MDNA (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
MDNA
Album phòng thu của Madonna
Phát hành 23 tháng 3, 2012
Thu âm 2011
Las Vegas, Nevada
(Studio at the Palms)
London, Anh
(Guerilla Strip, Sarm West Studios)
Los Angeles, California
(3:20 Studios)
New York, New York
(MSR Studios)
Noho, California
(Free School)
Thời lượng 50:47
Hãng đĩa Interscope, Live Nation
Sản xuất Madonna, Klas Åhlund, Alle Benassi, Benny Benassi, The Demolition Crew, Free School, Jimmy Harry, Michael Malih, Indiigo, William Orbit, Martin Solveig
Thứ tự album của Madonna
Sticky & Sweet Tour
(2010)
MDNA
(2012)
Bìa các phiên bản khác
Bìa phiên bản sang trọng
Đĩa đơn từ MDNA
  1. "Give Me All Your Luvin'"
    Phát hành: 3 tháng 2, 2012 (2012-02-03)
  2. "Girl Gone Wild"
    Phát hành: 2 tháng 3, 2012 (2012-03-02)
  3. "Turn Up the Radio"
    Phát hành: 5 tháng 8, 2012 (2012-08-05)

MDNA[1][2][3] (một cách viết tắt của "Madonna")[4] là album phòng thu thứ 12 của nữ ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna, ra mắt lần đầu vào ngày 26 tháng 3 năm 2012. Đây sẽ là ấn phẩm âm nhạc đầu tiên của cô nằm trong hợp đồng với Live Nation Entertainment, cùng cộng tác với Interscope Records, và cũng là album đầu tiên của Madonna không còn liên quan tới Warner Bros. Records, hãng đĩa song hành cùng nữ ca sĩ từ khi cô khởi nghiệp năm 1982.[5] Cũng như những album trước, trong MDNA, Madonna vẫn hợp tác với những nhà sản xuất mà cô đã làm việc lâu năm như: với một loạt các nhà sản xuất như: Alle Benassi, Benny Benassi, Demolition Crew, Free School, Michael Malih, Indiigo, William Orbit, Martin Solveig.

Album nhận được những đánh giá phê bình chủ yếu là tích cực từ giới phê bình. Khi phát hành, album đã đứng vị trí số một tại nhiều quốc gia trên toàn thế giới, bao gồm Úc, Canada, Ý, Tây Ban Nha, Vương quốc AnhMỹ. Với MDNA, Madonna tiếp tục thiết lập kỷ lục nghệ sĩ solo có nhiều album quán quân nhất tại Úc và Vương quốc Anh, nhưng đây cũng là album có lượng đĩa sụt giảm mạnh nhất trong tuần thứ hai cho một album quán quân theo kỷ nguyên Nielsen SoundScan tại Mỹ. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "Give Me All Your Luvin', với sự góp giọng của Nicki MinajM.I.A., đã được phát hành vào ngày 03 tháng 2 năm 2012. Đĩa đơn này đã trở thành đĩa đơn nằm trong top 10 thứ 38 của cô trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, giúp cô giữ vững kỷ lục nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn nằm trong top 10 nhất trong lịch sử của bảng xếp hạng này.[5][6] Đĩa đơn thứ hai "Girl Gone Wild" được phát hành vào ngày 2 tháng 3 năm 2012 dưới dạng tải kĩ thuật số. "Turn Up the Radio" được chọn là đĩa đơn thứ ba trong album và được phát hành vào ngày 05 tháng 8 năm 2012. Ba đĩa đơn trích từ "MDNA" đều đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot Dance Club Songs, giúp Madonna vững chức ngôi vị là nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn quán quân nhất trên bảng xếp hạng này. Trước khi phát hành album, Madonna biểu diễn tại Super Bowl XLVI Halftime vào ngày 04 tháng 2 năm 2012. Album này hiện đang được thúc đẩy bởi chuyến lưu diễn MDNA Tour.

Mục lục

Danh sách bài hát [sửa]

# Tên ca khúc Người viết Sản xuất Thời lượng
1. "Girl Gone Wild"   Madonna, Jenson Vaughan, Alle Benassi, Benny Benassi Madonna, B. Benassi, A. Benassi 3:43
2. "Gang Bang"   Madonna, William Orbit, Priscilla Hamilton, Keith Harris, Jean-Baptiste, Mika, Don Juan Demo Casanova, Stephen Kozmeniuk Madonna, Orbit, The Demolition Crew 5:26
3. "I'm Addicted"   Madonna, A. Benassi, B. Benassi Madonna, B. Benassi, A. Benassi, The Demolition Crew* 4:33
4. "Turn Up the Radio"   Madonna, Martin Solveig, Michael Tordjman, Jade Williams Madonna, Solveig 3:46
5. "Give Me All Your Luvin'" (hợp tác với Nicki MinajM.I.A.) Madonna, Solveig, Minaj, Maya Arulpragasam, Tordjman Madonna, Solveig 3:22
6. "Some Girls"   Madonna, Orbit, Klas Åhlund Madonna, Orbit, Åhlund* 3:53
7. "Superstar"   Madonna, Indiigo, Michael Malih Madonna, Indiigo, Malih 3:55
8. "I Don't Give A" (hợp tác với Nicki Minaj) Madonna, Solveig, Minaj, Julien Jabre Madonna, Solveig 4:19
9. "I'm a Sinner"   Madonna, Orbit, Jean-Baptiste Madonna, Orbit 4:52
10. "Love Spent"   Madonna, Orbit, Jean-Baptiste, Hamilton, Alain Whyte, Ryan Buendia, Michael McHenry Madonna, Orbit, Free School* 3:46
11. "Masterpiece"   Madonna, Julie Frost, Jimmy Harry Madonna, Orbit, Harry^ 3:59
12. "Falling Free"   Madonna, Laurie Mayer, Orbit, Joe Henry Madonna, Orbit 5:13
Tổng thời lượng:
50:52

Phiên bản sang trọng [sửa]

Phiên bản Nightlife [sửa]

Chú ý
  • (*) tức đồng sản xuất
  • (^) tức sản xuất bổ sung

Xếp hạng và chứng nhận [sửa]

Xếp hạng tuần [sửa]

Bảng xếp hạng (2012) Vị trí
cao nhất
Argentinian Albums Chart[10] 1
Australian Albums Chart[11] 1
Austrian Albums Chart[12] 3
Belgian Flanders Albums Chart[12] 1
Belgian Wallonia Albums Chart[12] 3
Canadian Albums Chart[13] 1
Croatian Albums Chart[14] 1
Czech Albums Chart[15] 1
Danish Albums Chart[12] 2
Dutch Albums Chart[12] 1
Finnish Albums Chart[12] 1
French Albums Chart[16] 2
German Albums Chart[17] 3
Greek Albums Chart[18] 1
Hungarian Albums Chart[19] 1
Irish Albums Chart[20] 1
Italian Albums Chart[12] 1
Japanese Albums Chart[21] 4
Mexican Albums Chart[22] 1
New Zealand Albums Chart[12] 3
Norwegian Albums Chart[12] 2
Polish Albums Chart[23] 1
Portuguese Albums Chart[12] 2
Russian Albums Chart[24] 1
Scottish Albums Chart[25] 1
Spanish Albums Chart[26] 1
Swedish Albums Chart[12] 1
Swiss Albums Chart[12] 2
Taiwanese Albums Chart[27] 6
UK Albums Chart[28] 1
US Billboard 200[29] 1
US Dance/Electronic Albums[30] 1

Chứng nhận [sửa]

Nước Chứng nhận
Úc Vàng[11]
Áo Vàng[31]
Brazil 2× bạch kim[32]
Đan Mạch Vàng[33]
Phần Lan Vàng[34]
Pháp Bạch kim[35]
Đức Vàng[36]
Hungary Bạch kim[37]
Ấn Độ Vàng[38]
Ý Bạch kim[39]
Nhật Bản Vàng[40]
Mexico Vàng[41]
Ba Lan Bạch kim[42]
Bồ Đào Nha Vàng[43]
Nga 7× Bạch kim[44]
Tây Ban Nha Vàng
Thụy Điển Vàng[45]
Mỹ Vàng[46]

Lịch sử phát hành [sửa]

Nước Ngày Định dạng Phiên bản
Úc[47] 23 tháng 3, 2012 CD, tải kĩ thuật số Standard, sang trọng
Đức[48]
Canada[49] 26 tháng 3, 2012
Colombia[50][51]
Nhật Bản[52] Sang trọng
Vương quốc Anh[53][54] Standard, sang trọng
Mỹ[55]
Mỹ[56] 10 tháng 4, 2012 LP Sang trọng

Chú thích [sửa]

  1. ^ “Madonna Reveals New Album Title”. Madonna.com. 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012. 
  2. ^ Mitchell, John (15 tháng 12 năm 2011). “Madonna Confirms Title Of 12th Studio Album – Music, Celebrity, Artist News”. MTV (Viacom). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012. 
  3. ^ Mapes, Jillian (11 tháng 1 năm 2011). “Madonna Reveals Album Title, Comments on Gaga”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012. 
  4. ^ Chi Izundu, Chi (12 tháng 1 năm 2012). “Madonna reveals her new album name at W.E. premiere”. BBC Online. BBC. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012. 
  5. ^ a b “Madonna and Live Nation Confirm 3 Album Deal with Interscope Records”. Madonna.com. Live Nation. 15 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2011. 
  6. ^ “Madonna to release new single 'Gimme All Your Luvin'' in January 2012”. NME. IPC Media. 15 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2011. 
  7. ^ “MADONNA | マドンナ - MDNA - UNIVERSAL MUSIC JAPAN”. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2012. 
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hipdigital1
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên facebook1
  10. ^ “Los discos, películas y libros más vendidos del 26 de marzo al 1 de abril”. Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. 4 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2012. 
  11. ^ a b “Top 50 Albums Chart - Australian Recording Industry Association”. Australian Recording Industry Association. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012. 
  12. ^ a b c d e f g h i j k l “Madonna – MDNA”. ultratop.be. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012. 
  13. ^ John Williams. “CANOE - JAM! Music - Artists - Madonna : Madonna's 'MDNA' hits No. 1”. Jam.canoe.ca. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  14. ^ “Top Kombiniranih - Tjedan 13. 2012.”. Hrvatska Diskografska Udruga. 1 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012. 
  15. ^ “TOP50 Prodejní: Madonna - MDNA”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012. 
  16. ^ “Disque en France”. Disque en France. 26 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  17. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên germany
  18. ^ “CYTA”. Cyta.gr. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  19. ^ “MAHASZ – Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége”. mahasz.hu. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2012. 
  20. ^ “Irish Albums Chart > Archive > Week Ending: March 29, 2012”. GFK. 
  21. ^ “【オリコン】マドンナ、洋楽女性初の快挙 アルバム2作同時初登場TOP10”. Oricon. 3 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012. 
  22. ^ “Top 100 México - Los más vendidos”. AMPROFON. 9 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  23. ^ “Oficjalna lista sprzedaży :: OLIS - Official Retail Sales Chart”. olis.onyx.pl. 10 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2012. 
  24. ^ “Россия Топ 25. Альбомы.” (bằng Russian). Lenta.Ru (Rambler Media Group). 13 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2012. 
  25. ^ “2012 Top 40 Scottish Albums Archive: 7th April 2012”. Official Charts Company. 7 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  26. ^ “Top 100 Álbumes 13/2012”. Productores de Música de España. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2012. 
  27. ^ “G-Music 風雲榜 (西洋榜)”. G-music.com.tw. 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012. 
  28. ^ “Top 40 Official UK Albums Archive”. Official Charts Company. 7 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012. 
  29. ^ Up for Discussion (14 tháng 9 năm 2009). “Madonna Debuts at No. 1 on Billboard 200, Lionel Richie at No. 2”. Billboard.com. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  30. ^ “Dance/Electronic Albums: Week of April 14, 2012”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2012. 
  31. ^ “IFPI Austria - Verband der Österreichischen Musikwirtschaft” (bằng (tiếng Đức)). Ifpi.at. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2012. 
  32. ^ “Associaçăo Brasileira de Produtores de Disco”. ABPD. 25 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012. 
  33. ^ “Certificeringer” (bằng Danish). IFPI Denmark. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012. 
  34. ^ “Tilastot - Madonna” (bằng Finnish). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2012. 
  35. ^ “Annee 2012 - Certifications Au 31/10/2012”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. 31 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012. 
  36. ^ “Bundesverband Musikindustrie: Gold-/Platin-Datenbank”. Musikindustrie.de. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012. 
  37. ^ “Hungarian Top 40 – Certification” (bằng Hungarian). Mahasz. 2012. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2012. 
  38. ^ “Madonna’s MDNA certified gold status in India”. India Infoline News Service. 9 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  39. ^ “Certificazione Album fisici e digitali dalla settimana 1 del 2009 alla settimana 21 del 2012” (PDF) (bằng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012. 
  40. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2012年3月”. Recording Industry Association of Japan. 31 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2012. 
  41. ^ “México album certifications – Madonna – MDNA” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2012. 
  42. ^ “Platynowe CD” (bằng Polish). Polish Society of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2012. 
  43. ^ “Top 30 Artistas - Semana 24 de 2012” (bằng Portuguese). Associação Fonográfica Portuguesa. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 
  44. ^ “Россия Топ 25. Альбомы.”. National Federation of Phonograph Producers. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  45. ^ “Sverige Topplistan” (bằng Swedish). Swedish Recording Industry Association. 28 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012.  Note: Insert MDNA and press Sök, then press visa.
  46. ^ “RIAA – Gold & Platinum Searchable Database”. Recording Industry Association of America. 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2012. 
  47. ^ “MDNA: Deluxe Edition (AUS)”. Sanity.com.au.  Đã bỏ qua văn bản “MDNA Deluxe” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “accessdate-2012-3-20” (trợ giúp)
  48. ^ “MDNA (Deluxe Edition): Madonna: Amazon.de: Musik”. Amazon.de. 9 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  49. ^ “MDNA Deluxe (Canada)”. Amazon.ca. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012. 
  50. ^ “Madonna estrena hoy a nivel mundial MDNA, el álbum más esperado del año”. UniversoPop.com (bằng Spanish). Universalmusicgroup.com. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2012. 
  51. ^ “MDNA (Deluxe Version) by Madonna”. Apple.com.co. iTunes.com. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2012. 
  52. ^ “MDNA マドンナ” [MDNA Madonna] (bằng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012. 
  53. ^ “MDNA Standard (UK)”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  54. ^ “MDNA Deluxe (UK)”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 
  55. ^ “MDNA Deluxe (US)”. Amazon.com.  Đã bỏ qua văn bản “MDNA Deluxe” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “accessdate-2012-3-20” (trợ giúp)
  56. ^ “MDNA Vinyl”. Amazon.com. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2012. 

Liên kết ngoài [sửa]