22 21 2 2 2
"Me Against the Music"
(Britney Spears hợp tác với Madonna)
35 1 1 12 3 11 5 1 4 2
  • Úc:  Bạch kim[85]
In the Zone
"Nothing Fails"[N] 1 51 7 34 36 7 41 American Life
"Love Profusion"[O] 1 25 3 25 5 31 11
2005 "Hung Up"[P] 7 1 1 1 1 1 1 1 1 1
  • Mỹ:  Bạch kim[86]
  • Úc:  Bạch kim[87]
  • Canada:  Bạch kim[60]
  • Đức:  Bạch kim[53]
  • Thụy Sỹ: Vàng Vàng[88]
Confessions on a Dance Floor
2006 "Sorry" 58 1 4 8 2 5 5 1 4 1
"Get Together"[Q] 106 1 13 35 4 26 28 2 24 7
"Jump"[Q] 105 1 29 20 7 23 1 21 9
2007 "Hey You" 57 55 187 Live Earth
2008 "4 Minutes"
(hợp tác với Justin TimberlakeTimbaland)
3 1 1 2 1 2 1 1 1 1
  • Mỹ: 2×  Bạch kim[89]
  • Úc:  Bạch kim[90]
  • Đức:  Bạch kim[53]
Hard Candy
"Give It 2 Me" 57 1 23 10 8 5 8 3 4 7
"Miles Away" 2 21 23 54 11 26 32 39
2009 "Celebration" 71 1 40 8 5 2 5 1 4 3 Celebration
"Revolver"
(hợp tác với Lil Wayne)
4 47 25 16 130
"—" chỉ ra đĩa đơn không có mặt trong bảng xếp hạng hoặc không được phát hành.

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Chứng nhận
(dựa trên doanh số)
Album
Mỹ
[33]
Club Mỹ
[33]
Úc
[57]
Áo
[36]
Canada
[33]
Pháp
[38]
Đức
[39]
Ý
[40]
Thụy Sĩ
[42]
LH Anh
[43]
2012 "Give Me All Your Luvin'"
(hợp tác với Nicki MinajM.I.A)
10 1 25 11 1 3 8 2 6 37 M.D.N.A.
"Girl Gone Wild"[R] 1 62 42 13 4 29
  • Canada: Vàng Vàng[60]
  • Ý:  Bạch kim[93]
"Turn Up the Radio" 1
"—" chỉ ra đĩa đơn không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành tại quốc gia đó.

Chú thích:

  • A ^ "Everybody" không có mặt trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100 nhưng đạt hạng 7 tại Bubbling Under Hot 100 Singles (một bảng xếp hạng dưới Hot 100).[94]
  • B ^ "Burning Up" có mặt trong bảng xếp hạng Hot Dance Club Play dưới dạng đĩa đơn hai mặt, với ca khúc "Physical Attraction" ở mặt B.[95]
  • C ^ "Holiday" được phát hành tại Anh ba lần: 17 tháng 1 năm 1984 (đạt hạng 6), phát hành lại ngày 30 tháng 7 năm 1985 (đạt hạng 2) và phát hành lần cuối vào ngày 4 tháng 6 năm 1991 cùng với đĩa EP The Holiday Collection (đạt hạng 5).[43]
  • D ^ "Lucky Star" xếp hạng trong bảng Hot Dance Club Play dưới dạng đĩa đơn hai mặt cùng với "Holiday".[96]
  • E ^ "Borderline" lúc đầu chỉ đạt hạng 56 tại Anh nhưng sau đó leo lên vị trí á quân trong lần phát hành lại tháng 1 năm 1986.[43]
  • F ^ "Crazy for You" được phát hành lại tại Anh dưới dạng bản remix ngày 24 tháng 2 năm 1991. Đây là đĩa đơn thứ hai trích từ album The Immaculate Collection. Cả hai đĩa đơn của album đều đạt hạng hai.[43]
  • G ^ "Into the Groove" được phát hành dưới dạng mặt B của ca khúc "Angel" tại Mỹ, Canada và Úc. Do đó "Into the Groove" không được xếp hạng trong Billboard Hot 100 cũng như Hot 100 Singles Sales. Ca khúc này đạt hạng nhất trong bảng Hot Dance Club Play.[97]
  • H ^ Ca khúc này và album You Can Dance được tính chung khi xếp hạng trên bảng Hot Dance Club Play.[32]
  • I ^ "Oh Father" được phát hành tại Anh ngày 27 tháng 12 năm 1995 dưới dạng đĩa đơn thứ hai của album Something to Remember.[43]
  • J ^ "Keep It Together" được phát hành dưới dạng đĩa hai mặt (mặt A) tại Úc cùng với "Vogue". Ban đầu "Vogue" dự định được chọn làm mặt B, nhưng sau đó hãng đĩa Warner đã quyết định phát hành ca khúc này dưới dạng đĩa đơn độc lập sau khi nhận ra khả năng thành công của ca khúc.[98]
  • K ^ "Love Don't Live Here Anymore" ban đầu được phát hành ngày 10 tháng 3 năm 1986 chỉ riêng tại thị trường Nhật. Phiên bản của ca khúc này phát hành năm 1995 được phối lại bởi David Reitzas.[99]
  • L ^ ^ "Beautiful Stranger" và "American Pie" không được phát hành thương mại tại Mỹ nhưng vẫn xếp hạng trong Billboard Hot 100 nhờ tần suất phát thanh.[100]
  • M ^ "Hollywood" không có mặt trong Billboard Hot 100 hay Bubbling Under Hot 100.[101]
  • N ^ "Nothing Fails" không có mặt trong Billboard Hot 100 hay Bubbling Under Hot 100.[101] Đĩa đơn này được tính là một EP tại Úc nên chỉ xếp hạng trong bảng ARIA Albums Chart.[102]
  • O ^ "Love Profusion" không có mặt trong Billboard Hot 100 hay Bubbling Under Hot 100.[101] Đĩa đơn này ban đầu được phát hành tại Úc, Ý và Anh ngày 21 tháng 11 năm 2003 và sau đó mới là thị trường Bắc Mỹ và Pháp ngày 16 tháng 3 năm 2004.[102]
  • P ^ "Hung Up" đạt vị trí quán quân tại những quốc gia sau: Úc, Áo, Bỉ, Canada, Chilê, Columbia, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Indonesia, Israel, Ý, Nhật, Latvia, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, Na Uy, Rumani, Nga, Serbia, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraina và Liên hiệp Anh (kỷ lục bao gồm 45 nước).[26]
  • Q ^ ^ "Get Together" và "Jump" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng có mặt trong bảng Bubbling Under Hot 100 lần lượt ở hạng 6 và 5. "Get Together" cũng đạt hạng 84 trong bảng xếp hạng Pop 100.[103]
  • R ^ "Girl Gone Wild" không có mặt tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100 nhưng có mặt trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100 tại vị trí thứ 6.[104]

Đĩa đơn quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Chú thích
1990 "Now I'm Following You"
  • Ban đầu được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba (và cuối cùng) của album I'm Breathless nhưng sau đó bị hủy bỏ do việc phát hành album tổng hợp The Immaculate Collection.[105]
1992 "Erotic"
  • Đĩa CD quảng bá cùng với sự xuất bản của cuốn sách Sex (1992).[106]
1995 "I Want You" (với Massive Attack)
  • Ban đầu dự định được phát hành dưới dạng đĩa đơn đầu tiên của tuyển tập Something to Remember nhưng sau đó cũng bị hủy bỏ do tranh chấp hợp đồng với Motown Records, người sở hữu bản quyền ca khúc.[107]
1997 "Buenos Aires" (remix)
  • Ban đầu được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba (và cuối cùng) của album Evita, các bản phối lại của ca khúc cũng được thực hiện nhưng việc phát hành cuối cùng bị hủy bỏ. Đạt hạng 3 trong bảng xếp hạng Hot Dance Club Play.[108]
1998 "Sky Fits Heaven" (remix)
  • Nằm trong album năm 1998 Ray of Light. Được phát hành dưới dạng mặt B của ca khúc "Drowned World/Substitute for Love". Có mặt trong bảng xếp hạng Hot Dance Club Play ở hạng 41.[108]
2001 "Impressive Instant" (remix)
  • Nằm trong album năm 2000 Music. Đây cũng là một track trong album tổng hợp Live @ Roxy Vol. 4 của Peter Rauhofer, đứng đầu bảng Hot Dance Club Play.[108]
"GHV2 Megamix"
  • Một bản phối bao gồm giai điệu của nhiều ca khúc trong tuyển tập GHV2 năm 2001. Đạt hạng 5 trên Hot Dance Club Play.[108]
2003 "Into the Hollywood Groove"
  • Phiên bản phối khí (remix) của hai ca khúc "Into the Groove" và "Hollywood" hợp tác với Missy Elliott. Đây là một phần trong chiến dịch quảng bá thời trang cho hãng bán lẻ GAP, và các đĩa nhạc được tặng cho khác hành.[109][110]
"Nobody Knows Me" (remix)
  • Nằm trong album phòng thu năm 2003, American Life. Đạt hạng 4 trên Hot Dance Club Play.[108]
2005 "Imagine" (phiên bản trực tiếp)
  • Madonna trình diễn ca khúc phiên bản hát lại (cover) của John Lennon tại Buổi hòa nhạc Tsunami Aid: Concert for Hope vào tháng 1 năm 2005. Màn trình diễn của cô được phát hành ở dạng tải kỹ thuật số trên trang mạng Sony Connect vào ngày sau buổi hòa nhạc. Doanh thu từ lượng tải về được quyên góp cho Tổ chức từ thiện Hội chữ thập đỏ Hoa Kỳ.[111] Phiên bản này sau đó là một ca khúc trong album trực tiếp I'm Going to Tell You a Secret và một bản thu trực tiếp quảng bá cho Q Magazine Presents John Lennon Covered, quà tặng là đĩa CD miễn phí bởi tạp chí Q để kỷ niệm sinh nhật thứ 65 của Lennon.[112]
"Mother and Father" (phối khí)
  • Nằm trong album năm 2003 American LifeLive @ Roxy Vol. 4. Đạt hạng 9 trên Hot Dance Club Play.[108]
2007 "Hey You"
  • Đĩa đơn từ thiện, là một phần của chiến dịch Live Earth. Lúc đầu được phát hành là bài hát tải xuống miễn phí trong vòng 7 ngày đầu, sau đó chính thức trở thành đĩa tải kỹ thuật số.[113]
  • "Hey You" được xếp hạng như sau: thứ 57 trên bảng xếp hạng Canadian Hot 100[114], thứ 55 trên bảng xếp hạng Swiss Singles Chart[115], và thứ 187 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart.[112]
2012 "Masterpiece"
  • Bài hát duy nhất được phát hành tại Liên hiệp Anh ngày 2 tháng 4 năm 2012 nhằm quảng bá cho M.D.N.A..[116] Bài hát xếp hạng 68 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart[117], thứ 77 tại Nhật[118], và thứ 65 tại Cộng hòa Séc.[119]

Xuất hiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Chú thích
1984 "Ain't No Big Deal"
  • Xuất hiện trong album tuyển tập Revenge of the Killer B's Vol. 2 của Warner Bros.[120]
"Sidewalk Talk"
  • Thu âm và phát hành bởi nhà sản xuất John "Jellybean" Benitez dưới dạng đĩa đơn từ album Wotupski!?!. Madonna sáng tác ca khúc và có hát trong đoạn điệp khúc. Ca khúc cũng nằm trong một album tuyển tập với tựa đề 80's Dance Hits.[121]
1986 "Each Time You Break My Heart"
  • Trình diễn bởi Nick Kamen trong album khởi nghiệp cùng tên. Madonna đồng sáng tác và sản xuất ca khúc với Stephen Bray và hát nền.[122]
1987 "Santa Baby"
1989 "I Surrender Dear"
1992 "Get Over"
  • Trình diễn bởi Nick Scotti, tuy Madonna hát khá nổi bật, gần như là song ca trong ca khúc. Đồng sáng tác và sản xuất bởi Madonna và Shep Pettibone và được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ hai từ album khởi nghiệp cùng tên của Nick Scotti.[125]
1994 "Goodbye to Innocence"
  • Nằm trong album tuyển tập Just Say Roe: Volume VII of Just Say Yes.[126]
1995 "Freedom"
  • Nằm trong album tuyển tập Carnival!: Rainforest Foundation Concert.[127]
"Guilty By Association"
1997 "Love Won't Wait"
1998 "Bittersweet"
  • Nằm trong album Gift of Love: Music Inspired by Rumi Love Poem của Deepak Chopra.[130]
1999 "Be Careful (Cuidado Con Mi Corazon)"
2000 "Time Stood Still"
2003 "Into the Hollywood Groove"
2007 "Sing"

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Caulfield, Keith (18 tháng 3 năm 2009). “Madonna Plans New Tracks For Hits Collection”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2009. 
  2. ^ a ă Rooksby 2004, tr. 11–13
  3. ^ Morton 2002, tr. 765
  4. ^ Rooksby 2004, tr. 16
  5. ^ Bronson 2003, tr. 606
  6. ^ Metz & Benson 1999, tr. 299
  7. ^ Rooksby 2004, tr. 21
  8. ^ Bronson 2003, tr. 764
  9. ^ DeKnock, Jan (22 tháng 8 năm 1987). “Madonna Soars to Top of the Charts for the Sixth Time”. Chicago Tribune (Tribune Company). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2009. 
  10. ^ Cross 2007, tr. 58
  11. ^ “Madonna: Induction 2008”. Rock and Roll Hall of Fame. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009. 
  12. ^ Taraborrelli 2002, tr. 183
  13. ^ Rich, Joshua (20 tháng 11 năm 1998). “Madonna Banned”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  14. ^ Grein, Paul (8 tháng 8 năm 1992). “Hot 100 Is Madonna's Playground”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). tr. 86. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  15. ^ Metz & Benson 1999, tr. 18
  16. ^ Bronson, Fred (25 tháng 2 năm 1995). “Madonna 'Takes A Bow' At No. 1”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). tr. 154. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  17. ^ Bronson 2003, tr. 834
  18. ^ Clerk 2002, tr. 132
  19. ^ Guilbert 2002, tr. 93
  20. ^ Metz & Benson 1999, tr. 167
  21. ^ Fouz-Hernández & Jarman-Ivens 2004, tr. 93
  22. ^ Bronson, Fred (7 tháng 9 năm 2000). “Madonna Hits No. 1 For 12th Time”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  23. ^ Fonseca, Nicholas (22 tháng 3 năm 2001). “What It Feels Like for a Girl”. Entertaniment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  24. ^ “Madonna - Die Another Day”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  25. ^ Cross 2007, tr. 97
  26. ^ a ă Glenday 2007, tr. 678
  27. ^ Bell, Craig (9 tháng 10 năm 2002). “Madonna Ties Fab Four On Singles Honor Roll”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  28. ^ Sexton, Paul (26 tháng 2 năm 2006). “Madonna, Jack Johnson Take Lead On U.K. Charts"”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  29. ^ Hasty, Katie (2 tháng 4 năm 2008). “Mariah, Madonna Make Billboard Chart History”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2008. 
  30. ^ “Billboard Hot 100 Chart 50th Anniversary”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009. 
  31. ^ “The One And Only... The Musical Superstars”. BBC (BBC Online). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2008. 
  32. ^ a ă â Trust, Gary (15 tháng 9 năm 2009). “'Celebration': Madonna's 40 Most Impressive Instants”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  33. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “allmusic (((Madonna > Charts & Awards > Billboard Singles)))”. Allmusic. Rovi Corporation. 1983–2009. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009. 
  34. ^ Kent, David (1993). Australian Chart Book 1970-1992. St Ives, NSW, Australia: Australian Chart Book. tr. 188. ISBN 0-646-11917-6. 
  35. ^ a ă Ryan, Gavin (2009). ARIA Singles Chart Book 1988-2008. Moonlight Publishing. tr. 91–92. 
  36. ^ a ă â b “Madonna singles discography”. Ö3 Austria Top 40. austriancharts.at. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2010. 
  37. ^ a ă â “Madonna Singles Discography”. RPM. RPM Library Archives. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  38. ^ a ă â b “Madonna Singles Discography”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Lescharts.com at Hung Medien. 1984–2009. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  39. ^ a ă â b “Madonna Singles Discography”. Media Control Charts. Musicline.de. 1984–2009. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009. 
  40. ^ a ă â b “Madonna Singles Discography”. Liên đoàn Công nghiệp Âm nhạc Ý. Hitparadeitalia.it. 1984–1998. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  41. ^ a ă â “Madonna Singles Discography”. Liên đoàn Công nghiệp Âm nhạc Ý. Italiancharts.com at Hung Medien. 1999–2009. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2009. 
  42. ^ a ă â b “Madonna Singles Discography”. Swiss Music Charts. Hitparade.ch at Hung Medien. 1984–2009. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  43. ^ a ă â b c d đ e “Madonna Singles Discography”. The Official Charts Company. Chartstats.com. 1983–2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009. 
  44. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x “BPI - Certified Awards Search - Artist: Madonna”. Công nghiệp Thu âm Anh quốc. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2009. 
  45. ^ “Madonna - Borderline”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 22 tháng 10 năm 1998. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  46. ^ “Madonna - Like a Virgin”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 1 tháng 11 năm 1985. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  47. ^ “Madonna - Crazy For You”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 16 tháng 7 năm 1985. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  48. ^ a ă “Madonna - Angel/Into the Groove”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 30 tháng 7 năm 1985. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  49. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô “InfoDisc: Les Certifications (Singles) du SNEP (Bilan par Artiste) – Search for "Madonna"”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  50. ^ “Madonna - Papa Don't Preach”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 22 tháng 10 năm 1998. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2009. 
  51. ^ “Madonna - True Blue”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 22 tháng 10 năm 1998. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  52. ^ a ă â “ARIA Charts - Accreditations - 2001 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  53. ^ a ă â b c d đ e ê “Musikindustrie: Gold/Platin Datenbank”. Bundesverband Musikindustrie. Truy cập 2010-011-14. 
  54. ^ “Madonna - Like a Prayer”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 16 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  55. ^ “Awards 1989: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  56. ^ “Madonna - Express Yourself”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 11 tháng 8 năm 1989. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  57. ^ a ă â “ARIA singles charts”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Australian-charts.com at Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010. 
  58. ^ “Madonna - Keep It Together”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 11 tháng 4 năm 1990. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  59. ^ “Madonna - Vogue”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 28 tháng 6 năm 1990. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  60. ^ a ă â b c d “CRIA Database search - Madonna”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Canada. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  61. ^ “Madonna - Hanky Panky”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 19 tháng 9 năm 1990. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  62. ^ “Madonna - Justify My Love”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 22 tháng 2 năm 1991. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  63. ^ “Madonna - Rescue Me”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 24 tháng 5 năm 1991. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  64. ^ “Madonna - This Used To Be My Playground”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 10 tháng 9 năm 1992. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  65. ^ “Madonna - Erotica”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 10 tháng 12 năm 1992. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  66. ^ “Madonna - I'll Remember”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 10 tháng 10 năm 1998. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  67. ^ “Madonna - Secret”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 5 tháng 1 năm 1995. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  68. ^ “Madonna - Take a Bow”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 27 tháng 2 năm 1995. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  69. ^ “Madonna - You'll See”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 23 tháng 3 năm 1996. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  70. ^ “Madonna - You Must Love Me”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 12 tháng 9 năm 1997. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  71. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 1997 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  72. ^ “Awards 1997: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  73. ^ “Madonna - Frozen”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 10 tháng 9 năm 1998. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  74. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 1998 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  75. ^ a ă â “IFPI Austria – Gold & Platin”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  76. ^ “Awards 1998: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  77. ^ “Madonna - Ray of Light”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 9 tháng 10 năm 1999. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  78. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 1999 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  79. ^ a ă “ARIA Charts - Accreditations - 2000 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  80. ^ “Awards 2000: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  81. ^ “Madonna - Music”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 23 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  82. ^ “Madonna - Don't Tell Me”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 4 tháng 4 năm 2001. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  83. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2002 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  84. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2003 Singles”. 2009-12-14. 
  85. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2003 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  86. ^ “Madonna - Hung Up”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 9 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  87. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2005 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  88. ^ “Awards 2005: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  89. ^ “Madonna - 4 Minutes ft. Justin Timerlake”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ. 9 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  90. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2008 Singles”. Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  91. ^ a ă “Certificazoni Downloade FIMI” (PDF). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  92. ^ “Madonna – Give Me All Your Lovin'”. Recording Industry Association of America. 29 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2012. 
  93. ^ a ă “CERTIFICAZIONE Singoli Digitali dalla settimana 1 del 2009 alla settimana 39 del 2012” (PDF). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2012. 
  94. ^ Taraborrelli 2002, tr. 77
  95. ^ Grant & Neupert 2003, tr. 9
  96. ^ Rooksby 2004, tr. 10
  97. ^ Bronson 2003, tr. 674
  98. ^ Bronson 2004, tr. 757
  99. ^ Rooksby 2004, tr. 85
  100. ^ Taraborrelli 2002, tr. 304—305
  101. ^ a ă â “allmusic (((American Life > Charts & Awards > Billboard Singles)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  102. ^ a ă “ARIA Dance Chart” (PDF). Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Úc. Pandora.nla. 22 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  103. ^ Caulfield, Keith (6 tháng 11 năm 2006). “Ask Billboard: Stalled 'Jump'”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2009. 
  104. ^ Trust, Gary; Caulfield, Keith (9 tháng 3 năm 2012). “Chart Moves: Billboard – March 9, 2012”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  105. ^ Clerk 2002, tr. 84
  106. ^ Voller 1999, tr. 117
  107. ^ Taraborrelli 2002, tr. 242
  108. ^ a ă â b c d Trust, Gary (18 tháng 9 năm 2009). “Ask Billboard: Madonna, Yoko Ono, Gospel”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  109. ^ Strasburg, Jenny (25 tháng 7 năm 2003). “Bands to fit the brand”. San Francisco Chronicle. Hearst Corporation. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2011. 
  110. ^ “Into The Hollywood Groove [featuring Missy Elliott] [The Passengerz Mix] by Madonna”. Yahoo!. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 
  111. ^ Associated Press (18 tháng 1 năm 2005). “Stars lend a hand for tsunami relief”. MSNBC. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2005. 
  112. ^ a ă “Chart Log UK: New Entries Update 9.06.2007 (wk22) – Live Earth (Madonna) – Hey You”. UK Chart Update. zobbel. 9 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2012. 
  113. ^ Press Release (17 tháng 5 năm 2007). “Madonna writes new song "Hey You" for Live Earth”. Live Earth. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2009. 
  114. ^ “Canadian Hot 100: Week Ending June 6, 2007”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 16 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2012. 
  115. ^ “Swiss Singles Top 100”. Swiss Music Charts. Hung Medien. 2 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2012. 
  116. ^ “Madonna > Masterpiece”. Wave 105. Bauer Media Group. 13 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  117. ^ “UK Singles Chart > 7 April 2012”. Official Charts Company. 1 tháng 4 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012. 
  118. ^ “Japan Charts: Hot 100”. Billboard Japan. Prometheus Global Media. 13 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012. 
  119. ^ “RADIO TOP100 Oficiální: Masterpiece”. Rádio Top 100 Oficiální. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2012. 
  120. ^ “allmusic (((Revenge of the Killer B's Vol. 2 > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009. 
  121. ^ Kellman, Andy (3 tháng 4 năm 2007). “allmusic (((80's Dance Hits > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  122. ^ “allmusic (((Nick Kamen > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2010. 
  123. ^ “allmusic (((A Very Special Christmas > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009. 
  124. ^ “Bloodhounds of Broadway (1989) - Cast and Credits”. Yahoo!. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 
  125. ^ “allmusic (((Nick Scotti > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 
  126. ^ “allmusic (((Just Say Roe: Volume VII of Just Say Yes > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009. 
  127. ^ Ruhlmann, William (23 tháng 5 năm 2004). “allmusic (((Carnival: Rainforest Foundation Concert > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  128. ^ Sullivan, Denise (12 tháng 9 năm 2005). “allmusic (((Sweet Relief II > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2009. 
  129. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “allmusic (((Open Road > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2009. 
  130. ^ “allmusic (((Gift of Love: Music Inspired by Rumi Love Poem > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009. 
  131. ^ “allmusic (((Ricky Martin [1999] > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009. 
  132. ^ Ruhlmann, William (22 tháng 2 năm 2000). “allmusic (((The Next Best Thing > Overview)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  133. ^ “Into The Hollywood Groove [featuring Missy Elliott] [The Passengerz Mix] by Madonna”. Yahoo!. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 
  134. ^ Chamberlain, Daryl (5 tháng 10 năm 2007). “Aids fight inspires singer Lennox”. BBC (BBC Online). Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]