American Life

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
American Life
Album phòng thu của Madonna
Phát hành 22 tháng 4, 2003
Thu âm 2002
Thể loại pop, Electronica, Techno, Dance, Folk, Pop Rock.
Thời lượng 49:39
Hãng đĩa Maverick, Warner Bros.
Sản xuất Madonna, Mirwais Ahmadzaï, Mark "Spike" Stent
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Madonna
GHV2
(2001)
American Life
(2003)
Remixed & Revisited
(2003)
Đĩa đơn từ American Life
  1. "Die Another Day"
    Phát hành: 22 tháng 10, 2002
  2. "American Life"
    Phát hành: 8 tháng 4, 2003 (Mỹ)
    14 tháng 7, 2003 (trừ Mỹ)
  3. "Hollywood"
    Phát hành: 3 tháng 7, 2003 (châu Âu)
    8 tháng 7, 2003 (Mỹ)
  4. "Nobody Knows Me"
    Phát hành: 15 tháng 10, 2003
  5. "Nothing Fails"
    Phát hành: 21 tháng 11, 2003 (châu Âu)
  6. "Love Profusion"
    Phát hành: 8 tháng 12, 2003 (châu Âu và Australia)
    16 tháng 3, 2004 (Bắc Mỹ)

American Life (Cuộc sống Mỹ) là album phòng thu thứ 9 của nữ ca sĩ người Mỹ Madonna, được phát hành ngày 22 tháng 4 năm 2003 bởi hãng đĩa Maverick Records. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ RIAA đã chứng nhận album là đĩa vàng và bạch kim vào ngày 7 tháng 7 nhờ đã bán được 674,000 bản[1]. Tuy nhiên, đây lại là album tiêu thụ ít nhất trong sự nghiệp của Madonna tính đến thời điểm này và American Life là album cuối cùng của cô phát hành bởi Maverick.

Thông tin album[sửa | sửa mã nguồn]

American Life hầu như được soạn nhạc và sản xuất bởi Madonna và Mirwais Ahmadzaï. Hai nghệ sĩ vốn đã hợp tác với nhau trong album trước năm 2000 Music của Madonna. Một vài nhạc sĩ khác tham gia sáng tác cho album là Monte Pittman, Stuart Price, ca-nhạc sĩ người Anh Jem GriffithsGuy Sigsworth, người có tham gia làm việc trong ca khúc "What It Feels Like for a Girl" từ album Music.

Madonna bắt đầu thu âm album từ năm 2002, sau khi đóng vai trong bộ phim Swept Away. Trong khi đang ghi âm tại London, cô cũng tham gia một số hoạt động khác như xuất hiện trong vở kịch Up For Grabs và bộ phim James Bond Die Another Day. Việc thu âm hoàn tất tại London và Los Angeles cuối năm 2002.

Sau khi phát hành, Madonna có quảng bá cho American Life bằng một album phối khí lại, Remixed & Revisited, và chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới năm 2004 Re-Invention Tour.

Tên và bìa album[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những tựa đề dự kiến cho album là Ein Sof, vốn đã được Madonna đề cập trong cuộc phỏng vấn với Larry King trong tháng 10 năm trong chiến dịch quảng cáo cho bộ phim Swept Away. "Ein Sof" là tiếng Hebrew, và nghĩa là “không kết thúc”. Đầu năm 2003, tên album được tiết lộ là Hollywood (một ca khúc trong album), trước khi tựa đề chính thức American Life được xác nhận ngày 10 tháng 2 năm 2003. Trung tuần tháng 1 năm 2003, bộ ảnh cho album được thực hiện bởi nhiếp ảnh gia Craig McDean. McDean đã từng làm việc với Madonna cho bộ ảnh trong tạp chí Vanity Fair số ra tháng 10 năm 2002. Theo như một số nguồn tin không chính thức thì chi phí cho nhữg tấm ảnh là $415,000. Lấy chủ đề quân đội làm cảm hứng, bộ ảnh có hai màu chủ đạo là đenxanh lá cây với hình ảnh Madonna ăn mặc như một quân nhân và tay cầm súng. Chân dung của cô trên bìa đĩa gần như là sao chép hoàn toàn bức ảnh nổi tiếng của Che Guevara.

Các ca khúc trong album[sửa | sửa mã nguồn]

Track Tựa ca khúc Nhạc sĩ Nhà sản xuất Thời lượng
1. "American Life" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:58
2. "Hollywood" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:24
3. "I'm So Stupid" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:09
4. "Love Profusion" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 3:38
5. "Nobody Knows Me" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:39
6. "Nothing Fails" Madonna, Guy Sigsworth, Jem Griffiths Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:49
7. "Intervention" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:54
8. "X-Static Process" Madonna, Stuart Price Madonna và Mirwais Ahmadzaï 3:50
9. "Mother and Father" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:33
10. "Die Another Day" Madonna, Mirwais Ahmadzaï Madonna và Mirwais Ahmadzaï 4:38
11. "Easy Ride" Madonna, Monte Pittman Madonna và Mirwais Ahmadzaï 5:05

Vị trí xếp hạng & chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Vị trí cao nhất Chứng nhận Doanh số
Australia 3 Bạch kim[2] 70,000
Bỉ 1 20,000
Brasil Vàng[3] 50,000
Canada 1 Bạch kim[4] 100,000
Đan Mạch 2 Vàng[5] 15,000
Châu Âu 1 Bạch kim 1.000.000
Pháp 1 Bạch kim[6] 400,000
Đức 1 Bạch kim[7] 200,000
Hy Lạp 1 Vàng 15,000
Hungary Vàng[8] 5,000+
Ý 1 Bạch kim 70,000
Nhật 1 Vàng[9] 100,000
Hà Lan 3 Vàng[10] 30,000
New Zealand 2 2,000
Na Uy 1 5,000
Ba Lan 4 Vàng[11] 27,000
Tây Ban Nha 2 Vàng 50,000
Thụy Điển 1 Vàng[12] 40,000
Thụy Sỹ 1 Bạch kim[13] 30,000
Liên hiệp Anh 1 Bạch kim[14] 335,115
Hoa Kỳ 1 Bạch kim[15] 675,000[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Thankful của Kelly Clarkson
Album quán quân tại Mỹ
4 tháng 5, 2003 – 10 tháng 5, 2003
Kế nhiệm:
Get Rich or Die Tryin' của 50 Cent
Tiền nhiệm:
A Rush of Blood to the Head của Coldplay
Album quán quân tại Liên hiệp Anh & Bắc Ireland
3 tháng 5, 2003 – 9 tháng 5, 2003
Kế nhiệm:
Justified của Justin Timberlake