Kylie Minogue

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kylie Minogue
Kylie Minogue Cannes.jpg
Minogue năm 2008
Tên khai sinh Kylie Ann Minogue
Sinh 28 tháng 5, 1968 (45 tuổi)
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, nhà sản xuất thu âm, nhà thiết kế thời trang, nhà văn, doanh nhân, nhà hảo tâm
Thể loại Pop, synthpop, nu-disco[1][2]
Năm 1979–nay
Hãng đĩa PWL, Mushroom, Deconstruction, Parlophone, Warner Music Australia

Kylie Ann Minogue, OBE (phát /ˈkl mɪˈnɡ/; sinh ngày 28 tháng 5 năm 1968) hay còn được biết đến với nghệ danh Kylie, là một nghệ sĩ thu âm, nhạc sĩ kiêm diễn viên người Úc. Sau khi bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một diễn viên thiếu nhi trên kênh truyền hình tại Úc, cô đã được nhận một vai diễn trong bộ phim soap opera Neighbours, trước khi bắt đầu sự nghiệp ca hát của mình vào năm 1987. Đĩa đơn đầu tay của cô, "Locomotion", giành vị trí quán quân 7 tuần liền trên bảng xếp hạng đĩa đơn ở Úc và trở thành ca khúc có số lượng đĩa bán ra cao nhất thập niên. Thành công này đã giúp cô nhận được một hợp đồng với nhạc sĩ kiêm nhà sản xuất thu âm Stock, Aitken & Waterman. Album đầu tay của cô, Kylie (1988), và đĩa đơn thứ hai, "I Should Be So Lucky", đều vươn lên đứng đầu tại Anh, trong hai năm sau đó, 13 đĩa đơn đầu tay của cô đều giành được vị trí trong top 10 tại đây. Bộ phim đầu tay, The Delinquents (1989) trở thành bom tấn thành công tại các phòng rạp ở Úc và nhận được nhiều đánh giá tích cực của những nhà phê bình điện ảnh tại Anh.

Dù được giới thiệu với phong cách là một "cô gái thân thiện", Minogue sau đó đã cố gắng truyền tải hình ảnh chín chắn của cô trong âm nhạc cũng như trong công chúng. Những đĩa đơn sau đó của Minogue nhận được nhiều khen ngợi, nhưng sau bốn album, số đĩa bán của cô ngày càng giảm, vì thế cô đã rời bỏ Stock, Aitken & Waterman vào năm 1992 để củng cố bản thân trở thành một nghệ sĩ độc lập. Đĩa đơn tiếp theo, "Confide in Me", vươn lên đứng nhất tại Úc và trở nên thành công tại một vài quốc gia ở Châu Âu năm 1994, song, bản song ca với Nick Cave, "Where the Wild Roses Grow", tiếp tục đưa Minogue đến một mức độ cao hơn của sự tín nhiệm trong ngành nghệ thuật. Vẽ nên cảm hứng từ hàng loạt những phong cách âm nhạc và từ những nghệ sĩ, Minogue đã kiểm soát sự sáng tạo của mình trong phần sáng tác của album tiếp theo của cô, Impossible Princess (1997). Album không nhận được sự thu hút của những nhà phê bình lẫn doanh thu bán tại Anh, nhưng lại rất thành công tại Úc.

Minogue sau đó đã trở lại và giành nhiều thành công vào năm 2000 với đĩa đơn "Spinning Around" và album nhạc nhảy Light Years, cô sau đó đã trình diễn tại buổi bế mạc Thế vận hội Mùa hè Sydney năm 2000. Video âm nhạc của cô dần thể hiện sự khiêu khích tình dục và nhân cách gợi cảm đã giúp một vài đĩa đơn trở nên thành công. "Can't Get You Out of My Head" vươn lên vị trí thứ nhất hơn 40 quốc gia còn album Fever (2001) nhận được sự thành công tại nhiều quốc gia, trong đó có Mỹ, thị trường mà Minogue ít được công nhận trước đây. Minogue đã bắt tay thực hiện một tour lưu diễn nhưng đã bị hoãn lại vì cô bị chẩn đoán là ung thu vú vào tháng 5 năm 2005. Sau khi phẫu thuật và điều trị bằng hóa trị liệu, cô đã trở lại vào năm 2006 với tour Showgirl: The Homecoming Tour. Album phòng thu thứ 10, X đã được phát hành vào năm 2007 và kèm theo đó là tour diễn KylieX2008. Năm 2009, cô tiếp tục bắt tay thực hiện For You, For Me Tour, tour diễn đầu tiên của cô tại Mỹ và Canada, diễn ra cùng năm với ngày phát hành của album phòng thu mới nhất và là album thứ 11 của cô, Aphrodite.

Minogue đã đạt được kỷ lục doanh thu đĩa nhạc toàn thế giới với hơn 68 triệu bản được tiêu thụ,[3] và nhận được nhiều giải thưởng âm nhạc đáng chú ý, trong đó có nhiều giải ARIA, giải Brit và một giải Grammy. Cô đồng thời còn gắn liền tên tuổi với một vài tour lưu diễn thành công và nhận được một giải Mo cho "Nghệ sĩ người Úc của Năm" cho những màn trình diễn trực tiếp của cô. Cô còn được trao giải Order of the British Empire "cho những đóng góp cho âm nhạc", và một giải Ordre des Arts et des Lettres vào năm 2008. Năm 2011, "I Should Be So Lucky" đã được thêm vào Viện lưu trữ Điện ảnh và Âm nhạc Quốc gia trong hạng mục Âm nhạc của Úc.[4][5] Đồng thời, cũng vào năm 2011, Minogue đã được trao tặng bằng Khoa học sức khỏe danh giá của Trường Đại học Anglia Ruskin tại Vương Quốc Anh cho đóng góp của cô trong việc nâng cao nhận thức về bệnh ung thư vú. Vào ngày 27 tháng 11 năm 2011, tại lễ kỷ niệm lần thứ 25 của Giải thưởng âm nhạc ARIA, Kylie Minogue đã được hiệp hội Australian Recording Industry Association giới thiệu đến ARIA Hall of Fame.[6] Ngoài ra, Minogue còn là nghệ sĩ thu âm solo người Úc có số đĩa bán cao nhất lịch sử. Từ trước đến nay, cô là nghệ sĩ duy nhất tại Anh và Úc có album quán quân bốn thập niên liên tiếp (thập niên 1980, 1990, 2000 và thập niên 2010).

Sự nghiệp ca hát[sửa | sửa mã nguồn]

Stock, Aitken and Waterman: 1987–92[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1987, Kylie Minogue kí một hợp đồng thu âm với hãng Mushroom Records nhờ biểu diễn ca khúc "Locomotion" với các thành viên khác của trong lần thử vai phim Neighbours[7]. Phát hành với cái tên mới, "The Loco-Motion" đứng vị trí số 1 tại bảng xếp hạng đĩa đơn của Úc trong suốt 7 tuần liên tiếp[8] và trở thành đĩa đơn bán chạy nhất trong thập niên 1980 tại Úc[9]. Thành công này đã tạo cơ hội cho Minogue bay sang London với công sự từ Mushroom Records Gary Ashley làm việc với nhóm sản xuất danh tiếng Stock, Aitken & Waterman. Họ biết rất ít về Minogue và quên rằng cô đã đến, theo đơn đặt hàng, họ sáng tác "I Should Be So Lucky" khi cô đợi ở ngoài phòng thu[10]. Bài hát chiếm vị trí số 1 tại Úc và Anh, đồng thời đạt vị trí cao tại nhiều quốc gia trên thế giới[8]. Album đầu tay của cô có tên Kylie là một bộ sưu tập các ca khúc Dance-pop, chiếm vị trí đầu bảng tại bảng xếp hạng album của Anh[8] và ở trong bảng xếp hạng hơn một năm[11]. Tổng cộng trên toàn thế giới có hơn 14 triệu bản Kylie được bán ra[12], hầu hết tập trung tại châu Âu và châu Á cùng 6 đĩa đơn thành công. Tại Mỹ và Canada, album không bán chạy lắm, nhưng đĩa đơn "The Loco-Motion" cũng leo lên vị trí thứ 3 tại Billboard Hot 100[13] và hạng nhất tại Canada. "It's No Secret", đĩa đơn chỉ phát hành tại Mỹ, cũng leo lên hạng 37 đầu năm 1989[14]. Tại Nhật, đĩa đơn "Turn It Into Love" giữ ngôi vị quán quân 10 tuần liên tiếp.

Cuối năm 1988, Minogue giã từ Neighbours để tập trung hoàn toàn vào sự nghiệp âm nhạc. Jason Donovan phát biểu: "Khi những người xem truyền hình không thấy thợ máy Charlene trên màn ảnh, họ sẽ thấy ngôi sao nhạc pop Kylie". Cuối băm 1988, Minogue hợp tác với Donovan ra đời đĩa đơn mang tên "Especially for You" và rất thành công tại Anh. "Especially for You" là đĩa đơn đầu tiên của Minogue tiêu thụ được hơn 1 triệu bản tại Anh (sau đó là "Can't Get You out of My Head"). Tuy nhiên nó không được giới chuyên môn đánh giá cao[15]. Cô còn bị gọi "con két biết hát" trong những năm sau đó[16]. Chris True nhận xét về album Kylie tại Allmusic rằng "chất giọng của Kylie vượt qua những hạn chế trong âm nhạc của cô ấy", "sự lanh lợi của cô ấy làm các bài hát nhạt nhẽo có thể chịu đựng được"[17].

Album tiếp theo của Minogue, Enjoy Yourself (1989) cũng bán chạy tại Anh, châu Á, châu Âu, Úc và sản xuất ra một vài đĩa đơn khá thành công (đĩa đơn đầu tiên "Hands on Your Hearts" #1 tại Anh), nhưng thất bại tại Bắc Mỹ, và Minogue quyết định chấm dứt hợp đồng với hãng thu âm Geffen Records[18]. Cô tiếp tục thực hiện chuyến lưu diễn đầu tiên, Enjoy Yourself Tour tại Anh, châu Âu, châu Á và Úc. Tính đến nay, album đã tiêu thụ được 6 triệu bản.

Album Rhythm of Love (1990) là một sản phẩm sắc sảo và trưởng thành hơn trong âm nhạc của Minogue và cũng đánh dấu những bước đầu tiên của sự chống lại các cộng sự của cô và hình ảnh một cô gái thân thiện[8]. Định hướng đến những đối tượng khán giả trưởng thành hơn, Minogue tự đạo diễn lấy các video của mình, bắt đầu với "Better the Devil You Know", và thể hiện bản thân như một người phụ nữ có bản năng tính dục rõ ràng. Pete Waterman nhận xét rằng bài hát đã trở thành một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp của Minogue và điều đó đã làm cho cô "hấp dẫn nhất, cá tính nhất trên màn ảnh và không ai có thể chế nhạo nó bởi vì nó là bản thu âm nhạc dance hoàn hảo nhất tại thời điểm này". Các đĩa đơn từ Rhytnm of Love bán chạy tại châu Âu và Úc, đồng thời cũng rất phổ biến tại các câu lạc bộ đêm tại Anh. Cô cũng chú ý xây dựng phong cách thời trang cho mình để phù hợp vối đối tượng khán giả mà mình hướng tới. Khi đĩa đơn "Shocked" lọt vào tốp 10 bảng xếp hạng Anh năm 1991, Minogue trở thành nghệ sĩ đầu tiên có 13 đĩa đơn liên tiếp lọt vào tốp 10 tại quốc gia này[11]. Tháng 3 năm 1990, Minogue trình diễn ca khúc "Help!" của nhóm The Beatles trước 25.000 khán giả tại buổi hòa nhạc John Lennon: The Tribute Concert tại River Mersey, Liverpool. Yoko OnoSean Lennon gửi lời cảm ơn Minogue vì đã góp phần gây quỹ từ thiện của Lennon, còn giới truyền thông có những phản hồi tích cực về màn trình diễn của cô. Tờ The Sun nhận xét: "Kylie xứng đáng với những tràng vỗ tay của khán giả cho cô ấy"[19].

Sau khi cho ra album thứ 4, Let's Get to It (1991), Minogue đã chấm dứt hợp đồng với nhóm sản xuất hợp đồng và quyết định không bao giờ ký lại nó[20]. Cô được nói lên quan điểm của mình và không bị ràng buộc bởi Stock, Aitken và Waterman, và so sánh với những kinh nghiệm của Neighbours, cô nói bọn họ muốn cô "học theo cách của họ, biểu diễn theo cách của họ, không có thời gian cho những câu hỏi, quảng bá sản phẩm"[21]. Còn về Let's Go to It, ngoài 2 đĩa đơn "If You Were with Me Now" và bản phối lại "Give Me Just a Little More Time" lọt vào tốp 5 tại Anh thì đây là một album khá mờ nhạt của Minogue và doanh thu rất thấp (800.000 triệu bản).

Deconstruction: 1993–98[sửa | sửa mã nguồn]

Minogue quyết định kí hợp đồng với hãng thu âm mới Deconstruction Records với hy vọng có những chuyển biến mới trong sự nghiệp nhưng album Kylie Minogue (1994) lại có những bình luận trái chiều[8]. Album có doanh thu cao tại Úc và châu Âu. Đĩa đơn "Confide in Me" đứng 5 tuần tại vị trí #1 và là đĩa đơn bán chạy nhất ở Úc năm 1994. Những đĩa đơn tiếp theo,"Put Yourself in My Place" và "Where Is the Feeling?" cũng lọt vào tốp 20 tại Anh và tốp 40 tại Úc.

Nghệ sĩ người Úc Nick Cave muốn hợp tác với Minogue sau khi nghe "Better the Devil You Know" của cô: "Một trong những lời lẽ mãnh liệt và đau buồn nhất trong lịch sử nhạc Pop" và "khi Kylie Minogue hát lên những lời này, sự ngây thơ, trong trắng của cô làm những điều ghê rợn trong đó phải khuất phục"[22]. "Where the Wild Roses Grow" (1995) là một bản ballad kể về những suy tư của một kẻ giết người (Cave) và nạn nhân của hắn (Minogue). Thành công của ca khúc đã củng cố địa vị của cô như một ca sĩ nhạc Pop. Đĩa đơn lọt vào tốp 10 tại một số nước châu Âu, trong khi leo lên #2 tại Úc[11] và đoạt giải ARIA cho "Bài hát của năm" và "Phát hành Pop xuất sắc nhất". Minogue kể về Cave: "Anh ấy chỉ cho tôi không được thay đổi quá xa với bản thân mình, nhưng muốn đi xa hơn, nên thử những cách khác nhau nhưng đừng bao giờ đánh mất chính mình. Với tôi, điều khó nhất là thả lỏng bản thân và là chính mình trong âm nhạc"[23].

Imposible Princess (có tên theo một tập thơ của Billy Childish) là sự hợp tác hợp tác với những nghệ sĩ tiêu biểu là James DeanMoore Sean của Manic Street Preachers[11]. Đây phần lớn một album nhạc dance, nhưng lại không phù hợp với phong cách của Minogue trong đĩa đơn đầu tiên - "Some Kind of Bliss" khi mà cô thử trở thành một nghệ sĩ nhạc indie. Cô phát biểu trên tạp chí Music Week: "Tôi phải nói lại với mọi người rằng đây là không phải một album indie - guitar. Tôi không có ý định làm về guitar hay rock"[24]. Tạp chí Billboard nhận xét album "hay", "là cơ hội thương mại bằng vàng cho hãng thu âm" hay "một tai nghe tinh tế sẽ nhận ra điểm tương đồng rõ rệt giữa Impossible Princess và album rất thành công của ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna - Ray of Light"[23]. Tại Anh, Music Week lại đưa ra những đánh giá tiêu cực hơn: "Chất giọng của Kylie có tính sắc... nhưng nó không đủ khỏe để làm nhiều"[25]. Impossible Princess là album có doanh thu thấp nhất của Minogue tại Anh do cái tên album gợi đến cái chết của Diana, công nương xứ Wales, nhưng lại là album có số lượng đĩa bán ra cao nhất tại Úc kể từ album đầu tay, nhờ được quảng bá bằng chuyến lưu diễn Intimate and Live Tour rất thành công. Sau này cô phát hành album live Intimate and Live thu lại toàn bộ chuyến lưu diễn.

Minogue tiếp tục giữ vững tên tuổi của mình tại Úc với những màn trình diễn sống tại Sydney Gay and Lesbian Mardi Gras năm 1998, 20th Century Fox tại Sydney năm 1999 với màn trình diễn ca khúc "Diamonds Are a Girl's Best Friend" của Marilyn Monroe và buổi hòa nhạc Giáng sinh tại Dili, Đông Timor cho tổ chức Giữ gìn hòa bình thế giới.

Parlophone và đỉnh cao sự nghiệp: 1999–05[sửa | sửa mã nguồn]

Minogue rời Deconstruction Records và kí hợp đồng với Parlophone nhờ hợp tác với Pet Shop Boys trong album Nightlife của nhóm. Album Light Years (2000) của cô chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nghệ sĩ disco thập niên 1970 như Donna SummerVillage People, trong đó còn bao gồm cả những ca khúc do Guy ChambersRobbie Williams viết. New Musical Express ca ngợi đây là album hay nhất của Minogue[26]. Chính album này đã giúp cho sự nghiệp ca hát của cô đạt đến một tầm cao mới và thành danh hơn tại châu Á, châu Úc, châu Âu và bán được hơn 2 triệu bản trên toàn thế giới. Đĩa đơn đầu tiên "Spinning Around" trở thành đĩa đơn đầu tiên của Mingoue đạt vị trí quán quân tại Anh trong suốt 10 năm kể từ đĩa đơn "Tears on My Pillow" đạt hạng nhất năm 1989. Trong video "Spinning Around", Minogue không ngần ngại khoe thân hình nóng bỏng bằng những chiếc quần chẽn. Các đĩa đơn tiếp theo đều rất thành công, trong đó có "Kids", đĩa đơn hợp tác với Robbie Williams.

Năm 2000, Minogue trình diễn phiên bản "Dancing Queen" của ABBA và ca khúc "On a Night Like This" tại lễ bế mạc kỳ Thế vận hội Sydney 2000 - một sự kiện ước tính có khoảng 2.1 tỉ người ở 220 quốc gia theo dõi[27]. Sau sự kiện này, cô thực hiện chuyến lưu diễn On a Night Like This Tour tại Úc và Châu Âu. Cô đã bán hết 200.000 vé chỉ riêng tại Úc, một kỉ lục về lượng vé bán ra đối với một nữ nghệ sĩ[28]. Sáu buổi biểu diễn theo dự kiến của Minogue được tăng lên 22 do yêu cầu từ khán giả. Hình ảnh của cô được thiết kế theo phong cách của những buổi biểu diễn Broadway, 42nd Street và các bộ phim Anchors Aweigh, South Pacific hay các ngôi sao thập niên 1930 như Ginger Rogers, Fred Astaire. Thần tượng Bette Midler như một nữ anh hùng, Minogue cũng chịu nhiều ảnh hưởng của Midler trong phong cách trình diễn[29]. Cô đoạt một giải Mo Awards cho "Ca sĩ trình diễn xuất sắc nhất" cũng nhờ chuyến lưu diễn này. Trong cuộc phỏng vấn với tờ Seattle Post-Intelligencer, khi được hỏi về sức mạnh lớn nhất của cô, Minogue trả lời: "Tôi là một người đa tài. Nếu tôi chọn một trong số những gì tôi đã làm, tôi không biết nếu tôi thiên về một trong số chúng. Nhưng khi đặt tất cả chúng với nhau, tôi biết tôi đang làm gì"[30].

Năm 2001, Parlophone phát hành Fever, album vẫn mang âm hưởng disco và trộn thêm electropop của những năm 80. Đĩa đơn đầu tiên từ album "Can't Get You out of My Head" trở thành đĩa đơn thành công nhất trong sự nghiệp của Mingoue khi đứng vị trí số 1 tại hơn 20 quốc gia[31]. Fever cũng thành công trên toàn thế giới, tiêu thụ hết 9 triệu bản tính đến thời điểm này[32], và sau khi được phổ biến rộng rãi trên radio, album cũng được phát hành tại Bắc Mỹ đầu năm 2002[33][34].

Album ngay tuần đầu tiên đã leo lên vị trí #3 tại bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ[35] và đĩa đơn đầu tiên chiếm vị trí số 7 trên Billboard Hot 100[14]. Tại Canada, Fever cũng lọt vào tốp 10 bảng xếp hạng album còn "Can't Get You out of My Head" chiếm vị trí số 3 tại bảng xếp hạng phát thanh BDS. Các đĩa đơn tiếp theo, "In Your Eyes", "Love at First Sight" và "Come into My World" thành công trên toàn thế giới và Minogue đã khẳng định chỗ đứng của mình trên thị trường âm nhạc Bắc Mỹ, đặc biệt tại các câu lạc bộ. Năm 2003, cô được đề cử giải Grammy đầu tiên "Thu âm nhạc nhảy xuất sắc nhất" cho đĩa đơn "Love at First Sight"[36], và năm tiếp theo đoạt giải với đĩa đơn "Come into My World" ở cùng hạng mục đề cử[37].

Nhà thiết kế thời trang và đạo diễn các video của Minogue William Baker giải thích các video clip trong album Fever lấy ý tưởng từ những bộ phim khoa học viễn tưởng - đặc biệt là phim của Stanley Kubrick và nhấn mạnh đến chất liệu electropop trong âm nhạc của cô bằng việc sử dụng những vũ công theo phong cách của Kraftwerk.

Album tiếp theo của cô, Body Language (2003) được phát hành ngay sau album quảng bá "Money Can't Buy" tại Hammersmith Apollo, London. Album đánh dấu một phong cách mới, được thiết kế theo phong cách mới lấy cảm hứng từ hình tượng Brigitte Bardot thập niên 60. Minogue nhận xét: "Tôi đang nghĩ về BB, cô ấy có phải là biểu tượng tình dục không? Cô ấy là một trong những người phụ nữ đẹp nhất. Nhưng cô ấy khá đơn điệu trong cách của cô ấy vào thời gian đó. Và chúng tôi chọn nó để tham khảo trong thời kì này, tạo nên sự kêis hợp hoàn hảo giữa hình ảnh một người đàn bà quyến rũ và nhạc Rock n Roll"[38]. Cô còn kết hợp phong cách của những nghệ sĩ thập niên 80 Scritti Politti, The Human League, Adam & the AntsPrince với những âm hưởng hip-hop[39]. Album nhận được hầu hết lời khen ngợi từ giới phê bình, Billboard viết: "Sở trường của Minogue chọn những bài hát và những nhà sản xuất tuyệt vời nhất"[40]. All Music nhận xét: "Một bản thu âm nhạc Pop gần như hoàn hảo... Body Language là sản phẩm của một diva nhạc Pop đang ở đỉnh cao sự nghiệp[41]. Body Language không bán chạy như Fever[32][33] dù đĩa đơn đầu tiên "Slow" đạt vị trí số 1 tại cả Anh và Úc[42]. "Slow" tiếp tục nhận một đề cử Grammy cho "Thu âm nhạc nhảy xuất sắc nhất"[36].

Năm 2004, Minogue phát hành album tổng hợp Ultimate Kylie cùng một DVD ghi lại toàn bộ các video của cô. Album cũng sản xuất ra 2 đĩa đơn mới là "I Believe in You" và "Giving You Up", cả 2 đĩa đơn này đều lọt vào tốp 10 tại Anh. Với 29 (sau này con số này tăng lên 32 khi cô phát hành album X) đĩa đơn lọt vào tốp 10 tại bảng xếp hạng của Anh, Minogue trở thành nữ nghệ sĩ thành công thứ hai tại đảo quốc sương mùa, chỉ sau Madonna với con số 62[43]. "I Believe in You" cũng đạt đên vị trí #3 trên bảng xếp hạng Hot Dance Club Play của Mỹ và cũng là đề cử Grammy thứ 4 của Minogue cho "Thu âm nhạc nhảy xuất sắc nhất"[44].

Đầu năm 2005, Kylie: the Exhibition được khai trương tại Melbourne. Buổi triển lãm thu thập những bức ảnh trong suốt sự nghiệp của Minogue và thu hút hơn 300.000 người đến xem[45]. Nó sau đó tiếp tục được trưng bày tại viện bảo tàng Victoria and AlbertLondon tháng 2 năm 2007[46].

Tháng 3 năm 2005, Minogue khởi động chuyến lưu diễn Showgirl: The Greatest Hits Tour, dự định sẽ là chuyến lưu diễn hoành tráng nhất trong sự nghiệp của cô, và đã thu hút hơn 700.000 khán giả[47]. Tour diễn thành công tại Anh, nhưng ngay sau khi rời Melbourne để bắt đầu cho những buổi biểu diễn tại Úc, cô lại bị chuẩn đoán là bị ung thư vú[48].

Trở lại: 2006-08[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2006, Minogue tiếp tục Showgirl: The Homecoming Tour với một buổi trình diễn ở Sydney. Cô phát biểu trước báo chí rằng cô rất xúc động, và cô đã khóc trước khi gửi tới cha mình ca khúc "Especially for You", một nạn nhân của căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Mặc dù những phần vũ đạo được thay thay đổi để phù hợp với tình trạng sức khỏe của cô, phần thay đổi trang phục lâu hơn và kéo dài phần giới thiệu giữa các phần của show diễn để giữ sức khỏe[49]. Các phương tiện truyền thông thông báo rằng Minogue đang biểu diễn một cách mạnh mẽ, tờ Sydney Morning Herald mô tả show diễn như một "buổi biểu diễn công phu" và "không có gì ít hơn một chiến thắng"[50]. Đêm sau đó, Minogue được Bono mời biểu diễn bài "Kids" trong tour diễn Vertigo Tour của U2 tại Úc. Nhưng Minogue đã buộc phải hủy sự góp mặt của cô trong tour diễn của U2 do bị kiệt sức[51]. Trong 2 buổi biểu diễn cuối cùng có sự góp mặt của em gái cô là Dannii Minogue, màn trình diễn chung đầu tiên của họ kể từ những năm cuối thập niên 80[52]. Những buổi diễn của Minogue khắp nước Úc không ngừng thu hút khán giả, và sau khi nghỉ Giáng sinh với gia đình, cô tiếp tục sang Châu Âu thực hiện 6 buổi biểu diễn ngoài trời tại Wembley Arena, trước khi tới Manchester cho 6 buổi biểu diễn tiếp theo. Ngày 31 tháng 12 năm 2006, cô đón năm mới ngoài show diễn tại Wembley Arena, London[53]. Tháng 11 năm 2007, Minogue phát hành X, album phòng thu thứ 10, đánh dấu sự trở lại của cô[54]. Phong cách electro của album được sản xuất và sáng tác bởi các cộng tác viên cũ như Guy Chambers, Dennis Cathy, Richard Stannard và những người mới như Bloodshy & Avant, Calvin Harris[54][55]. Hình ảnh của Minogue hiện qua video "2 Hearts", cô và William Parker kết hợp phong cách của những nhà hát kabuki ở Nhật và các câu lạc bộ đêm tại London. Album là những trải nghiệm của Minogue với căn bệnh ung thư, cô trả lời khi so sánh X với những album trước của cô: "Kết luận cuối cùng của tôi là nếu tôi làm một album với những bài hát về bản thân, nó sẽ trở thành một Impossible Princess thứ 2 và bị đánh giá như nhau"[54].

Tại Anh và Úc, X ban đầu được tiêu thụ một cách chậm chạp, được giải thích là do đĩa đơn đầu tiên "2 Hearts"[54], mặc dù các màn trình diễn quảng bá đang dần được cải thiện[56]. Tại Mỹ, khi X được phát hành chính thức vào tháng 4 năm 2004[55], nó không thể lọt nổi vào Top 100 album dù được quảng bá rất tích cực[35]. Giới chuyên môn cho rằng doanh thu thấp của album là do sự lựa chọn sai lầm "All I See" làm đĩa đơn tại Mỹ, mà lẽ ra nên phát hành thử tại Anh, nơi Minogue đã có thể thành công hơn[13]. Cô gọi thị trường Mỹ là "thật sự khó tính", và nói "Bạn có nhiều cơ hội hơn trên radio. Để biết được nơi tôi phù hợp ở thị trường đó quả thật rất khó"[57].

Tháng 12 năm 2007, Minogue trình diễn 2 bài hát "Can't Get You Out of My Head" và "2 Hearts" tại buổi hòa nhạc Giải Nobel hòa bìnhOslo, Na Uy với nhiều nghệ sĩ khác[58][59], và sau đó biểu diễn tại vòng chung kết X Factor với người thắng cuộc Leon Jackson, trong khi Dannii Minogue là người cố vấn[60]. Từ tháng 3 năm 2008, Minogue quảng bá cho X với tour diễn tại Châu Âu, KylieX2008, được đầu tư tới 10 triệu bảng Anh[35][61]. Tour lưu diễn với 53 buổi biểu diễn khắp Châu Âu đến tận tháng 8 mới kết thúc. Tour diễn được rất được ủng hộ và vé bán rất chạy, tại Anh, vé cho 8 buổi biểu diễn đã bán hết chỉ trong vòng 30 phút[62].

Cuối năm 2007, có công bố chính thức Minogue sẽ được nhận huân chương OBE (hiệp sĩ hoàng gia Anh) từ nữ hoàng Anh từ nữ hoàng Anh Elizabeth II vì những đóng góp không ngừng cho âm nhạc[63]. Minogue phát biểu: "Tôi rất ngạc nhiên khi thấy những đóng góp của mình được trân trọng. Tôi cảm thấy sâu xa mình đã được thừa nhận tại Anh, một ngôi nhà khác của tôi"[64]. Cô chính thức được tặng huân chương OBE vào tháng 7 năm 2008 từ Thái tử Charles[65]. Sau đó không lâu, Minogue được bình chọn là nhân vật được người Anh yêu mến nhất[66]. Cũng trong năm 2008, cô đoạt giải "Nữ nghệ sĩ quốc tế xuất sắc nhất" tại giải BRIT[67] và nhận huân chương Ordre des Arts et des Lettres của Pháp vào tháng 5, danh hiệu văn hóa cao nhất của nước Pháp[68].

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1989, Minogue đóng trong bộ phim The Delinquents kể về một cô gái trẻ lớn lên tại Úc trong những năm cuối của thập niên 50. Cùng với sự ra đời của tác phẩm này, danh tiếng của cô cũng nổi lên trong Neighbours. Nhưng thành công của cô trong cả hai lĩnh vực, âm nhạc và phim ảnh cũng chỉ là những thành công mang tính thương mại[69][70] chứ không được giới chuyên môn đánh giá cao[71]. Năm 1994, cô xuất hiện trong vai Cammy bộ phim hành động mang tên Street Fighter (1994), dựa trên series game hành động cùng tên. Bộ phim cũng bị nhận nhiều lời chê bôi từ phía các nhà phê bình. Richard Harrington – nhà phê bình phim ảnh của báo The Washington Post - gọi cô là "nữ diễn viên nói tiếng Anh tồi nhất thế giới"[72]. Trong phim Moulin Rouge! (2001), Minogue đóng vai nàng tiên xanh và hát một đoạn The Sound of Music[73]. Năm 2002, cô tham gia lồng tiếng cho bộ phim The Magic Roundabout trong vai một cô gái tên là Florence. Cô còn hát ca khúc chủ đề của bộ phim và nó là một trong 2 bài bài hát không bị thay thế khi phim công chiếu tại Bắc Mỹ.

Tháng 4 năm 2007, tờ New of the World đưa tin Minogue sẽ tham gia tập phim "Voyage of the Damned" trong series phim truyền hình Doctor Who[74]. Thông tin này được công bố chính thức trên kênh BBC vào ngày 3 tháng 7 năm 2007, Minogue vào vai cô hầu bàn Astrid Peth[75]. Tập phim được trình chiếu vào ngày 25 tháng 12 năm 2007, với 13.1 triệu người xem, đây là tập phim cao có lượng khán giả đông nhất của bộ phim này từ tập đầu tiên năm 1979[76].

Ngày 10 tháng 11 năm 2007, The Kylie Show được phát trên kênh ITV1. Chương trình bao gồm những màn trình diễn của Minogue và những cảnh quay hậu trường[77]. Show truyền hình đã thu hút đến 5.3 triệu người xem[78]. Minogue cũng xuất hiện trong bộ phim tài liệu White Diamond, được làm bởi chính cô và William Paker từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 3 năm 2007. White Diamond giới thiệu về sự trở lại của Minogue với tour diễn Showgirl: The Homecoming Tour năm 2006. Bộ phim được công chiếu tại tháng 10 năm 2007 và phát hành dưới dạng DVD vào tháng 12[79].

Cô cũng xuất hiện với vai trò khách mời trong series phim truyền hình The Vicar of Dibley[80], Men Behaving Badly tại AnhKath & Kim tại Úc, với mục đích quảng bá hình ảnh và tên tuổi của mình. Với Kath & Kim, đã có hơn 600.000 người Melbourne đã xem tập phim có Kylie Minogue[81].

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, Minogue có mối quan hệ cá nhân với Michael Hutchence, ca sĩ hát chính của nhóm INXS, để cố gắng được công nhận là một ca sĩ trưởng thành. Còn Hutchene nói sở thích của anh ta là "làm Kylie hư hỏng", và viết bài hát "Suicide Blonde" là ám chỉ cô[82]. Năm 1997, Minogue lại có mối quan hệ khác với nhiếp ảnh gia người Pháp Stephane Sednaoui[83].

Những mối tình của cô, kể cả những mối quan hệ đã kết thúc hay hiện tại với nghệ sĩ người Pháp Olivier Martinez, đều được báo chí và các phương tiện truyền thông đưa tin rộng rãi[84][85][86]. Tháng 2 năm 2008, mối quan hệ giữa Minogue và Matinez được bị phát hiện khi họ bị bắt gặp đi ăn với nhau ở Paris[87]. Báo chí đưa tin hai người sẽ trở lại với nhau và sẽ lập gia đình, nhưng cô bác bỏ những lời đồn đại này. Cô phát biểu: "Tôi đã đi ăn tối với bạn trai cũ và tôi biết sẽ có những lời đồn đại về việc chúng tôi sẽ lập gia đình. Chúng tôi thậm chí đã không nói về chuyện đó"[88].

Căn bệnh ung thư[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chuẩn đoán bị ung thư vú, Minogue buộc phải hoãn chuyến lưu diễn Showgirl: The Greatest Hits Tour và sự có mặt của cô tại Glastonbury Festival[89][90].

Thời gian nằm viện và điều trị của cô ở Melbourne đã làm giới truyền thông bùng nổ mạnh mẽ, đặc biệt là tại Úc, nơi mà thủ tướng John Howard lên tiếng ủng hộ Minogue[91]. Cũng như giới tiện truyền thông, người hâm nộ của cô bắt đầu tập hợp bên ngoài dinh thự Victorian tại Melbourne. Steve Bracks cảnh báo mọi hành động xâm phạm sự riêng tư của gia đình Minogue do các paparazzi đều không được pháp luật Úc tha thứ[92]. Phát biểu này của Bracks trở thành câu nói tiêu biểu trong việc chỉ trích các paparazzi[93][94].

Minogue trải qua cuộc phẫu thuật vào ngày 21 tháng 5 năm 2005 tại bệnh viện CabriniMalvern[91]. Những người bạn của cô như Olivia Newton-John đã phải cố gắng rất nhiều mới từ chối hết những lời yêu cầu vào thăm cô của những người hâm mộ và giới báo chí[95]. Không lâu sau, Minogue bắt đầu chữa bệnh bằng hóa chất và chế độ sinh hoạt riêng.

Kylie xuất hiện trước công chúng để cảm ơn những người hâm mộ đã ủng hộ cô suốt thời gian qua, động viên họ không nên quá lo lắng cho cô. Ngày 8 tháng 7 năm 2005, cô lần đầu xuất hiện sau khi phẫu thuật trong một chuyến viếng thăm làng trẻ em ung thư tại bệnh viện Royal Children của thành phố Melbourne. Sau đó, cô quay lại Pháp nơi cô tham gia điều trị hoá học tại Viện Gustave-Roussy, Villejuif gần Paris[96].

Tháng 12 năm 2005, Minogue phát hành đĩa đơn "Over the Rainbow", một bản thu âm trực tiếp từ Showgirl Tour. Đầu năm 2006, Minogue bắt đầu xuất hiện trên các phương tiện truyền thông thông báo về những kế hoạch mới cũng như tình hình sức khỏe đang tiến triển vủa cô. Tháng 6 năm 2006, cô bắt đầu công việc thu âm album mới[97] với sự tham gia của Scissor Sisters, Steve Anderson, Richard Stannard, Johnny Douglas, Ash Thomas, và Teddy Riley, đồng thời hoàn thành nốt Showgirl Tour với cái tên mới Showgirl: The Homecoming tour.

Cuốn sách Minogue viết dành cho trẻ em, The Showgirl Princess được viết trong thời kì cô bắt đầu bình phục được xuất bản tháng 10[98] năm 2006 và "Darling", nước hoa của cô cũng được giới thiệu vào tháng 11[99]. Xuất hiện trên chương trình The Ellen DeGeneres Show tại Mỹ, Minogue nói bệnh ung thư của cô đã từng bị chuẩn đoán nhầm và: "Một người nào đó trong trang phục trắng và dùng những dụng cụ y tế thì không phải lúc nào cũng đúng"[100], nhưng sau đó cô cũng tỏ lòng kính trọng của mình với các bác sĩ[101].

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Album trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Album phối lại[sửa | sửa mã nguồn]

Tour lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn
1989 The Delinquents Lola Lovell
1994 Street Fighter Cammy
1995 Hayride to Hell The Girl
1996 Misfit
1996 Bio-Dome Dr. Petra von Kant
1997 Diana & Me Kylie Minogue
2000 Cut Hilary Jacobs
2000 Sample People Jess
2001 Moulin Rouge! Bà tiên xanh
2005 The Magic Roundabout Florence (lồng tiếng)
2007 White Diamond Kylie Minogue

Đĩa đơn quán quân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất[102]
Flag of Europe.svg
Châu Âu
Flag of England (bordered).svg
Anh
Flag of Australia.svg
Úc
Flag of Ireland.svg
Ireland
Flag of Germany.svg
Đức
Flag of the United States.svg
Mỹ
Newworldmap.svg
Thế giới
1987 "The Loco-Motion" 1 2 1 1 3 3 9
"I Should Be So Lucky" 1 1 1 1 1 28 6
1988 "Got to Be Certain" 3 2 1 6 6
"Especially for You" (với Jason Donovan) 1 1 2 1 10
1989 "Hand on Your Heart" 3 1 4 1 17
1990 "Never Too Late" 11 4 14 1 45
"Tears on My Pillow" 2 1 20 2
1994 "Confide in Me" 9 2 1 12 50
2000 "Spinning Around" 3 1 1 4 62 17
"On a Night Like This" 10 2 1 16 72 25
2001 "Can't Get You out of My Head" 1 1 1 1 1 7 1
2002 "In Your Eyes" 7 3 1 4 18 2
"Love at First Sight" 1 2 3 7 16 23 4
2003 "Slow" 1 1 1 5 8 91 4
2004 "I Believe in You" 1 2 6 9 12 4
2007 "2 Hearts" 5 4 1 12 13 7
Tổng Đĩa đơn quán quân 7 7 10 6 2 0 1

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Synth pop: Encyclopedia of Modern Music The Times February 1, 2009
  2. ^ "Kylie Minogue – Aphrodite (Review)" at URB web site
  3. ^ “Kylie Minogue - Line of Enquiry”. BBC Radio 2. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011. “She’s sold over 68 million records worldwide, won numerous prestigious awards and adorned the covers of numerous magazines.” 
  4. ^ National Film and Sound Archive: 'I Should Be So Lucky' on the Sounds of Australia registry
  5. ^ National Film and Sound Archive: 'I Should Be So Lucky' on australianscreen online
  6. ^ Daily Telegraph Australia: Prime Minister Julia Gillard to honour pop princess Kylie Minogue: [1]
  7. ^ Smith, Sean (2002). Kylie Confidential. Michael O'Mara Books Limited. ISBN 1-85479-415-9. 
  8. ^ a ă â b c Kylie: the history Metro, 3 tháng 1 năm 2007
  9. ^ Maley, Jacqueline. "20 years at the top: she should be so lucky". The Sydney Morning Herald, 5 tháng 8 năm 2007
  10. ^ “Transcript of television documentary Love Is In The Bath, episode title "I Should Be More Sexy"”. ABC Television. 2 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  11. ^ a ă â b Kylie Minogue Special abc.net.au, 3 tháng 8 năm 2002
  12. ^ Kylie Minogue: Goddess of the moment The Independent, 23 tháng 2 năm 2002
  13. ^ a ă Flop in the USA: Kylie's bid to crack States fails as album bombs The Daily Mail, 11 tháng 4 năm 2007
  14. ^ a ă Billboard charts, Kylie Minogue
  15. ^ Killian, Kevin (tháng 2 năm 2002). “Kylie Minogue and the Ignorance of the West”. Bucknell. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  16. ^ Coorey, Madeleine (3 tháng 3 năm 2006). “Kylie costumes thrill fans”. The Standard. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2006. 
  17. ^ True, Chris (13 tháng 7 năm 2005). “Kylie Review”. Allmusic. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  18. ^ White, Dave. Take this, America! With a sultry new record, the Aussie dance goddess seals her hold on us The Advocate, 2 tháng 4 năm 2004
  19. ^ “Tiếu sử”. Trang web chính thức Kylie.com. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên knowherbest
  21. ^ Baker; Minogue. Kylie: La La La. tr. tr. 22. 
  22. ^ Baker; Minogue. Kylie: La La La. tr. tr. 99. 
  23. ^ a ă Flick, Larry (Tháng 3 năm 1998). “Minogue Makes Mature Turn On deConstruction Set”. Billboard Magazine (US). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2007. 
  24. ^ Petridis, Alex (Tháng 10 1997). “Kylie Chameleon”. Mixmag (UK). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2007. 
  25. ^ “"Did It Again" review”. Music Week. 8 tháng 11 năm 1997. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2007. 
  26. ^ New Musical Express. “NME Review of Light Years”. New Musical Express. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2006. 
  27. ^ Sydney says goodbye BBC News, 1 tháng 10 năm 2000
  28. ^ “Kylie Bio”. Frontier Touring Company. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2006. 
  29. ^ Baker; Minogue. Kylie: La La La. tr. tr. 165–167. 
  30. ^ Reighley, KB. (26 tháng 6 năm 2006). “I &heart; Kylie”. Seattle Weekly. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2006. 
  31. ^ Gibb, Megan. Happy Birthday Kylie: 40 milestones to mark 40 years (+photos) New Zealand Herald, 31 tháng 5 năm 2008
  32. ^ a ă Can Kylie get her groove back? The Age, 31 tháng 1 năm 2004
  33. ^ a ă “Kylie's second coming”. Sydney Morning Herald. 14 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  34. ^ Billboard.com, Fever release date
  35. ^ a ă â Goodman, Dean. Kylie Minogue album a flop in the U.S. Reuters, 11 tháng 4 năm 2008
  36. ^ a ă Grammy Awards: Best Dance Recording
  37. ^ Drumming, Neil (19 tháng 3 năm 2004). “Kylie Vs America”. EW.com. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  38. ^ Minogue, Kylie. (2003). Body Language Live. [DVD]. Parlophone.  Body Language Live documentary, album launch press conference.
  39. ^ Ives, Brian; Bottomley, C. (24 tháng 2 năm 2004). “Kylie Minogue: Disco's Thin White Dame”. VH1.com. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  40. ^ KC (14 tháng 2 năm 2004). “Body Language”. Billboard Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  41. ^ True, Chris. “Body Language”. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  42. ^ Guinness Book of British Hit Singles & Albums and UK Top 40 Hit Database
  43. ^ “Stats and facts: Most no.1 singles”. The Official UK Chart Company. Tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  44. ^ The Complete List of Grammy Nominations The New York Times, 8 tháng 12 năm 2005
  45. ^ “Kylie exhibition heads for London”. BBC News. 26 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  46. ^ Menkes, Suzy (25 tháng 2 năm 2007). “'Kylie — The Exhibition' draws a young crowd to the Victoria and Albert Museum in London”. International Herald Tribune. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  47. ^ “Word is Out, Kylie Minogue news - News round-up, + exclusive or hoax?”. Limbo. 17 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2007. 
  48. ^ “Kylie Minogue Has Breast Cancer”. CBS News. 17 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  49. ^ Two UK gigs as Kylie resumes tour BBC News, 17 tháng 7 năm 2006
  50. ^ Sams, Christine (12 tháng 11 năm 2006). “Feathered Kylie's fans tickled pink”. Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2006. 
  51. ^ “Kylie Minogue Cancels Performance with U2 Due To Exhaustion”. Spotlighting News. 14 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2006. 
  52. ^ Houghton, Matt. Kylie and Dannii perform together in Oz Digital Spy, 18 tháng 12 năm 2006
  53. ^ Victoria Newton (13 tháng 12 năm 2006). “Kylie UK New Year's Eve gig”. The Sun. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publishyear= (trợ giúp)
  54. ^ a ă â b Adams, Cameron (17 tháng 1 năm 2008). “Kylie Minogue talks about leaks, love and moving on”. Herald Sun. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2008. 
  55. ^ a ă “Will Kylie Minogue 'X' Madonna Off The Album Chart?”. Access Hollywood. 8 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  56. ^ Sinclair, David (28 tháng 7 2008). “Kylie Minogue at the O2 Arena, London”. The Times. Times Newspapers Ltd. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008. 
  57. ^ Mitchell, Peter (11 tháng 4 năm 2008). “Kylie lacks X-factor in US”. Herald Sun. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2008. 
  58. ^ “Nobel Peace Prize Concert 2007”. nobelpeaceprize.org. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007. 
  59. ^ Kylie heats up Oslo in sexy PVC number to honour Al Gore The Daily Mail
  60. ^ Kylie and Jason sing on X Factor BBC News
  61. ^ Kylie's tour to kick off in Paris. The Daily Telegraph, 29 tháng 4 năm 2008
  62. ^ Williams, Owen. Kylie Minogue’s concert tickets sell-out in 30 minutes Showbiz Spy, 4 tháng 12 năm 2007
  63. ^ “Parkinson and Minogue top honours”. BBC News. 29 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2007. 
  64. ^ Gammell, Caroline. "Kylie awarded OBE in New Year Honours list". The Daily Telegraph, 29 tháng 12 năm 2007
  65. ^ BBC NEWS | Entertainment | Kylie attends Palace for honour
  66. ^ Kylie Minogue is voted Great Britain's favourite celebrity - mirror.co.uk
  67. ^ Kylie Minogue is voted Great Britain's favourite celebrity - mirror.co.uk
  68. ^ Kylie receives top French honour ABC News, 6 tháng 5 năm 2008
  69. ^ “Australian films earning over £200,000 gross at the UK box office, 1979–March 2006”. Australian Film Commission. Tháng 4 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  70. ^ “Top five Australian feature films each year, and gross Australian box office earned that year, 1988–2005”. Australian Film Commission. 31 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  71. ^ “The Delinquents – Review”. Time Out London. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  72. ^ Harrington, Richard (24 tháng 12 năm 1994). “Street Fighter”. Washington Post. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  73. ^ Smith, Neil. "Moulin Rouge (2001) review". BBC, 22 tháng 6 năm 2001
  74. ^ Graham, Polly. “Return of the Cyber Woman”. News of the World. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2007. 
  75. ^ "Step Back In Time". BBC, 3 tháng 7 năm 2007
  76. ^ "Titanic Success!". BBC, 26 tháng 12 năm 2007
  77. ^ "Kylie and Dannii recreate infamous Dynasty catfight for TV special". The Daily Mail, truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2007
  78. ^ "Weekly Viewing Summary (see w.e 11/11/07)". BARB, truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2007
  79. ^ Kylie thanks fans at film launch. BBC News, truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2007
  80. ^ “In pictures: Kylie's pop career (picture 5)”. BBC News. 17 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2007. 
  81. ^ Miller, Kylie (24 tháng 11 năm 2004). “Kylie joins foxy morons for ratings winner”. The Age. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2008. 
  82. ^ McLuckie, Kirsty (23 tháng 1 năm 2003). “Dating Danger”. The Scotsman. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  83. ^ Baker; Minogue. Kylie: La La La. tr. tr. 108. 
  84. ^ “Kylie and partner announce split”. BBC News. 3 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2007. 
  85. ^ “Kylie Minogue and Olivier Martinez split”. The Daily Mail. 3 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2007. 
  86. ^ Davies, Barbara (7 tháng 8 năm 2004). “Kylie at the Crossroads”. Daily Mirror. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  87. ^ Kylie back with 'love-rat' The Daily Telegraph, 22 tháng 7 năm 2008
  88. ^ Kylie denies Olivier baby plans news.com.au, truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2008
  89. ^ “Minogue's cancer shock ends tour”. CNN. 17 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  90. ^ Kylie Minogue has breast cancer BBC News, 17 tháng 5 năm 2007
  91. ^ a ă “Kylie begins cancer treatment”. CNN. 19 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006. 
  92. ^ “Bracks warns paparazzi to back off”. The Age. 18 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  93. ^ Attard, Monica (22 tháng 5 năm 2005). “Peter Carrette and Peter Blunden on Kylie Minogue and the media”. ABC Sunday Profile. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  94. ^ Aiken, Kirsten (22 tháng 5 năm 2005). “Media Coverage of Kylie Minogue: Circulation or Compassion?”. ABC Radio. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  95. ^ Hobson, Judy (26 tháng 10 năm 2006). “'I feel for Kylie. We women should remember that we are much more than just breasts'”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2005. 
  96. ^ “Kylie Minogue est sur la voie de la guérison” (bằng Pháp). TF1. 16 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  97. ^ “Kylie works on new album”. ITV. 4 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2007. 
  98. ^ Kylie Minogue viết sách cho trẻ em VnExpess, 10 tháng 3 năm 2006
  99. ^ Kylie Minogue lao động để quên bệnh tật VnExpress, 10 tháng 11 năm 2006
  100. ^ Kylie says 'I was misdiagnosed' BBC News, 8 tháng 4 năm 2008
  101. ^ Kylie has 'respect' for doctors BBC News, 9 tháng 4 năm 2008
  102. ^ Chart Position SloKylie.com

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]