American Life
| American Life | ||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Album phòng thu của Madonna | ||||||||||
| Phát hành | 22 tháng 4, 2003 | |||||||||
| Thu âm | 2002 | |||||||||
| Thể loại | pop, Electronica, Techno, Dance, Folk, Pop Rock. | |||||||||
| Thời lượng | 49:39 | |||||||||
| Hãng đĩa | Maverick, Warner Bros. | |||||||||
| Sản xuất | Madonna, Mirwais Ahmadzaï, Mark "Spike" Stent | |||||||||
| Đánh giá chuyên môn | ||||||||||
| Thứ tự album của Madonna | ||||||||||
|
||||||||||
American Life (Cuộc sống Mỹ) là album phòng thu thứ 9 của nữ ca sĩ người Mỹ Madonna, được phát hành ngày 22 tháng 4 năm 2003 bởi hãng đĩa Maverick Records. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ RIAA đã chứng nhận album là đĩa vàng và bạch kim vào ngày 7 tháng 7 nhờ đã bán được 674,000 bản[1]. Tuy nhiên, đây lại là album tiêu thụ ít nhất trong sự nghiệp của Madonna tính đến thời điểm này và American Life là album cuối cùng của cô phát hành bởi Maverick.
Mục lục |
Thông tin album [sửa]
American Life hầu như được soạn nhạc và sản xuất bởi Madonna và Mirwais Ahmadzaï. Hai nghệ sĩ vốn đã hợp tác với nhau trong album trước năm 2000 Music của Madonna. Một vài nhạc sĩ khác tham gia sáng tác cho album là Monte Pittman, Stuart Price, ca-nhạc sĩ người Anh Jem Griffiths và Guy Sigsworth, người có tham gia làm việc trong ca khúc "What It Feels Like for a Girl" từ album Music.
Madonna bắt đầu thu âm album từ năm 2002, sau khi đóng vai trong bộ phim Swept Away. Trong khi đang ghi âm tại London, cô cũng tham gia một số hoạt động khác như xuất hiện trong vở kịch Up For Grabs và bộ phim James Bond Die Another Day. Việc thu âm hoàn tất tại London và Los Angeles cuối năm 2002.
Sau khi phát hành, Madonna có quảng bá cho American Life bằng một album phối khí lại, Remixed & Revisited, và chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới năm 2004 Re-Invention Tour.
Tên và bìa album [sửa]
Một trong những tựa đề dự kiến cho album là Ein Sof, vốn đã được Madonna đề cập trong cuộc phỏng vấn với Larry King trong tháng 10 năm trong chiến dịch quảng cáo cho bộ phim Swept Away. "Ein Sof" là tiếng Hebrew, và nghĩa là “không kết thúc”. Đầu năm 2003, tên album được tiết lộ là Hollywood (một ca khúc trong album), trước khi tựa đề chính thức American Life được xác nhận ngày 10 tháng 2 năm 2003. Trung tuần tháng 1 năm 2003, bộ ảnh cho album được thực hiện bởi nhiếp ảnh gia Craig McDean. McDean đã từng làm việc với Madonna cho bộ ảnh trong tạp chí Vanity Fair số ra tháng 10 năm 2002. Theo như một số nguồn tin không chính thức thì chi phí cho nhữg tấm ảnh là $415,000. Lấy chủ đề quân đội làm cảm hứng, bộ ảnh có hai màu chủ đạo là đen và xanh lá cây với hình ảnh Madonna ăn mặc như một quân nhân và tay cầm súng. Chân dung của cô trên bìa đĩa gần như là sao chép hoàn toàn bức ảnh nổi tiếng của Che Guevara.
Các ca khúc trong album [sửa]
| Track | Tựa ca khúc | Nhạc sĩ | Nhà sản xuất | Thời lượng |
|---|---|---|---|---|
| 1. | "American Life" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:58 |
| 2. | "Hollywood" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:24 |
| 3. | "I'm So Stupid" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:09 |
| 4. | "Love Profusion" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 3:38 |
| 5. | "Nobody Knows Me" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:39 |
| 6. | "Nothing Fails" | Madonna, Guy Sigsworth, Jem Griffiths | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:49 |
| 7. | "Intervention" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:54 |
| 8. | "X-Static Process" | Madonna, Stuart Price | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 3:50 |
| 9. | "Mother and Father" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:33 |
| 10. | "Die Another Day" | Madonna, Mirwais Ahmadzaï | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 4:38 |
| 11. | "Easy Ride" | Madonna, Monte Pittman | Madonna và Mirwais Ahmadzaï | 5:05 |
Vị trí xếp hạng & chứng nhận [sửa]
| Quốc gia | Vị trí cao nhất | Chứng nhận | Doanh số |
|---|---|---|---|
| Australia | 3 | Bạch kim[2] | 70,000 |
| Bỉ | 1 | 20,000 | |
| Brasil | — | Vàng[3] | 50,000 |
| Canada | 1 | Bạch kim[4] | 100,000 |
| Đan Mạch | 2 | Vàng[5] | 15,000 |
| Châu Âu | 1 | Bạch kim | 1.000.000 |
| Pháp | 1 | Bạch kim[6] | 400,000 |
| Đức | 1 | Bạch kim[7] | 200,000 |
| Hy Lạp | 1 | Vàng | 15,000 |
| Hungary | Vàng[8] | 5,000+ | |
| Ý | 1 | Bạch kim | 70,000 |
| Nhật | 1 | Vàng[9] | 100,000 |
| Hà Lan | 3 | Vàng[10] | 30,000 |
| New Zealand | 2 | 2,000 | |
| Na Uy | 1 | 5,000 | |
| Ba Lan | 4 | Vàng[11] | 27,000 |
| Tây Ban Nha | 2 | Vàng | 50,000 |
| Thụy Điển | 1 | Vàng[12] | 40,000 |
| Thụy Sỹ | 1 | Bạch kim[13] | 30,000 |
| Liên hiệp Anh | 1 | Bạch kim[14] | 335,115 |
| Hoa Kỳ | 1 | Bạch kim[15] | 675,000[1] |
Chú thích [sửa]
- ^ a b Grein, Paul. "Chart Watch Extra: What A Turkey! The 25 Worst-Selling #1 Albums". Yahoo! Music. 21 tháng 11, 2008.
- ^ ARIA
- ^ ABPD
- ^ CRIA
- ^ IFPI Denmark
- ^ Disque En France
- ^ IFPI Germany
- ^ MAHASZ
- ^ RIAJ Certification Awards tháng 7 năm 2003
- ^ NVPI
- ^ [1] ZPAV Poland
- ^ IFPI Sweden – 2003 Certifications
- ^ IFPI Switzerland
- ^ BPI UK
- ^ Billboard – Ask Billboard
| Tiền nhiệm: Thankful của Kelly Clarkson |
Album quán quân tại Mỹ 4 tháng 5, 2003 – 10 tháng 5, 2003 |
Kế nhiệm: Get Rich or Die Tryin' của 50 Cent |
| Tiền nhiệm: A Rush of Blood to the Head của Coldplay |
Album quán quân tại Liên hiệp Anh & Bắc Ireland 3 tháng 5, 2003 – 9 tháng 5, 2003 |
Kế nhiệm: Justified của Justin Timberlake |