In the Zone

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
In the Zone
Album phòng thu của Britney Spears
Phát hành 16 tháng 11, 2003 (2003-11-16)
Thu âm 2002–03
Thể loại Pop, dance
Thời lượng 45:23
Hãng đĩa Jive
Sản xuất Brian and Josh, Bloodshy & Avant, Roy "Royalty" Hamilton, Jimmy Harry, Penelope Magnet, Moby, The Matrix, R. Kelly, Rishi Rich, Guy Sigsworth, Shep Soloman, Mark Taylor, Trixster
Thứ tự album của Britney Spears
Britney
(2001)
In the Zone
(2003)
Blackout
(2007)
Đĩa đơn từ In the Zone
  1. "Me Against the Music"
    Phát hành: 20 tháng 10, 2003 (2003-10-20)
  2. "Toxic"
    Phát hành: 12 tháng 1, 2004 (2004-01-12)
  3. "Everytime"
    Phát hành: 17 tháng 5, 2004 (2004-05-17)
  4. "Outrageous"
    Phát hành: 13 tháng 7, 2004 (2004-07-13)

In the Zonealbum phòng thu thứ 4 của ca sĩ người Mỹ Britney Spears được ra mắt vào ngày 16 tháng 11 năm 2003 bởi hãng Jive Records. Đây là album đầu tiên Brit không tham gia hợp tác với nhà sản xuất lâu năm là Max Martin như 3 album trước đó mà tham gia với nhiều nhà sản xuất mới như Bloodshy & Avant, R. KellyChristopher Stewart. Kết quả album là ra đời một In the Zone đa dạng từ thể loại như dance, house, trip hop, hip hop cùng những nhạc cụ của âm nhạc Trung Đông cũng như đa dạng trong chủ đề như tình yêu, tình dục, nhảy múa và khẳng định sức mạnh bản thân. Album cũng đánh dấu sự thành công trong việc tự viết nhạc của Brit khi cô đồng tham gia sáng tác 8 ca khúc trong album này, thành công nhất trong đó phải kể đến 2 hit là "Toxic" và "Everytime". Đây cũng là album đầu tiên cô song ca với biểu tượng nhạc pop lúc bấy giờ là Madonna.

Sau khi ra mắt, In the Zone được các chuyên gia đánh giá hết sức tích cực, nhiều người gọi đó là một album đầy mạnh mẽ những như đầy chất lượng của nhạc pop, cũng như đánh giá cao sự đa dạng thể loại trong album và khả năng tự sáng tác bấy lâu nay bị nghi ngờ của Britney. Tuy nhiên một số chuyên gia cho rằng giọng hát trong album bị xử lý hơi quá tay. Về mặt thương mại, đây tiếp tục là album thành công nữa Britney khi tiến thẳng lên vị trí quán quân của Pháp, Đức, Canađa và Mỹ và lọt vào top 10 album của nhiều quốc gia khác. Tại Mỹ, với thành tích này, Britney trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên có 4 album đầu tay liên tiếp đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200. Mặc dù phát hành cuối năm 2003 nhưng In the Zone vẫn là album bán chạy thứ 8 trong năm 2003 của Mỹ và tính đến 2011, album đã bán được 10 triệu bản trên toàn thế giới.

Khác hẳn với album trước, các single trong album này của Britney đều thành công vang dội trên toàn thế giới. 3 single đầu là "Me Against the Music", "Toxic" và "Everytime" đều đứng đầu tại rất nhiều quốc gia cũng như bảng xếp hạng của thế giới trong nhiều tuần liền. Cả album cũng như các music video của nó đều được đánh giá cao và cả giới chuyên môn cũng như fan hâm mộ cho rằng đây là sự trưởng thành hết sức thành công của Britney từ hình tượng ngôi sao tuổi teen sang một người phụ nữ trưởng thành.

In the Zone cũng là album đầu tiên giúp Britney giành được giải Grammy đầu tiên trong sự nghiệp với "Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất" dành cho đĩa đơn "Toxic" tại Grammy 2005. Năm 2009, Amy Schriefer của tạp chí NPR đã đưa In the Zone vào trong danh sách "50 thu âm quan trọng nhất của thập kỷ" và gọi nó là "thứ âm thanh hiện đại của nền nhạc pop những năm 2000". In the Zone cùng với album tiếp sau của Britney là Blackout được coi là 2 album chất lượng nhất trong sự nghiệp của cô cũng như hai trong số những album chất lượng của nền nhạc pop thế giới trong thập niên đầu của thế kỷ 21.

Quá trình thu âm album[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2001, Britney phát hành album thứ 3 của mình là Britney với single mở màn là "I'm a Slave 4 U" mang đến một diện mạo Britney trưởng thành và sexy hơn..[1][2] Britney phát hành album cùng với chiến dịch quảng cáo là tour diễn Dream Within a Dream Tour kéo dài cho đến tháng 7 năm 2002. Sau tour diễn, Britney hết sức mệt mỏi, cộng thêm việc kết thúc mối quan hệ với Justin Timberlake cũng vào đầu năm đó;[3] cô đã quyết định nghỉ ngơi một vài tháng trước khi trở lại phòng thu cho album tiếp theo.

Quá trình thu âm album thứ 4 bắt đầu vào tháng 11 năm 2002, Britney chia sẻ "Tôi thực sự muốn nghỉ ngơi một vài tuần nhưng có vẻ cả thế giới đang chú ý đến tôi bảo rằng tôi đã biến mất…Oh my god! Vì thế tôi muốn bắt đầu công việc sớm hơn bao giờ hết"[1][4]. Britney cũng tham gia sáng tác một vài ca khúc cho album này từ trong tour diễn "Dream Within a Dream Tour". Cô tâm sự "Điều duy nhất làm tôi lo lắng là tôi không biết liệu những sáng tác của mình có hay không. Thế nhưng trong quá trình viết bạn không nên nghe theo bất cứ ai mà hãy cứ đi theo cảm xúc của mình."[1] Kết thúc tour diễn, Britney mời bạn bè và nhạc sĩ Annet Artani về nhà để sáng tác trên piano. Trong số những ca khúc mà họ làm việc có "Everytime", ca khúc mà Artani khẳng định đó là bài hát trà lời cho "Cry Me a River" của Justin Timberlake và một ca khúc nữa là "Shine" mà Britney viết về em gái của cô là Jamie Lynn, nhưng sau đó bị bỏ dở.[5]. Sau khi hoàn thành thu âm "Everytime", Britney hết sức khen ngợi nhà sản xuất Guy Sigsworth và nói rằng "Tôi biết có nhiều nhà sản xuất khi làm việc họ không thể đáp ứng những yêu cầu mà bạn đưa ra. Thế nhưng Sigsworth thật thú vị, tôi chỉ cần bảo anh ấy tôi muốn bài hát nó nghe như thế nào là anh ấy có thể làm cho nó như thế. "

Những bản thu âm sớm nhất của album bắt đầu từ đầu năm 2003, trong đó có "Touch of My Hand". Britney tâm sự rằng mặc dù cô vẫn chưa biết định hướng cho album lần này nhưng vẫn sẽ cố gắng làm việc với các nhà sản xuất và tìm ra những người mà cô ấy thực sự thích thú khi làm việc. Trong album lần này, Britney đã làm việc với nhiều nhà sản xuất tạo hit như Bloodshy & Avant, R. Kelly, Diddy, Christopher Stewart (nhà sản xuất)|Christopher Stewart, Moby, Guy Sigsworth, RedZoneThe Matrix.

Tháng 3 năm 2003, Lauren Christy từ The Matrix nói với MTV về việc họ rất thích thú khi làm việc cùng với Britney. Scott Spock, thành viên còn lại của The Matrix so sánh Britney với Madonn rằng: "Đây tiếp tục là bước tiến nữa của Britney trong sự nghiệp của cô ấy. Madonna lấy cảm hứng sáng tác từ các club và làm cho các bài hát của mình trở nên phổ biến hơn khi sử dụng những giai điệu đó. Tôi nghĩ Britney cũng đang làm công việc như vậy thay vì sử dụng những chất liệu thông thường và thực sự là điều đó rất phù hợp với Britney. [...] Tôi không nghĩ các fan của Britney sẽ sợ hãi hay buồn lòng về sản phẩm này, chắc chắn họ sẽ phát cuồng vì nó!"[6]

Britney cũng cho Quddus Philippe của MTV nghe qua một vài ca khúc của album mới trong cuộc phỏng vấn vào tháng 5 năm 2003, gồm 1 số bài như "Touch of My Hand", "Brave New Girl" và "Everytime" và nói rằng "Tôi cảm thấy mình thực sự đã điều khiển được thời gian và năng lực sáng tác của mình; và tôi đang cố gắng làm album này trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết."[7]

Christy, thành viên của The Matrix nói "Britney biết những gì mình muốn ở bài hát, đặc biệt về phần lời, và nếu cô ấy thấy không phù hợp sẽ trả lại luôn. Cô ấy không phải là kiểu người chấp nhận tất cả mọi thứ, đặc biệt là những thứ không thật với bản thân." Christy cũng cho biết là anh rất ấn tượng với giọng hát của Britney khi thu âm "Shadow".

Christopher Stewart và Penelope Magnet, bộ đôi biết đến với tên gọi RedZone đã đưa Britney cho ca khúc "Pop Culture Whore", quản lý của Britney rất thích nhưng cô ấy lại từ chối nó và bảo rằng "tệ". Thế rồi họ phải mất một ngày ở New York để có thể hiểu được những suy nghĩ của cô ấy cũng như định hướng sáng tác cho mình. Sau đó Stewart và Magnet bắt đầu sáng tác "Me Against the Music": Stewart thì nghĩ ra giai điệu, còn Magnet thì viết nó trên nền piano và lời bài hát.[8] Trong quá trình thu âm, Stewart nhắc lại việc chiếc điều hòa bị hỏng trong 3 ngày, nhưng Britney không hề phàn nàn.[9]. Khi diễn tập cho màn biểu diễn tại MTV VMA 2003, Britney đã bật đoạn cuối của "Me Against the Music" cho Madonna nghe. Sau đó, Madonna đã rất thích ca khúc và Britney bày tỏ ý muốn được thu âm lại ca khúc này với cô ấy.[10]. Sau đó RedZone đã đưa ca khúc cho Madonna và thu âm giọng của cô ấy đè lên một số phần của bản gốc. Britney, fan trung thành của Madonna từ lâu, cảm thấy rất thích thú vì được duet cùng cô ấy cũng như sự quan tâm của Madonna: "Tôi chỉ nhờ Maddie làm công việc chút xíu nhưng cô ấy thực sự làm nhiều thứ và cực kỳ nghiêm túc trong bản thu âm này." Tính ra trong cả album, RedZone đã đồng sáng tác "Early Mornin'", thu âm giọng nền cho "Outrageous" và sản xuất "The Hook Up".

Trước khi album này được phát hành, quản lý của Britney là Larry Rudolph nói rằng: "Đây là album quan trọng để Britney thoát khỏi âm hưởng teen-pop quen thuộc và 2 bài hát từ album trước đó là "I'm a Slave 4 U" và "Boys" sẽ là khởi hành cho album mới này của Britney". Barry Weiss, sau này là giám đốc của Jive cũng nói thêm "Thực sự Britney đã làm được điều mình cẩn, một album trưởng thành và không hề giống với Britney của 4 năm trước nhưng vẫn là một album thành công với nhiều ca khúc hit". In the Zone đã được thu âm ở nhiều nơi như Battery Studios và The Dojo tại New York; 3:20 Studios, Decoy Studios, Pacifique Studios, Record PlantWestlake Audio tại Los Angeles, California; The Chocolate Factory tại Chicago; Triangle Sond Studios ở Atlanta; Metrophonic Studios và Olympic Studios ở London, Anh và Murlyn Studios ở Stockholm, Thụy Điển. Trong suốt đầu năm 2003, Britney cũng chơi thử một vài ca khúc trong album tại các câu lạc bộ đêm ở New York.

Các bài hát trong album[sửa | sửa mã nguồn]

Theo như Billboard, In the Zone đánh dấu một bước chuyển biến mới trong âm nhạc của Britney: thay vì những giai điệu quen thuộc, album trở nên tối màu và mang màu sắc dance hơn. Britney cũng chia sẻ với tạp chí này rằng: "Tôi thấy album này của mình là một sản phẩm mang đầy cảm giác mê hoặc - điều bạn chỉ có thể nghe và cảm nhận chứ không thể xét qua cấu trúc bài. Và tất nhiên tôi không làm một '...Baby One More Time' hay những hit lớn riêng lẻ lớn nữa. Tôi nghĩ album này chính là nơi mà tôi đang ở trong thế giới này: nó rất khiêu gợi và đầy nhục dục."[11] Cũng theo như Amy Schriefer của NPR phát biểu rằng album là một sự kết hợp của đa dạng thể loại từ dance, house, crunk, beat của Diwali cũng như hip hop.[12] Còn theo William Shaw của Blender thì chủ đề chính của In the Zone là sự thức tỉnh của Britney về con người mình - một người phụ nữ trưởng thành! [1]

Ca khúc cũng như single đầu tiên từ album là "Me Against the Music". Ban đầu ca khúc được dành riêng cho Britney nhưng sau màn trình diễn tại MTV VMA 2003, Madonna đã nhận lời hát cùng Britney trong ca khúc này. Ca khúc mang âm hưởng của hip hop và ghita funk, Britney và Madonna vừa hát vừa rap trên toàn bộ bài nhạc. Lời bài hát nói về sự thỏa mãn của con người khi được thả mình trên sàn nhảy: "I'm up against the speaker / Trying to take on the music / It's like a competition".[9] Giới chuyên môn đánh giá cao ca khúc này cũng như coi đây là bản song ca chất lượng nhất của Britney từ trước đến giờ. Sau này, một cụm từ trong bài hát là "in the zone" đã được Britney sử dụng để làm tên cho album và mang nhiều ý nghĩa: "in the zone" ở đây được ngầm hiểu là "In the Britney Zone", khi bạn nghe album này bạn sẽ đi vào khu vực/thế giới riêng của Britney; bìa album cũng được đánh giá cao khu sử dụng màu xanh – màu của không gian cũng như mang cảm hứng từ bìa album "True Blue" của Madonna về một không khí sexy bao trùm toàn album. Ca khúc thứ hai, "(I Got That) Boom Boom" mang âm hưởng của R&B/hip hop vùng Atlanta, Britney tiếp tục hát cùng với nghệ sĩ khác là Ying Yang Twins.[1][13][14]

Ca khúc thứ ba "Showdown" mang beat rất bong bóng, nói về việc "đấu tranh và bắt đầu mối quan hệ nhục dục", với những dòng như "I don’t really want to be a tease / But would you undo my zipper, please?"[1][13]. "Breathe on Me" – track tiếp sau là một trong những ca khúc sexy nhất album: "Oh, it's so hot, and I need some air/ And boy, don't stop 'cause I'm halfway there". Ca khúc có phần beat mang âm thanh điện tử với tốc độ chậm, cùng với âm hưởng của trip hop cũng như những tiếng thở ra thở vào của Britney và một trong những track hay nhất từ album này. Track thứ 5 - "Early Mornin'" nói về việc Britney tìm bạn trai ở câu lạc bộ tại New York. Trong ca khúc, giọng của Britney được nén, cùng với những tiếng ngáp và rên rỉ xuyên suốt toàn bài.

"Toxic" – ca khúc sau này được Britney nhận xét là ca khúc mà cô yêu thích nhất trong sự nghiệp của mình, là track thứ 6 cũng như single thứ 2 trong album. Ban đầu ca khúc được đưa cho Kylie Minogue để thu âm cho album "Body Language" nhưng cô đã từ chối.[15][16] Ca khúc với âm hưởng của electropopbhangra music, sử dụng thêm một số nhạc cụ như trống, tiếng lướt của ghita; cùng với giọng hát lướt nhẹ nhưng đầy sexy của Britney đã tạo ra một cảm giác đầy nguy hiểm, sexy cho ca khúc và nhận được sự đánh giá hết sức tích cực của các nhà phê bình cũng như thính giả.[17][18][19] Ca khúc cũng gây được sự chú ý khi định nghĩa lại nhạc dance-pop một cách đầy đúng đắn và cũng đã xuất hiện trong nhiều danh sách ca khúc hay nhất của thập kỷ 00. "Outrageous" – ca khúc thứ 7 và là single thứ 4 từ album, mang âm hưởng hip-hop tương tự như "I Got That Boom Boom" nhưng chất lượng hơn. Nhờ có những tiếng thì thầm và rên rỉ của Britney trên giai điệu như múa rắn, bài hát nghe có cái cảm giác lạ lùng. "Touch of My Hand", ca khúc tiếp theo được Britney cho rằng nó có nhiều nét tương đồng với "That's the Way Love Goes" – ca khúc hit năm 1993 của Janet Jackson, ngoại trừ ở đây Britney hát với giọng thấp hơn. Ca khúc cũng mang cảm giác lạ khi có sự kết hợp của các nhạc cụ vùng Trung Đông và lời bài hát liên quan đến thủ dâm: "I will be bold/ Going to the places where I can be out of control/ Don't want to explain tonight/ All the things I try to hide."

Ca khúc thứ 9, "The Hook Up" có mùi vị của reggae và giọng hát đặc trưng vùng Jamaica của Britney. Bản ballad đầu tiên trong album là ca khúc thứ 10 "Shadow" nói về nỗi nhớ người yêu da diết của cô gái với chàng trai dù chàng đã đi xa. Tiếp sau đó là ca khúc "Brave New Girl" mang âm hưởng của electro-funk cũng như của một số nghệ sĩ đi trước như No Doubt, Blondie and Madonna khá là vui nhộn, và Britney trong ca khúc này hát gần như hát rap "She's going to find her passion, she's going to find her way, she's going to get right out of this/ She don't want New York, she don't want L.A., she's going to find that special kiss., cô hát về một người phụ nữ đi tìm hạnh đến mất cả kiểm soát. Album khép lại với bản ballad tiếp theo là "Everytime" - bản sáng tác tốt nhất của cô. Trải dài trên toàn bài là tiếng piano, cùng với tiếng thở sâu của Britney, cô hát từ nhẹ nhàng đến đầy mạnh mẽ "Everytime I try to fly I fall / Without my wings I feel so small". Bài hát là nỗi niềm tự sự đau đớn của cô gái sau sự tan vỡ của mối tình đầu cũng như cầu xin lời tha thứ từ người yêu mình.[20] Khi được hỏi liệu "Everytime" có nhắc đến Timberlake hay không, Spears trả lời: "Tôi sẽ để chính bài hát tự trả lời cho nó."[21]

Đánh giá của chuyên gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
Metacritic (66/100)[22]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
About.com 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[18]
Allmusic 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[23]
BBC Online (mixed)[24]
Blender 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[25]
Entertainment Weekly (B−)[26]
Rolling Stone 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[27]
Slant Magazine 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[28]
The Guardian 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[29]
The New York Times (mixed)[14]
Vibe 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[30]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Me Against the Music" (song ca với Madonna) Britney Spears, Madonna, Christopher Stewart, Thabiso Nikhereanye, Penelope Magnet, Terius Nash, Gary O'Brien Trixster, Penelope Magnet (co.) 3:44
2. "(I Got That) Boom Boom" (song ca với Ying Yang Twins) Roy Hamilton, Chyna Royal, Deongelo Holmes, Eric Jackson Roy "Royalty" Hamilton 4:51
3. "Showdown"   Spears, Christian Karlsson, Pontus Winnberg, Henrik Jonback, Cathy Dennis Bloodshy & Avant 3:17
4. "Breathe on Me"   Steve Anderson, Lisa Greene, Stephen Lee Mark Taylor 3:43
5. "Early Mornin'"   Spears, Moby, Stewart, Magnet Moby 3:45
6. "Toxic"   Dennis, Karlsson, Winnberg, Jonback Bloodshy & Avant 3:21
7. "Outrageous"   R. Kelly R. Kelly 3:21
8. "Touch of My Hand"   Spears, Jimmy Harry, Balewa
Muhammad, Shep Solomon
Jimmy Harry, Shep Solomon 4:19
9. "The Hook Up"   Spears, Stewart, Nikhereanye, Magnet Trixster, Penelope Magnet (co.) 3:54
10. "Shadow"   Spears, Lauren Christy, Scott Spock, Graham Edwards, Charlie Midnight The Matr 3:45
11. "Brave New Girl"   Spears, Brian Kierulf, Josh Schwartz,
Kara DioGuardi
Brian and Josh 3:30
12. "Everytime"   Spears, Annette Stamatelatos Guy Sigsworth 3:53
13. "Me Against the Music" (Rishi Rich's Desi Kulcha Remix) (có sự tham gia của Madonna) Spears, Madonna, Stewart, Nikhereanye, Magnet, Nash, O'Brien Trixster, Penelope Magnet (co.), Rishi Rich (remix) 4:33

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2003) Xếp hạng
cao nhất
Australian Albums Chart 10
Austrian Albums Chart 10
Belgian Albums Chart (Flanders) 7
Belgian Albums Chart (Wallonia) 5
Canadian Albums Chart 2
Czech Albums Chart 6
Danish Albums Chart 8
Dutch Albums Chart 9
Finnish Albums Chart 15
French Albums Chart[34] 1
German Albums Chart[35] 2
Hungarian Albums Chart[36] 7
Italian Albums Chart 16
Japanese Albums Chart 3
New Zealand Albums Chart 25
Norwegian Albums Chart 11
Polish Albums Chart[37] 23
Portuguese Albums Chart 11
Swedish Albums Chart 8
UK Albums Chart 13
US Billboard 200 1

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Chứng nhận
Argentina Bạch kim
Úc Bạch kim
Áo Bạch kim[38]
Bỉ Gold[39]
Brazil Vàng[40]
Canada 3× bạch kim
Đan Mạch Vàng[41]
Châu Âu Bạch kim
Phần Lan Vàng[42]
Pháp 2× vàng[43]
Đức Vàng[44]
Hungary Vàng[45]
Mexico Bạch kim
Na Uy Vàng[46]
Nga 2× bạch kim[47]
Tây Ban Vàng[48]
Thụy Điển Vàng[49]
Thụy Sĩ Vàng[50]
Vương quốc Anh Bạch kim
Mỹ 2× bạch kim

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2003) Xếp hạng
Swiss Albums Chart[51] 84
UK Albums Chart[52] 145
Bảng xếp hạng (2004) Xếp hạng
Australian Albums Chart[53] 49
Belgian Albums Chart (Flanders)[54] 93
Hungarian Albums Chart[55] 51
Swiss Albums Chart[56] 49
UK Albums Chart[57] 51
US Billboard 200[58] 8

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Xếp hạng cao nhất Chứng nhận
US
[59]
U.S. Club
[59]
AUS
[60]
AUT
[61]
CAN
[59]
FRA
[62]
GER
[63][64]
ITA
[65]
SWI
[66]
UK
[67]
2003 "Me Against the Music" (song ca với Madonna) 35 1 1 12 2 11 5 2 4 2
  • AUS: Bạch kim[68]
2004 "Toxic" 9 1 1 5 1 3 4 4 4 1
"Everytime" 15 17 1 4 2 2 4 7 1
"Outrageous" 79 27
"—" tức là không có trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Shaw, William (20 tháng 12 năm 2003). “Britney Busts Loose! - Blender”. Blender (Alpha Media Group). ISSN 1534-0554. 
  2. ^ Vaziri, Aidin (20 tháng 11 năm 2003). “There's more to Britney than the porn persona - just listen to her wonderfully awful new album - SFGate”. San Francisco Chronicle. Hearst Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2010. 
  3. ^ Moss, Corey (28 tháng 5 năm 2002). “Britney Avoids Vice, Justin Talk At Sin City Tour Opener”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ Moss, Corey (5 tháng 11 năm 2002). “Britney Spears' Hiatus Is History - Music, Celebrity, Artist News | MTV”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  5. ^ Stern, Bradley (tháng 2 năm 2010). “Annet Artani: From "Everytime" to "Alive"”. MuuMuse.com. Bradley Stern. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010. 
  6. ^ Moss, Corey; Reid, Shaheem (6 tháng 3 năm 2003). “Who's Been Hooking Up With Britney? We Got 'Em To Talk - Music, Celebrity, Artist News | MTV”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2010. 
  7. ^ Vineyard, Jennifer; Philippe, Quddus (30 tháng 5 năm 2003). “Britney Previews LP, Denies Rumors Of 'Cry Me A River' Response”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  8. ^ Moss, Corey (15 tháng 10 năm 2003). “Getting Aggressive With Britney Pays Off For RedZone”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  9. ^ a ă Hiatt, Brian (2 tháng 10 năm 2003). “Material Girls”. Entertainment Weekly (Time Warner). Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010. 
  10. ^ Vena, Jocelyn (20 tháng 12 năm 2009). “Britney Spears And Madonna 'Tease' Fans In 'Me Against The Music' Video”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010. 
  11. ^ Binelli, Mark (2003). “Sometimes It's Hard To Be a Woman”. Rolling Stone (Jann Wenner). ISSN 0035-791X. 
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên npr
  13. ^ a ă Vineyard, Jennifer (22 tháng 10 năm 2003). “Britney Album Preview: Sex, Sex And More Sex - Music, Celebrity, Artist News | MTV”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên nyt
  15. ^ Editorial Staff, AccessHollywood.com (30 tháng 5 năm 2010). “Britney Spears Breaks 5 Million Followers Barrier on Twitter | NBC Philadelphia”. NBC Philadelphia. NBC Universal. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010. 
  16. ^ Staff, Reporter (13 tháng 1 năm 2008). “Kylie dumped Toxic for Brit | The Sun |Showbiz|Music”. The Sun. UK: News Corporation. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  17. ^ Reporter, Sputnikmusic (29 tháng 12 năm 2009). “Britney Spears - The Singles Collection (album review) | Sputnikmusic”. Sputnikmusic. Jeremy Ferwerda. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  18. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên about
  19. ^ D., Spence (16 tháng 11 năm 2004). “Britney Spears Greatest Hits: My Prerogative”. IGN. News Corporation. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  20. ^ Vineyard, Jennifer (2 tháng 3 năm 2004). “Britney Checking Into Onyx Hotel Wearing Rubberlike Outfit”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010. 
  21. ^ Sanchez, Rowena Joy A. (4 tháng 10 năm 2009). “'This one's for you': Ex-music couples sing of their love woes”. Manila Bulletin (Manila Bulletin Publishing Corp.). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  22. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên metacritic
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên allmusic
  24. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bbc
  25. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên blenderrw
  26. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ewrw
  27. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên rs
  28. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên slant
  29. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên guardian
  30. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên vibe
  31. ^ “CD In the Zone - Submarino.com.br”. Submarino. B2W - Companhia Global do Varejo. 9 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011. 
  32. ^ “In The Zone: Britney Spears, Madonna, Ying Yang Twins: Amazon.co.uk: Music”. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2011. 
  33. ^ “Amazon.co.jp: In The Zone: ブリトニー・スピアーズ, マドンナ, イン・ヤン・ツインズ: 音楽”. Amazon.co.jp. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2011. 
  34. ^ “French Albums Chart”. Les Charts. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011. 
  35. ^ “Charts.de: Britney Spears (Albums)”. Charts.de. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2011. 
  36. ^ “Hungarian Top 40 Albums Chart”. Mahasz. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  37. ^ “Oficjalna Lista Sprzedažy” (bằng Polish). OLiS. 1 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  38. ^ “IFPI Austria – Certification database”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  39. ^ “Gold And Platinum Certifications – Albums – 2003”. Ultratop. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  40. ^ “ABPD: Associação Brasileira de Produtores de Disco”. Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  41. ^ “Guld og platin 2004”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  42. ^ “Tilastot – Britney Spears – Kultalevy”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  43. ^ “InfoDisc: Les Certifications (Albums) du SNEP (Bilan par Artiste)” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  44. ^ “Gold/Platin–Datenbank” [Vàng/Bạch kim–Dữ liệu chứng nhận] (bằng Tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010. 
  45. ^ “Keresés album címe szerint” (bằng Hungarian). Mahasz. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  46. ^ “IFPI Norsk platebransje”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  47. ^ “International 2003”. 2m-online.ru. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2011. 
  48. ^ “Top 100 Albums: Lista de los titulos mas vendidos del 05.04.04 al 11.04.04” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  49. ^ “IFPI Sweden”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  50. ^ “Swiss Music Charts – Certifications”. The Official Swiss Charts and Music Community. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  51. ^ “Swiss End of Year Charts 2003”. Swiss Music Charts. Hung Medien. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  52. ^ “UK Year-end Albums 2003” (PDF). The Official Charts Company. Chartplus.co.uk. tr. 4. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  53. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 100 Albums 2004”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  54. ^ “Rapports Annuel 2004”. Ultratop. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  55. ^ “Összesített album- és válogatáslemez-lista”. Mahasz. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  56. ^ “Swiss End of Year Charts 2008”. Swiss Music Charts. Hung Medien. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  57. ^ “UK Year-end Albums 2004” (PDF). The Official Charts Company. Chartplus.co.uk. tr. 3. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  58. ^ “2004 YEAR END CHARTS”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2011. 
  59. ^ a ă â “allmusic (((Britney > Charts & Awards > Billboard Singles)))”. Allmusic. Rovi Corporation. 1998–2011. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  60. ^ Ryan, Gavin (2009). ARIA Singles Chart Book 1988-2008. Moonlight Publishing. tr. 91–92. 
  61. ^ spears&cat=s “Britney Spears singles discography”. austriancharts.at. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  62. ^ spears “Britney Spears Singles Discography”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. 1998–2009. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  63. ^ “Britney Spears Singles Discography”. Musicline.de. 1998–2009. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  64. ^ “Britney Spears feat. Madonna Singles Discography”. Musicline.de. 2003. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  65. ^ “Britney Spears Singles Discography”. Italiancharts.com. Hung Medien. 1998–2011. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  66. ^ “Britney Spears Singles Discography”. Hitparade.ch. Hung Medien. 1998–2011. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  67. ^ “Britney Spears Singles Discography”. The Official Charts Company. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  68. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2003 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  69. ^ a ă “RIAA – Gold & Platinum – February 28, 2011”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  70. ^ a ă “ARIA Charts — Accreditations – 2004 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  71. ^ a ă “Certifications Silver Singles - 2005”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  72. ^ “Britney Spears Certifications”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011.