Music (album của Madonna)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Music
Album phòng thu của Madonna
Phát hành 19 tháng 9, 2000
Thu âm Tháng 9 năm 1999[1][2] - Tháng 5 năm 2000[3]
Thể loại Pop, dance-pop, electronica, Country
Thời lượng 44:40
Hãng đĩa Maverick, Warner Bros.
Sản xuất Madonna, Mirwais Ahmadzaï, William Orbit, Guy Sigsworth, Mark "Spike" Stent, Talvin Singh
Thứ tự album của Madonna
Ray of Light
(1998)
Music
(2000)
GHV2
(2001)
Đĩa đơn từ Music
  1. "Music"
    Phát hành: 18 tháng 8, 2000
  2. "Don't Tell Me"
    Phát hành: 15 tháng 1, 2001
  3. "What It Feels Like for a Girl"
    Phát hành: 17 tháng 4, 2001

Musicalbum phòng thu thứ 8 của nữ ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna phát hành vào ngày 18 tháng 9 năm 2000 bởi hãng đĩa Maverick và phân phối bởi hãng Warner Bros. Một phiên bản đặc biệt hai đĩa cũng được phát hành vào tháng 6 năm 2001 để quảng bá cho tour Drowned World Tour, CD chứa một số bản thu âm mới và video của bài hát "What It Feels Like for a Girl".

Madonna đã hợp tác với nhà sản xuất người Pháp Mirwais Ahmadzai cho album này. "Music" là một album mang định hướng của electronic và dance-pop, mục đích của việc này là Madonna muốn hướng tới nhạc dance châu Âu, tuy nhiên, album này cũng có chứa các thành phần của rock,[4] nhạc đồng quê và nhạc folk.[4] Sau khi phát hành, album đã nhận được những đánh giá tích cực của các nhà phê bình, ca ngợi sự hợp tác của Madonna với Mirwais, cũng như sự sáng tạo trong âm nhạc của nó, đúng như tên gọi của album. Album giành được 5 đề cử Giải Grammy và giành được một giải cho "Gói thầu ghi âm xuất sắc nhất". Album được đề cử "Album giọng pop xuất sắc nhất", đĩa đơn cùng tên cũng được đề cử 2 hạng mục "Thu âm của năm" và "Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất". Album này cũng được tạp chí Rolling Stone liệt kê trong danh sách 500 album vĩ đại nhất mọi thời đại. Về mặt thương mại, "Music" đạt vị trí số một tại hơn 23 nước trên thế giới và bán được hơn một triệu bản trong mười ngày đầu. Với 15 triệu bản được bán trên toàn thế giới, cho đến nay, đây là album bán chạy nhất của Madonna trong thập niên 2000.[5]

Ba đĩa đơn và một đĩa đơn quảng bá đã được phát hành từ "Music", trong đó "đĩa đơn cùng tên đã đạt vị trí quán quân tại 25 quốc gia và trở thành đĩa đơn quán quân thứ 12 của Madonna trên Billboard Hot 100, cũng như nhận được những đánh giá tích cực, được liệt kê vào danh sách một trong những bài hát hay nhất của những năm 2000 [6] và nhận hai đề cử giải Grammy. Đĩa đơn tiếp theo, "Don't Tell Me", đạt được thành công về thương mại, nằm trong top 10 tại Mỹ [7]Vương quốc Anh[8] và một số nước khác. "What It Feels Like for a Girl" được chọn làm đĩa đơn thứ ba, nằm trong top 10 ở Anh, Ý, New Zealand và các nước khác,[9] nhưng nó lại thất bại tại Mỹ, khi chỉ đạt vị trí thứ 23,[10] kèm theo tranh cãi với phần video đầy cảnh bạo lực, và nó bị cấm chiếu trên MTV.[11] "Impressive Instant", một đĩa đơn quảng bá từ album, được phát hành như là đĩa đơn trong câu lạc bộ, và đã đứng đầu bảng xếp hạng Hot Dance Club Songs.[12]

Cùng với "Ray of Light", Madonna quảng bá "Music" trên toàn thế giới bằng tour diễn Drowned World Tour, được giới phê bình đánh giá cao, thu về khoảng 75 triệu đô và là tour diễn có doanh thu cao thứ tư năm 2001,[13] cũng như 2 đề cử giải Pollstar Concert Industry năm 2001.[14] Album được quảng bá một lần nữa bằng tour Don't Tell Me Promo Tour, một tour lưu diễn khuyến mãi gồm 2 buổi diễn. Các bài hát này cũng được Madonna trình diễn trong các tour diễn sau này.

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Nhạc sĩ Nhà sản xuất Thời lượng
01 "Music" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 3:44
02 "Impressive Instant" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 3:37
03 "Runaway Lover" Madonna, William Orbit Madonna và William Orbit 4:47
04 "I Deserve It" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:23
05 "Amazing" Madonna, William Orbit Madonna và William Orbit 3:43
06 "Nobody's Perfect" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:58
07 "Don't Tell Me" Madonna, Mirwais Ahmadzaï, Joe Henry Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:40
08 "What It Feels Like for a Girl" 1 Madonna, Guy Sigsworth, David Torn Madonna, Guy Sigsworth và Mark "Spike" Stent 4:43
09 "Paradise (Not for Me)" Mirwais Ahmadzaï, Madonna Mirwais Ahmadzaï và Madonna 6:33
10 "Gone" Madonna, Damian Le Gassick, Nik Young Madonna, William Orbit và Mark "Spike" Stent 3:25
Bonus track ngoài Mỹ
11 "American Pie" Don McLean Madonna và William Orbit 4:33
Bonus track tại Úc & Nhật
12 "Cyberraga" dịch bởi Madonna và Talvin Singh
trích từ Vedic MantraMahabharata
Madonna và Talvin Singh 5:31

Chứng nhận & doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Vị trí cao nhất Chứng nhận (nếu có) Doanh số
Australia 3 3x Bạch kim[15] 210.000+
Áo 1 Bạch kim[16] 30.000+
Brasil 1 2x Bạch kim[17] 250.000
Canada 3x Bạch kim[18] 300.000+
Đan Mạch 1 2x Bạch kim[19] 80.000+
Châu Âu 1 5x Bạch kim[20] 5.000.000
Phần Lan 1 Vàng[21] 15.000
Pháp 1 2x Bạch kim[22] 700.000+
Đức 1 2x Bạch kim[23] 400.000+
Hungary Vàng[24] 3.000+
Israel 1 Vàng 20.000+
Mexico 5 Vàng[25] 75.000+
Hà Lan 1 2x Bạch kim[26] 140.000+
New Zealand 2 2x Bạch kim[27] 30.000+
Ba Lan Bạch kim[28] 20.000+
Thụy Điển 1 Bạch kim[29] 40.000+
Thụy Sỹ 1 2x Bạch kim[30] 60.000+
Liên Hiệp Anh 1 5x Bạch kim[31] 1.500.000+
Hoa Kỳ 1 3x Bạch kim[32] 3.000.000+[32]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Williams, Jeannie (14 tháng 9 năm 1999). “Music man Joe Pesci plays amid MTV elite”. Pqasb.pqarchiver.com. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ Smith, Liz (7 tháng 10 năm 1999). “Madonna Keeps Busy”. Pqasb.pqarchiver.com. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  3. ^ Manning, Kara (31 tháng 5 năm 2000). “News - Articles - 1431556 - 20000531”. Mtv.com. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  4. ^ a ă Thomas, Stephen (19 tháng 9 năm 2000). “Music - Madonna”. AllMusic. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011. 
  5. ^ Hastings, Chris (28 tháng 8 năm 2005). “Madonna uses secret nightclub 'focus groups' to pick songs for new album”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2010. 
  6. ^ [1][liên kết hỏng]
  7. ^ “Madonna Music News & Info”. Billboard.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  8. ^ “Madonna - Don't Tell Me”. Chart Stats. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  9. ^ Steffen Hung. “Madonna - What It Feels Like For A Girl”. italiancharts.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  10. ^ “What It Feels Like For A Girl (2001)”. Themadonnabbarchives.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  11. ^ Neva Chonin, special to SF Gate (23 tháng 3 năm 2001). “Madonna's No 'Pussy Cat' / MTV bans her latest video, again”. Sfgate.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  12. ^ “Chart Beat”. Billboard.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  13. ^ Wiederhorn, Jon (21 tháng 12 năm 2001). “U2, 'NSYNC, Backstreet Top List Of 2001's Biggest Concert Grossers”. MTV. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  14. ^ “Pollstar Awards Archive - 2001”. Pollstarpro.com. 9 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  15. ^ ARIA
  16. ^ IFPI Austria
  17. ^ ABPD
  18. ^ CRIA
  19. ^ [2]
  20. ^ "IFPI Platinum Europe Awards - 2002"
  21. ^ IFPI Finland
  22. ^ Disque En France
  23. ^ IFPI Germany
  24. ^ MAHASZ
  25. ^ AMPROFON
  26. ^ NVPI
  27. ^ RIANZ – July 22nd 2001
  28. ^ ZPAV
  29. ^ IFPI Sweden – 2000 Certifications
  30. ^ IFPI Switzerland
  31. ^ BPI
  32. ^ a ă Billboard – Ask Billboard
Tiền nhiệm:
G.O.A.T. của LL Cool J
Album quán quân tại Mỹ
7 tháng 10 - 13 tháng 10, 2000
Kế nhiệm:
Let's Get Ready của Mystikal
Tiền nhiệm:
Sing When You're Winning của Robbie Williams
Album quán quân tại Liên hiệp Anh
16 tháng 9 - 30 tháng 9, 2000
Kế nhiệm:
Kid A của Radiohead