Bedtime Stories (album của Madonna)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bedtime Stories
Album phòng thu của Madonna
Phát hành 25 tháng 10, 1994
Thu âm 1994
Thể loại Pop, R&B, Adult Contemporary
Thời lượng 51:43
Hãng đĩa Maverick, Sire, Warner Bros.
Sản xuất Madonna, Nellee Hooper, Dallas Austin, Dave "Jam" Hall, Babyface
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Madonna
Erotica
(1992)
Bedtime Stories
(1994)
Something to Remember
(1995)
Bìa quốc tế
Bìa album quốc tế hơi khác với hình đổi ngược lại và chỉ có ở thị trường Bắc Mỹ.
Đĩa đơn từ Bedtime Stories
  1. "Secret"
    Phát hành: 28 tháng 9, 1994
  2. "Take a Bow"
    Phát hành: 6 tháng 12, 1994
  3. "Bedtime Story"
    Phát hành: 1 tháng 2, 1995 (châu Âu)
    11 tháng 4, 1995 (Mỹ)
  4. "Human Nature"
    Phát hành: 6 tháng 6, 1995 (Mỹ)
    10 tháng 8, 1995 (châu Âu/Nhật)

Bedtime Storiesalbum phòng thu thứ sáu của nữ ca sĩ nhạc Pop người Mỹ Madonna, được phát hành ngày 25 tháng 10 năm 1994 bởi hãng đĩa Maverick Records. Năm 1995, album nhận một đề cử giải Grammy cho hạng mục Album giọng pop xuất sắc nhất. Cũng trong năm này, Bedtime Stories được Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ RIAA chứng nhận là đĩa Bạch kim và đến ngày 21 tháng 11 năm 2005 thì được chứng nhận đạt 3 đĩa Bạch kim nhờ tiêu thụ được hơn 3 triệu đĩa trên thị trường Hoa Kỳ. Hiện tại album đã bán được hơn 8 triệu bản trên toàn thế giới [1].

Thông tin album[sửa | sửa mã nguồn]

Bedtime Stories là thành quả hợp tác giữa Madonna và Shep Pettibone và có phong cách gần giống với album trước đó là Erotica. Tuy nhiên, theo như mong ước của Madonna về việc làm "mềm mại" hình ảnh của cô trong mắt công chúng, cũng như sự ngưỡng mộ của cô với album Pendulum Vibe của ca sĩ Joi, cô quyết định chuyển đổi phong cách với đậm chất R&B hơn và âm thanh nghe thân thiện hơn với các đài phát thanh radio. Cô đã có lời cảm ơn tới Pettibone vì có sự "thấu hiểu". Đây là lần cuối cùng cô hợp tác với ông. Cũng trong thời gian này, Madonna vẫn tiếp tục theo đuổi hình ảnh gợi cảm và khiêu khích nhưng với mức độ "dễ thở" hơn nhiều so với những năm đầu thập niên 1990 với hai video ca nhạc "Justify My Love" và "Erotica" bị cấm chiếu trên MTV và cuốn sách Sex gây nhiều tranh cãi về nội dung.

Trong khi album được cho là dễ nghe hơn và lời ca ít gây sốc hơn so với album trước nhưng trong Bedtime Stories vẫn còn ẩn chứa sự đương đầu, thách thức của ca sĩ. Bài "Human Nature" như một lời bình cay độc của Madonna hướng tới giới truyền thông vì cách họ đối xử với cô trong suốt thời gian trước với lời ca kiểu như: "Tôi nói điều gì sai ư? Ôi không, tôi chẳng biết rằng mình không được phép nói về tình dục" ("Did I say something wrong? Oops, I didn't know I couldn't talk about sex"). Ngoài ra, mặc dù Madonna cũng nỗ lực làm mới hình ảnh của mình nhưng cô cũng nói rằng lúc này là một "thời kỳ trả đũa" tất cả những con người đã từng cố xâm phạm đời tư của cô và hy vọng rằng họ nên dừng lại và tập trung vào âm nhạc của cô.

Bedtime Stories là một trong số rất ít album mà Madonna hợp tác với các nhà sản xuất danh tiếng (ngoại lệ là Nile Rodgers với Like a Virgin, David Foster với Something to RememberTimbaland, PharrellNate "Danja" Hills với Hard Candy). Album này có mặt Dallas Austin sáng tác và sản xuất, lúc đó được công chúng biết đến về sự hợp tác của ông với ban nhạc TLC; Babyface đã từng làm việc với Whitney HoustonToni Braxton; Dave Hall, đã từng sản xuất ca khúc cho Mariah Carey; và nữ ca sĩ người Iceland Björk, đồng sáng tác ca khúc cùng tên album.

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

# Tựa Nhạc sĩ Sản xuất Thời lượng
01 "Survival" Madonna, Dallas Austin Nellee Hooper và Madonna 3:31
02 "Secret" 1 Madonna, Dallas Austin, Shep Pettibone Madonna và Dallas Austin 5:04
03 "I'd Rather Be Your Lover"
Madonna, Dave Hall, Isley Brothers, Christopher Jasper
có chứa một đoạn trong bài "It's Your Thing" của Lou Donaldson.
Madonna và Dave "Jam" Hall
(trống và hát rap: Me'Shell NdegeOcello)
4:39
04 "Don't Stop" Madonna, Dallas Austin, Colin Wolfe Madonna và Dallas Austin
Phối khí lại bởi Daniel Abraham
4:38
05 "Inside of Me" Madonna, Dave Hall, Nellee Hooper
"Outstanding" bởi ban nhạc The Gap
"The Trials of Life" bởi The Guttersnypes
Nellee Hooper và Madonna 4:11
06 "Human Nature" Madonna, Dave Hall, Shawn McKenzie, Kevin McKenzie, Michael Deering
có chứa một đoạn trong bài "What You Need" của Main Source
Madonna và Dave "Jam" Hall 4:53
07 "Forbidden Love" 2 Kenneth "Babyface" Edmonds, Madonna
có chứa một đoạn trong bài "Down Here On The Ground" của Grant Green
Nellee Hooper và Madonna 4:09
08 "Love Tried to Welcome Me" Madonna, Dave Hall Madonna và Dave "Jam" Hall 5:21
09 "Sanctuary" Madonna, Dallas Austin, Anne Preven, Scott Cutler, Herbie Hancock
có chứa một đoạn trong bài "Watermelon Man" của Herbie Hancock
Madonna và Dallas Austin
Phối khí lại bởi Nellee Hooper
5:03
10 "Bedtime Story" Nellee Hooper, Björk Guðmundsdóttir, Marius De Vries Nellee Hooper và Madonna 4:52
11 "Take a Bow" Kenneth "Babyface" Edmonds, Madonna Babyface và Madonna 5:21

1 Shep Pettibone được cho là đồng nhạc sĩ của ca khúc này.
2 ca khúc này khác với ca khúc cùng tên trong album năm 2005 Confessions on a Dance Floor.

Đội ngũ sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà sản xuất: Madonna, Dallas Austin, Babyface, Marius De Vries, Dave Hall, Nellee Hooper
  • Kỹ sư: Michael Fossenkemper, Brad Gilderman, Darin Prindle, Alvin Speights, Mark "Spike" Stent
  • Phối khí: Jon Gass, Daniel Abraham

Xếp hạng và Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Vị trí cao nhất Chứng nhận (nếu có) Doanh số
Úc 1 2x Bạch kim[2] 140.000+
Áo 7 Vàng[2] 10.000+
Brasil 1 Bạch kim[3] 250.000+
Canada 1 2x Bạch kim[4] 200.000+
Pháp 2 2x Vàng[5] 200.000+
Đức 4 Bạch kim[6] 500.000+
Hà Lan 13
New Zealand 5
Thụy Điển 5
Thụy Sỹ 7 Vàng[7] 25.000+
Liên hiệp Anh 2 2x Bạch kim[8] 600.000+
Hoa Kỳ 3 3x Bạch kim[9] 3.000.000+[9]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Bedtime Stories". Mad-Eyes. link
  • "PierPinto's Charts Updates". Madonna Tribe. link

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Cross Road của Bon Jovi
Album quán quân tại Úc
6 tháng 11 - 12 tháng 11, 1994
Kế nhiệm:
MTV Unplugged in New York của Nirvana