Music (album của Madonna)
| Music | ||||
|---|---|---|---|---|
| Album phòng thu của Madonna | ||||
| Phát hành | 19 tháng 9, 2000 | |||
| Thu âm | Tháng 9 năm 1999[1][2] - Tháng 5 năm 2000[3] | |||
| Thể loại | Pop, dance-pop, electronica, Country | |||
| Thời lượng | 44:40 | |||
| Hãng đĩa | Maverick, Warner Bros. | |||
| Sản xuất | Madonna, Mirwais Ahmadzaï, William Orbit, Guy Sigsworth, Mark "Spike" Stent, Talvin Singh | |||
| Thứ tự album của Madonna | ||||
|
||||
| Đĩa đơn từ Music | ||||
|
||||
Music là album phòng thu thứ 8 của nữ ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna phát hành vào ngày 18 tháng 9 năm 2000 bởi hãng đĩa Maverick và phân phối bởi hãng Warner Bros. Một phiên bản đặc biệt hai đĩa cũng được phát hành vào tháng 6 năm 2001 để quảng bá cho tour Drowned World Tour, CD chứa một số bản thu âm mới và video của bài hát "What It Feels Like for a Girl".
Madonna đã hợp tác với nhà sản xuất người Pháp Mirwais Ahmadzai cho album này. "Music" là một album mang định hướng của electronic và dance-pop, mục đích của việc này là Madonna muốn hướng tới nhạc dance châu Âu, tuy nhiên, album này cũng có chứa các thành phần của rock,[4] nhạc đồng quê và nhạc folk.[4] Sau khi phát hành, album đã nhận được những đánh giá tích cực của các nhà phê bình, ca ngợi sự hợp tác của Madonna với Mirwais, cũng như sự sáng tạo trong âm nhạc của nó, đúng như tên gọi của album. Album giành được 5 đề cử Giải Grammy và giành được một giải cho "Gói thầu ghi âm xuất sắc nhất". Album được đề cử "Album giọng pop xuất sắc nhất", đĩa đơn cùng tên cũng được đề cử 2 hạng mục "Thu âm của năm" và "Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất". Album này cũng được tạp chí Rolling Stone liệt kê trong danh sách 500 album vĩ đại nhất mọi thời đại. Về mặt thương mại, "Music" đạt vị trí số một tại hơn 23 nước trên thế giới và bán được hơn một triệu bản trong mười ngày đầu. Với 15 triệu bản được bán trên toàn thế giới, cho đến nay, đây là album bán chạy nhất của Madonna trong thập niên 2000.[5]
Ba đĩa đơn và một đĩa đơn quảng bá đã được phát hành từ "Music", trong đó "đĩa đơn cùng tên đã đạt vị trí quán quân tại 25 quốc gia và trở thành đĩa đơn quán quân thứ 12 của Madonna trên Billboard Hot 100, cũng như nhận được những đánh giá tích cực, được liệt kê vào danh sách một trong những bài hát hay nhất của những năm 2000 [6] và nhận hai đề cử giải Grammy. Đĩa đơn tiếp theo, "Don't Tell Me", đạt được thành công về thương mại, nằm trong top 10 tại Mỹ [7] và Vương quốc Anh[8] và một số nước khác. "What It Feels Like for a Girl" được chọn làm đĩa đơn thứ ba, nằm trong top 10 ở Anh, Ý, New Zealand và các nước khác,[9] nhưng nó lại thất bại tại Mỹ, khi chỉ đạt vị trí thứ 23,[10] kèm theo tranh cãi với phần video đầy cảnh bạo lực, và nó bị cấm chiếu trên MTV.[11] "Impressive Instant", một đĩa đơn quảng bá từ album, được phát hành như là đĩa đơn trong câu lạc bộ, và đã đứng đầu bảng xếp hạng Hot Dance Club Songs.[12]
Cùng với "Ray of Light", Madonna quảng bá "Music" trên toàn thế giới bằng tour diễn Drowned World Tour, được giới phê bình đánh giá cao, thu về khoảng 75 triệu đô và là tour diễn có doanh thu cao thứ tư năm 2001,[13] cũng như 2 đề cử giải Pollstar Concert Industry năm 2001.[14] Album được quảng bá một lần nữa bằng tour Don't Tell Me Promo Tour, một tour lưu diễn khuyến mãi gồm 2 buổi diễn. Các bài hát này cũng được Madonna trình diễn trong các tour diễn sau này.
Danh sách ca khúc [sửa]
| # | Tên | Nhạc sĩ | Nhà sản xuất | Thời lượng |
|---|---|---|---|---|
| 01 | "Music" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 3:44 |
| 02 | "Impressive Instant" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 3:37 |
| 03 | "Runaway Lover" | Madonna, William Orbit | Madonna và William Orbit | 4:47 |
| 04 | "I Deserve It" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:23 |
| 05 | "Amazing" | Madonna, William Orbit | Madonna và William Orbit | 3:43 |
| 06 | "Nobody's Perfect" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:58 |
| 07 | "Don't Tell Me" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï, Joe Henry | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:40 |
| 08 | "What It Feels Like for a Girl" 1 | Madonna, Guy Sigsworth, David Torn | Madonna, Guy Sigsworth và Mark "Spike" Stent | 4:43 |
| 09 | "Paradise (Not for Me)" | Mirwais Ahmadzaï, Madonna | Mirwais Ahmadzaï và Madonna | 6:33 |
| 10 | "Gone" | Madonna, Damian Le Gassick, Nik Young | Madonna, William Orbit và Mark "Spike" Stent | 3:25 |
| Bonus track ngoài Mỹ | ||||
| 11 | "American Pie" | Don McLean | Madonna và William Orbit | 4:33 |
| Bonus track tại Úc & Nhật | ||||
| 12 | "Cyberraga" | dịch bởi Madonna và Talvin Singh trích từ Vedic Mantra và Mahabharata |
Madonna và Talvin Singh | 5:31 |
Chứng nhận & doanh số [sửa]
| Bảng xếp hạng | Vị trí cao nhất | Chứng nhận (nếu có) | Doanh số |
|---|---|---|---|
| Australia | 3 | 3x Bạch kim[15] | 210.000+ |
| Áo | 1 | Bạch kim[16] | 30.000+ |
| Brasil | 1 | 2x Bạch kim[17] | 250.000 |
| Canada | 3x Bạch kim[18] | 300.000+ | |
| Đan Mạch | 1 | 2x Bạch kim[19] | 80.000+ |
| Châu Âu | 1 | 5x Bạch kim[20] | 5.000.000 |
| Phần Lan | 1 | Vàng[21] | 15.000 |
| Pháp | 1 | 2x Bạch kim[22] | 700.000+ |
| Đức | 1 | 2x Bạch kim[23] | 400.000+ |
| Hungary | Vàng[24] | 3.000+ | |
| Israel | 1 | Vàng | 20.000+ |
| Mexico | 5 | Vàng[25] | 75.000+ |
| Hà Lan | 1 | 2x Bạch kim[26] | 140.000+ |
| New Zealand | 2 | 2x Bạch kim[27] | 30.000+ |
| Ba Lan | Bạch kim[28] | 20.000+ | |
| Thụy Điển | 1 | Bạch kim[29] | 40.000+ |
| Thụy Sỹ | 1 | 2x Bạch kim[30] | 60.000+ |
| Liên Hiệp Anh | 1 | 5x Bạch kim[31] | 1.500.000+ |
| Hoa Kỳ | 1 | 3x Bạch kim[32] | 3.000.000+[32] |
Chú thích [sửa]
- ^ Williams, Jeannie (14 tháng 9 năm 1999). “Music man Joe Pesci plays amid MTV elite”. Pqasb.pqarchiver.com. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010.
- ^ Smith, Liz (7 tháng 10 năm 1999). “Madonna Keeps Busy”. Pqasb.pqarchiver.com. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010.
- ^ Manning, Kara (31 tháng 5 năm 2000). “News - Articles - 1431556 - 20000531”. Mtv.com. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010.
- ^ a b Thomas, Stephen (19 tháng 9 năm 2000). “Music - Madonna”. AllMusic. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2011.
- ^ Hastings, Chris (28 tháng 8 năm 2005). “Madonna uses secret nightclub 'focus groups' to pick songs for new album”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2010.
- ^ [1][liên kết hỏng]
- ^ “Madonna Music News & Info”. Billboard.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ “Madonna - Don't Tell Me”. Chart Stats. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ Steffen Hung. “Madonna - What It Feels Like For A Girl”. italiancharts.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ “What It Feels Like For A Girl (2001)”. Themadonnabbarchives.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ Neva Chonin, special to SF Gate (23 tháng 3 năm 2001). “Madonna's No 'Pussy Cat' / MTV bans her latest video, again”. Sfgate.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ “Chart Beat”. Billboard.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ Wiederhorn, Jon (21 tháng 12 năm 2001). “U2, 'NSYNC, Backstreet Top List Of 2001's Biggest Concert Grossers”. MTV. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ “Pollstar Awards Archive - 2001”. Pollstarpro.com. 9 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011.
- ^ ARIA
- ^ IFPI Austria
- ^ ABPD
- ^ CRIA
- ^ [2]
- ^ "IFPI Platinum Europe Awards - 2002"
- ^ IFPI Finland
- ^ Disque En France
- ^ IFPI Germany
- ^ MAHASZ
- ^ AMPROFON
- ^ NVPI
- ^ RIANZ – July 22nd 2001
- ^ ZPAV
- ^ IFPI Sweden – 2000 Certifications
- ^ IFPI Switzerland
- ^ BPI
- ^ a b Billboard – Ask Billboard
| Tiền nhiệm: G.O.A.T. của LL Cool J |
Album quán quân tại Mỹ 7 tháng 10 - 13 tháng 10, 2000 |
Kế nhiệm: Let's Get Ready của Mystikal |
| Tiền nhiệm: Sing When You're Winning của Robbie Williams |
Album quán quân tại Liên hiệp Anh 16 tháng 9 - 30 tháng 9, 2000 |
Kế nhiệm: Kid A của Radiohead |