Dota 2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dota 2

Logo
Nhà phát triển Valve Corporation
Nhà phát hành
Nhà phân phối Steam (phần mềm)
Đạo diễn Erik Johnson
Thiết kế IceFrog
Kịch bản Chet Faliszek
Ted Kosmatka
Marc Laidlaw
Soạn nhạc Jason Hayes
Tim Larkin[1]
Hệ máy Microsoft Windows, Mac OS X, Linux[2]
Công nghệ Source
Ngày phát hành Microsoft Windows
  • WW 9 tháng 7 năm 2013[3]
OS X & Linux
  • WW 18 tháng 7 năm 2013[4]
Thể loại Trò chơi hành động chiến thuật thời gian thực (ARTS)
Phân phối Phân phối kỹ thuật số

Dota 2 là một trò chơi hành động chiến thuật thời gian thực (Arts) được Valve Corporation phát triển, dựa theo một mod game nổi tiếng, Defense of the Ancients, từ trò chơi Warcraft III: Reign of Chaosbản mở rộng của nó The Frozen Throne. Được công bố lần đầu vào ngày 23 tháng 10 năm 2010 qua Game Informer[5], trò chơi sau đó được đưa vào thử nghiệm với một bản beta miễn phí thông qua hệ thống giftcode[6]. Valve phát hành Dota 2 qua hệ thống điều phối Steam của họ mà qua đó trò chơi được cập nhật song song với hệ thống phiên bản DotA [7]. Dota 2 có thể chạy được trên cả 3 hệ điều hành phổ biến hiện nay là Microsoft Windows lẫn Mac OS XLinux [6].

Thông thường, mỗi ván Dota 2 là một trận đấu riêng biệt và chia làm 2 đội, mỗi đội gồm 5 người chơi và chiếm đóng một thành lũy ở 2 góc đối diện của bản đồ. Nằm giữa pháo đài mỗi bên là một công trình gọi là "Ancient" (Thánh tích); để giành chiến thắng, một đội phải phá hủy thánh tích của đội đối phương. Mỗi người chơi chỉ được điều khiển một nhân vật duy nhất sở hữu một số khả năng chiến đấu nhất định, phối hợp cùng đồng đội giành lợi thế trên bản đồ để đi tới chiến thắng.

Công việc phát triển Dota 2 được bắt đầu vào năm 2009, với việc Valve tuyển được nhà phát triển "IceFrog" của bản mod DotA làm nhà thiết kế chính của tựa trò chơi tiếp nối này. Dota 2 được khen ngợi bởi các nhà phê bình trò chơi điện tử do vừa giữ được nét đặc sắc của trò tiền nhiệm là DotA vừa nâng cao được chất lượng trò chơi, cũng như những cảm nhận lôi cuốn, hứng thú mà trò chơi mang lại. Tuy nhiên Dota 2 bị phê bình bởi việc nó có "đường cong học hỏi" dốc và cộng đồng người chơi thiếu thân thiện. Trò chơi hiện là trò được chơi nhiều nhất trên Steam, với lượng người chơi cùng lúc ở đỉnh điểm là 600000.[8]

Sau đó đến này 9 tháng 7 năm 2013 Dota 2 được chính thức kết thúc giai đoạn Beta và được phát hành dưới dạng Free to play trên Windows và sau đó là ngày 18 tháng 7 năm 2013 trên LinuxOS X.

Cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Một trận đấu Dota 2 đang diễn ra. Việc phối hợp đồng đội là quan trọng, đặc biệt về cuối trận đấu khi căn cứ bị tấn công thường xuyên.

Dota 2 kết hợp các yếu tố của trò chơi chiến lược thời gian thực với góc nhìn từ trên xuống với các yếu tố chức năng về kinh nghiệm và đồ trong trò chơi nhập vai. Người chơi được chia vào hai đội có tên gọi Radiant và Dire. Căn cứ bên Radiant ở phía dưới bên trái (góc tây nam) bản đồ còn căn cứ bên Dire ở phía trên bên phải (góc đông bắc) bản đồ. Người chơi có thể chọn một trong 107 hero[9] với cấp độ kinh nghiệm (level) lên được tối đa là 25. Cách thức hero tham gia các cuộc chiến giữa hai bên phụ thuộc nhiều vào thuộc tính chính của hero đó. Trong trò chơi này mỗi hero có ba thuộc tính là strength (sức mạnh), agility (nhanh nhẹn) và intelligence (thông minh), trong đó có một thuộc tính là chính. Như vậy hero cũng được chia thành ba loại tương ứng với thuộc tính chính[10].

Ở giữa căn cứ của mỗi bên có một công trình lớn có tên "Ancients" (Thánh tích). Mục tiêu của trò chơi là phá hủy công trình này của đối phương. Bản đồ được phân đôi bởi một con sông và cân bằng về mặt địa hình giữa hai bên. Hai căn cứ nối với nhau bằng ba con đường chính (được gọi là lane). Trên mỗi đường vào căn cứ có những trụ (tower) bảo vệ và phải phá hủy được trụ ngoài mới tấn công được trụ bên trong. Để phá được Thánh tích thì phải phá hủy được hai trụ cuối cùng bảo vệ nó. Ngoài ra, ở mỗi đường có những đơn vị quân (gọi là creep) được sinh ra đều đặn theo thời gian, tiến về căn cứ đối phương, tấn công hero và đơn vị quân, cũng như trụ của đối phương[11].

Để phá hủy được Thánh tích thì trên đường vào căn cứ phải chiến đấu với đối phương. Vì Dota 2 đề cao tính đồng đội nên người chơi phải phối hợp tốt với đồng đội mình mới đem lại chiến thắng cuối cùng.

Đơn vị trao đổi trong trò chơi là vàng. Các hero dùng vàng để mua đồ đạc, tăng cường sức mạnh và những khả năng khác do những món đồ mang lại. Vàng mỗi hero có tăng theo thời gian, tuy nhiên không đáng kể. Vàng chủ yếu thu được từ việc tiêu diệt hero, phá hủy công trình, tiêu diệt đơn vị quân đối phương. Những công việc này đem lại cả điểm kinh nghiệm. Từ đó có một kỹ năng là tự tiêu diệt đơn vị quân hoặc công trình bên mình (gọi là deny) khi còn ít máu để tránh việc đối phương có vàng và giảm lượng kinh nghiệm thu được. Khi hero tích lũy đủ kinh nghiệm thì sẽ tăng cấp độ. Khi tiêu diệt đối phương thì người chơi có đòn kết thúc cuối cùng sẽ thu được nhiều vàng và kinh nghiệm hơn, từ đó có kỹ năng canh để có đòn kết thúc (last hit). Với các trụ bên trong, cũng như hero cấp độ cao thì khi tiêu diệt người chơi sẽ thu được nhiều vàng hơn[12].

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu hình yêu cầu
Tối thiểu Khuyên dùng
Microsoft Windows
Hệ điều hành Windows XP, Windows Vista, Windows 7
CPU Intel Pentium 4 3 GHz Intel Pentium Core 2 Duo 2.4 GHz
RAM 1 GB RAM 2 GB RAM
Không gian đĩa cứng 4 GB+ trống trong ổ cứng HDD
Phần cứng đồ họa NVIDIA GeForce 6600 128 MB, ATi Radeon X800 128 MB NVIDIA GeForce 7600 256 MB hoặc ATi Radeon X1600 256 MB
Phần cứng âm thanh DirectX tương thích với card âm thanh
Mạng Internet kết nối với Steam
Thiết bị nhập Bàn phímChuột

Concept[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhà sáng lập và quản lý của Valve, Gabe Newell, công việc đầu tư của công ty cho Dota được khai mào vì sự quan tâm của nhiều nhân viên kì cựu, bao gồm cả nhà thiết kế Robin Walke của trò chơi Team Fortress, lập trình viên Adrian Finol và quản lý dự án Erik Johnson, tất cả họ đều từng thử chơi DotA ở trình độ thi đấu. Khi mối quan tâm của họ lớn dần, họ bắt đầu trao đổi thư điện tử với nhà thiết kế và quản lý của bản đồ này, IceFrog, và đưa ra câu hỏi về dự định lâu dài với bản mod này của IceFrog.[13]. Các email này đã dẫn tới lời mời thăm quan trụ sở công ty được gửi đến IceFrog từ Erik Johnson và sau đó, là lời đề nghị tuyển mộ IceFrog vào dự án[14]. Thông điệp đầu tiên về việc phát triển Dota 2 được chính IceFrog viết trên blog của mình vào ngày 5 tháng 10 năm 2009 với việc hé lộ rằng anh sẽ đứng đầu một nhóm làm việc tại Valve[15]. Kể từ đó, không có một lần nào nữa các thông tin được đưa thêm cho tới tận ngày 13 tháng 10 năm 2010 khi trang web của tạp chí Game Informer công bố nhiều chi tiết liên quan tới trò chơi cũng như việc phát triển, dẫn tới việc server của trang web này bị nghẽn vì lượng truy cập[5][16]. Erik Johnson đã giải thích về cách viết của nhãn hiệu là "Dota" chứ không phải "DotA", rằng bởi vì bối cảnh tên gọi Dota ngày cảng trở thành một khái niệm riêng chứ không phải là chữ viết tắt của "Defense of the Ancients" nữa.[14]

Qua vài lời phỏng vấn ngắn của IceFrog qua trang web playdota.com – trang web chính thức của Defense of the Ancients – thương hiệu đã được Valve đăng ký vào ngày 6 tháng 8 năm 2010[17], Steve Feak – một trong những người cùng thiết kế bản đồ DotA Allstars – cùng Steve Mescon – người sáng lập ra trang web dota-allstars.com – cho rằng Valve không có đủ thẩm quyền để sở hữu thương hiệu "DotA". Ngày 9 tháng 8 năm 2010, "Guinsoo" Steve Feak chính thức đệ đơn bảo vệ thương hiệu "Dota" cho "DotA-Allstars" và LLC (đại diện của Riot Games – công ty tuyển dụng anh) với lý do "bảo vệ công việc mà hàng chục tác giả đã làm để tạo ra trò chơi"[18]. Rob Pardo, phó giám đốc phụ trách điều hành của Blizzard Entertainment và là người phát triển Warcraft III cũng đồng tình với ý kiến này khi cho rằng DotA là khái niệm đi liền với thành công của cộng đồng Warcraft. Blizzard liền kêu gọi DotA-Allstars và LLC của Riot Games cùng đứng lên chung sức, không chỉ với danh nghĩa những người tạo nên World Editor, mà còn dưới quyền lợi của công ty đã tạo mod trước đó[19]. Trong buổi giới thiệu trò chơi tại Gamescom 2011, Gabe Newell nói rằng Valve chỉ đứng ra lấy thương hiệu, còn thực tế IceFrog mới là người muốn đứng ra lập một trò chơi DotA riêng mà rất nhiều người đã từng biết tới[20]. Blizzard cuối cùng cũng hoàn chỉnh thủ tục kiện Valve vào tháng 11 năm 2011, yêu cầu quyền lợi cho Warcraft III: World Editor và những người tạo ra nó bao gồm DotA-Allstars và LLC[19]. Ngày 11 tháng 5 năm 2012, cả Blizzard lẫn Valve đều tuyên bố những tranh cãi đôi bên đã được dàn xếp, trong đó Valve tiếp tục được quyền phát triển trò chơi với thương hiệu "Dota", trong khi Blizzard hoàn toàn có thể đổi tên bản đồ của mình, từ "Blizzard DOTA" thành "Blizzard All-Stars"[21].

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Mô phỏng chính xác theo Defense of the Ancients, những thiết kế của Dota 2 chú trọng nhiều vào việc chuyển những chi tiết sang engine Source, cùng với đó là phát triển phần gameplay. Dota 2 cũng thiết kế lại 2 tộc Scourge và Sentinel trong Defense of the Ancients thành 2 đạo quân theo thứ tự là Dire và Radiant, cùng với nhiều phụ kiện vẫn được giữ lại, trong khi chú ý nâng cấp chất lượng trong thiết kế mới. Valve cũng mời người phát triển của Warcraft III, Jason Hayes, tới cộng tác cùng Tim Larkin để viết phần nhạc nền cho trò chơi[1]. Tên của các nhân vật, kỹ năng, đồ, bản đồ cùng một số chi tiết khác nhìn chung là không có nhiều thay đổi, tuy nhiên việc đưa trò chơi vào engine Source đã giúp Dota 2 vượt ra ngoài những giới hạn của World Editor trong Warcraft III. Rất nhiều mục hỗ trợ đã được cho thêm vào trong phần kinh nghiệm của mỗi tài khoản người chơi, từ đó giúp cho người chơi có thể được đối đầu với những đối thủ cùng trình độ. Phần chơi không đối kháng hay không tính điểm cũng xuất hiện, kể cả phần chơi AI lẫn solo. Ban đầu, IceFrog nói rằng Dota 2 chỉ có mục đích phát triển lâu dài mod cũ, xây dựng trò chơi mới theo gameplay trước đó mà không thay đổi quá nhiều để khỏi làm hỏng mất những gì đã có[14]. Theo Valve, công ty đã ký với rất nhiều cộng tác viên nổi tiếng từ Dota để hỗ trợ phát triển Dota 2, trong đó có một trong những người sáng lập đầu tiên "Eul", cũng như người thường thiết kế phần hình nền chờ vào trò chơi, Kendrick Lim của Imaginary Friends Studios[22]. IceFrog sau này cũng nói rằng Dota 2 là bản tiếp nối của Dota, và các đóng góp chủ yếu tới từ những nguồn ngoài nhóm phát triển chính[23].

Để nâng cấp cho Dota 2, Valve tiến hành công việc trên nền Source với nhiều bổ sung chi tiết, chẳng hạn như thay đổi vẻ bề ngoài của các nhân vật, thay đổi về ánh sáng, cũng như nâng cấp phần Steamworks, trong đó có phần mở rộng các công cụ như hướng dẫn và cả huấn luyện người chơi[5]. Dota 2 sử dụng phần mềm Steam của Valve để tận dụng cộng đồng phát triển cho trò chơi. Tài khoản ở Steam cho phép lưu trữ các dữ liệu cá nhân và chỉnh sửa phần chơi trực tuyến qua Steam Cloud. Dota 2 cũng cho thêm rất nhiều lựa chọn mới, ví dụ như theo dõi trận đấu trực tiếp giống như truyền thống các trò chơi khác của Valve. Máy chủ cũng có thể cho phép AI bot tham gia trận đấu. Một ví dụ khác là máy chủ có thể thay AI bot hay người chơi nếu có một vị trí khuyết do một người chơi nào đó không thể kết nối. Valve cũng cho phép một chế độ huấn luyện khi những người chơi nhiều kinh nghiệm có thể hướng dẫn những người mới tới. Trò chơi cũng có cả phần hướng dẫn chơi dành cho những người muốn nghiên cứu trước khi chơi những trận đấu chính thức[5]. Ngoài phần chơi thông qua Steam, Dota 2 cũng có thể chơi qua hệ thống LAN cổ điển[24].

Kể từ khi giới thiệu Dota 2 tại Gamescom 2011, Valve bắt đầu cho phép mọi người sử dụng bản beta của trò chơi, cùng với đó là các "thư mời" kèm theo sự đồng ý từ Gamescom[25]. Ban đầu, Gabe Newell nói rằng trò chơi sẽ được ra mắt trong năm 2012, cho dù thời điểm công bố là cuối năm 2011[7]. Tới ngày 23 tháng 9 năm 2011, Valve tuyên bố hủy những kế hoạch trước đó của họ liên quan tới Dota 2. Theo đó, kế hoạch của IceFrog chỉ là phát hành bản beta một cách sớm nhất có thể cùng với đó là hoàn chỉnh hệ thống các nhân vật. Sau đó, Valve gỡ phần thảo luận kín quy định trong trò chơi, từ đó cho phép người chơi có thể tranh luận và trình bày kinh nghiệm của mình một cách công khai[26].

Trong năm thứ 2 tổ chức giải The Defense bởi joinDOTA vào tháng 7 năm 2012, Valve đã cho phép các giải đấu có thêm các phụ kiện. Các giải đấu có thể được theo dõi trực tiếp thông qua việc mua những "vé" trên Dota Store, từ đó cho phép quan sát trận đấu tương tự như xem qua livestream. Phần phụ kiện này hỗ trợ cho cả những trận đấu đã và đang diễn ra trong giải đấu. Hơn nữa, một đội có thể được đọc tên bởi một phần mềm đặc biệt, từ đó cũng cho phép nhận biết ván đấu trong trận đấu, người chơi thuộc đội chơi và các thông tin theo kèm[27].

Bản thử nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng lúc với việc thiết lập một cộng đồng trực tuyến của Dota 2, Gabe Newell cũng tuyên bố vào tháng 4 năm 2012 rằng trò chơi này sẽ được phát hành theo dạng miễn phí thử nghiệm, với việc cho phép người chơi đánh giá trực tiếp với cộng đồng[28]. Ngày 1 tháng 6 năm 2012, bộ phận phát triển của Valve khẳng định trò chơi sẽ tiếp tục còn là bản miễn phí thử nghiệm cho tới khi hoàn chỉnh toàn bộ các nhân vật cũng như phụ kiện tương ứng[29]. Tuy nhiên phần tiền kiếm được từ trò chơi vẫn sẽ được đảm bảo khi người chơi mua sắm phụ kiện qua Dota Store[30]. Cho tới khi trò chơi được chính thức phát hành, người chơi có thể mua sắm tất cả các phụ kiện đi theo trò chơi[6]. Dota Store được thiết kế bởi một vài thành viên của Valve – những người cũng làm việc tại Steam Workshop – mà theo đó, hệ thống sẽ được quản lý khắt khe bởi Valve và nếu thành công có thể trở thành một phần của Dota 2. Những thống kê tài chính đầu tiên được báo cáo bởi Team Fortress 2 vào tháng 6 năm 2011 cho thấy thành công rất lớn của dự án với 3,5 triệu $ đã được người chơi trả qua bản thử nghiệm miễn phí này[29].

Phát hành và phân phối[sửa | sửa mã nguồn]

Theo những quy định về phát hành ở các quốc gia khác nhau, Valve đã phải tiến hành phân phối qua các nhà phát hành riêng biệt. Ngày 19 tháng 10 năm 2012, hãng phát hành trò chơi trực tuyến hàng đầu Trung Quốc – Perfect World – được nhận giấy phép phân phối độc quyền Dota 2 tại đây[31]. Ngày 9 tháng 11 cùng năm, tới lượt Nexon Co. Ltd có được giấy phép phát hành trò chơi ở Nhật BảnHàn Quốc[32].

Sau khi được phát hành chính thức vào ngày 9 tháng 7 năm 2013, Dota 2 ở Đông Á có thể được chơi trực tiếp qua hệ thống Steam mà không phải qua Perfect World nữa[33].

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

 Đánh giá
Tổng số điểm
Tổng hợp Điểm số
GameRankings 89.27%[34]
Metacritic 90/100[35]
Điểm đánh giá
Nơi đánh giá Điểm số
Edge 9/10[36]
Eurogamer 9/10[37]
Game Informer 9/10[38]
GameSpot 9/10[39]
IGN 9.4/10[40]
PC Gamer US 90/100[41]
VideoGamer.com 9/10[42]
Giải thưởng
Giải thưởng Hạng mục
IGN Giải thưởng People's Choice Award năm 2011[43]
PC Gamer Thể thao điện tử của năm[44]
GameTrailers Trò chơi máy tính hay nhất[45]
onGamers Trò chơi thể thao điện tử của năm 2013[46]
IGN Trò chơi chiến lược & chiến thuật trên máy tính hay nhất[47]
IGN Trò chơi nhiều người chơi trên máy tính hay nhất[48]
Game Informer Trò dành riêng cho máy tính hay nhất[49]
Game Informer Trò nhiều người chơi có tính cạnh tranh hay nhất[49]
Game Informer Trò chiến lược hay nhất[49]

Ngay sau những công bố đầu tiên về Dota 2, trò chơi đã đạt giải thưởng do người hâm mộ bình chọn qua IGN, vượt qua rất nhiều trò chơi đình đám khác của năm như Battlefield 3, Diablo III, The Elder Scrolls V: SkyrimGuild Wars 2[43]. Tháng 12 năm 2012, tạp chí PC Gamer đưa Dota 2 vào danh sách đề cử trò chơi của năm, sau đó là danh hiệu trò chơi thể thao điện tử xuất sắc nhất[50].

Tháng 9 năm 2012, PC Gamer đánh giá trò chơi "là một sản phẩm sâu sắc và phức tạp bám theo những chi tiết quan trọng nhất từ Dota. Cũng có được một vài giải thưởng như những trò chơi khác, song Dota 2 lại có một nền tảng vô cùng chắc chắn" và chấm điểm 85/100[51]. Gamesreviews viết "Dota 2 là một minh chứng xuất sắc của dòng trò chơi MOBA và thực sự đang có những thử nghiệm rất khả quan" cùng với điểm đánh giá 8.0/10[52].

Giải đấu thể thao điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh chụp trận chung kết The International 2012 tại Trung tâm thể thao điện tử của Valve ở Seattle, Mỹ

Trong một bài báo năm 2008 của trang trò chơi điện tử Gamasutra, cây viết Michael Walbridge đã đề cập rằng Dota là mod chơi phổ biến nhất thế giới, là giải đấu thể thao điện tử nổi tiếng nhất, đặc biệt phổ biến tại châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ[53]. Để đảm bảo quá trình thay đổi từ Dota sang Dota 2, Valve đã mời 16 trong số những đội chơi xuất sắc nhất thế giới quy tụ tại một giải đấu mang tên The International, tổ chức lần đầu tiên bởi Gamescom ở Koln, Đức trong đó giải thưởng cho nhà vô địch là 1 triệu $[54]. The International trở thành một sự kiện thường niên, song địa điểm tổ chức được rời tới Seattle, Washington, Mỹ[55]. Erik Johnson từng bình luận trong một bài phỏng vấn rằng việc mở rộng trò chơi qua hệ thống LAN đã cho phép tổ chức những giải đấu có quy mô nhỏ hơn, độc lập hơn và có giải thưởng ít hơn[24].

Kể từ The International, hàng loạt các giải đấu đã được tổ chức với việc đổi từ Dota sang Dota 2, trong đó có cả giải đấu nổi tiếng Electronic Sports World Cup[56]. DreamHack sau đó cũng bắt đầu tài trợ cho Dota 2 kể từ năm 2011, chỉ sau hơn 1 năm khi họ tài trợ cho 2 trò chơi chiến thuật thời gian thực đình đám khác là Heroes of NewerthLeague of Legends[57]. Chỉ sau 1 năm kể từ ngày phát hành bản thử nghiệm, Dota 2 đã trở thành trò chơi có giải thưởng cao thứ 2 trong hệ thống các giải đấu thể thao điện tử, chỉ sau StarCraft II[58]. Dota 2 trở thành hạng mục chính thức của World Cyber Games kể từ năm 2012[59]. Sau đó, The Electronic Sports League cũng bắt đầu tổ chức giải đấu Dota 2 mang tên RaidCall EMS One vào năm 2013, trở thành giải đấu Dota 2 độc lập lớn nhất của năm[60].

Danh sách đội vô địch The International[sửa | sửa mã nguồn]

Natus Vincere của Ukraina là đội vô địch giải The International mùa đầu tiên (2011) sau khi đánh bại đội EHOME từ Trung Quốc với tỉ số 3-1 ở trận chung kết[61]. Invictus Gaming của Trung Quốc là đội vô địch The International mùa thứ 2 (2012) sau khi đánh bại chính Natus Vincere 3-1 ở trận chung kết. Mùa giải The International thứ 3, Natus Vincere một lần nữa là đội á quân sau khi để thua trước đội [A]lliance tới từ Thụy Điển với tỉ số 3-2[62][63].

Thứ tự Địa điểm Thời gian Tổng giá trị giải thưởng Kết quả
The International Gamescom, Cologne, Đức 17-21 tháng 8 năm 2011 1.600.000 $ Natus Vincere 3-1 EHOME
The International 2 Benaroya Hall, Seattle, Washington, Mỹ 26 tháng 8 – 2 tháng 9 năm 2012 1.600.000 $ Invictius Gaming 3-1 Natus Vincere
The International 3 Benaroya Hall, Seattle, Washington, Mỹ 07-11 tháng 8 năm 2013 2.874.380 $[64] The Alliance 3-2 Natus Vincere
The International 4 KeyArena, Seattle, Washington, Mỹ 18-21 tháng 7 năm 2014

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Napolitano, Jayson (23 tháng 8 năm 2011). “Composer Jason Hayes joins audio team at Valve”. Destructoid. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2012. 
  2. ^ “Dota 2 on Steam”. Steam (phần mềm). Valve Corporation. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2013. 
  3. ^ Hernandez, Patricia (9 tháng 7 năm 2013). “Valve Finally "Releases" DOTA 2”. Kotaku. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  4. ^ McDonald, Tim. “Dota 2 patch adds Linux and Mac support, plus customisable chat wheel”. incgamers.com. IncGamers. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2013. 
  5. ^ a ă â b Biessener, Adam (13 tháng 10 năm 2010). “Valve's New Game Announced, Detailed: Dota 2”. Game Informer. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2012. 
  6. ^ a ă â Senior, Tom (1 tháng 6 năm 2012). “Get Dota 2 now using paid-for Early Access Pass”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2012. 
  7. ^ a ă Yin-Poole, Wesley (18 tháng 8 năm 2011). “Newell: Dota 2 won't ship until 2012”. Eurogamer. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ “Most Played Titles on Steam”. Valve Corporation. 
  9. ^ Tính tới bản cập nhật ngày 2 tháng 2 năm 2014, “Heroes”. Valve Corporation. Truy cập 7 tháng 2 năm 2014. 
  10. ^ Kolan, Nick (16 tháng 9 năm 2011). “The Heroes of Dota 2”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  11. ^ Yin-Poole, Wesley (19 tháng 8 năm 2011). “Dota 2 – Preview”. Eurogamer. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2012. 
  12. ^ Onyett, Charles (6 tháng 12 năm 2011). “Don't Be Afraid of Dota 2”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2012. 
  13. ^ McGee, Maxwell; Newell, Gabe (18 tháng 8 năm 2011). “Gamescom 2011: DOTA 2 Interview”. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2012. 
  14. ^ a ă â Onyett, Charles (8 tháng 1 năm 2011). “Valve's Next Game”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  15. ^ IceFrog (5 tháng 10 năm 2009). “Great News For DotA Fans”. PlayDotA.com. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2012. 
  16. ^ Helgeson, Matt (14 tháng 10 năm 2010). “Game Informer Show 43: Dota 2, Medal of Honor”. Game Informer. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. 
  17. ^ Funk, John (13 tháng 10 năm 2010). “Valve Files Trademark for ... DotA?”. The Escapist. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  18. ^ Augustine, Josh (17 tháng 8 năm 2010). “Riot Games' dev counter-files "DotA" trademark”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2013. 
  19. ^ a ă Plunkett, Luke (10 tháng 2 năm 2012). “Blizzard and Valve go to War Over DOTA Name”. Kotaku. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  20. ^ Yin-Poole, Wesley (22 tháng 8 năm 2011). “Dota trademark: Blizzard, Valve respond”. Eurogamer. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2012. 
  21. ^ Reilly, Jim (11 tháng 5 năm 2012). “Valve, Blizzard Reach DOTA Trademark Agreement”. Game Informer. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2012. 
  22. ^ Dagostino, Francesco (31 tháng 8 năm 2011). “DOTA 2: How Valve Turned From Fanboys Into Developers For This Game”. 1UP.com. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  23. ^ IceFrog (1 tháng 11 năm 2010). “Dota 2 Q&A”. Dota 2 Official Blog. Valve Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2012. 
  24. ^ a ă Senior, Tom (15 tháng 2 năm 2012). “Dota 2 will support LAN play, next International tournament prize pool to be "at least" $1.6m”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2012. 
  25. ^ Onyett, Charles (17 tháng 8 năm 2011). “Gamescom: When Do We Get to Play Dota 2?”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ Devore, Jordan (22 tháng 9 năm 2011). “A change of plans at Valve means we'll get Dota 2 sooner”. Destructoid. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2012. 
  27. ^ Wilkinson, Jeremy (21 tháng 6 năm 2012). “Valve to reinforce competitive play”. The Escapist. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  28. ^ Sharkey, Mike (20 tháng 4 năm 2012). “Valve Confirms Dota 2 Will Be Free, With Twists”. GameSpy. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2012. 
  29. ^ a ă Dota Team (1 tháng 6 năm 2012). “Introducing the Dota Store”. Dota 2 Official Blog. Valve Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2013. 
  30. ^ Stapleton, Dan (1 tháng 6 năm 2012). “Valve: We Won't Charge for Dota 2 Heroes”. GameSpy. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2012. 
  31. ^ “Perfect World and Valve Announce Exclusive Rights for Perfect World to Operate Dota 2 in Mainland China” (Thông cáo báo chí). Perfect World. 19 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  32. ^ “Nexon and Valve Partner to Launch Dota 2 in Korea and Japan” (Thông cáo báo chí). Business Wire. 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  33. ^ “Dota 2 Beta officially ends”. 9 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  34. ^ Dota 2. Game Rankings. 16 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2013. 
  35. ^ Dota 2. Metacritic. 16 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2013. 
  36. ^ “Dota 2 review”. Edge Magazine UK. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  37. ^ Smith, Quintin (16 tháng 7 năm 2013). “Dota 2 review”. Eurogamer. 
  38. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên GIReview
  39. ^ Gaston, Martin (19 tháng 7 năm 2013). “Dota 2 Review”. GameSpot. 
  40. ^ Cameron, Phill (24 tháng 7 năm 2013). “Dota 2 Review”. IGN. 
  41. ^ Thursten, Chris (7 tháng 8 năm 2013). “Dota 2 review”. PC Gamer. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2013. 
  42. ^ McCormick, Rich (26 tháng 7 năm 2013). “Dota 2 Review”. VideoGamer.com. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013. 
  43. ^ a ă MacDonald, Keza (23 tháng 8 năm 2011). “IGN People's Choice Award: And The Winner Is...”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  44. ^ “E-Sport of the year: Dota 2”. PC Gamer. 29 tháng 12 năm 2013. 
  45. ^ “Best PC Game”. Game Trailers. 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013. 
  46. ^ Connors, Cody; Rom, Kim (5 tháng 1 năm 2014). “2013 onGamers Esports Industry Awards”. onGamers. 
  47. ^ “Best PC Strategy & Tactics Game”. IGN. 9 tháng 1 năm 2014. 
  48. ^ “Best PC Multiplayer Game”. IGN. 9 tháng 1 năm 2014. 
  49. ^ a ă â “Game Informer Best Of 2013 Awards”. IGN. 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2014. 
  50. ^ PC Gamer (11 tháng 12 năm 2011). “The PC Gamer 2012 Game of the Year nominees”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2013. 
  51. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PCG
  52. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Gr
  53. ^ Walbridge, Michael (12 tháng 6 năm 2008). “Analysis: Defense of the Ancients – An Underground Revolution”. Gamasutra. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2012. 
  54. ^ Reilly, Jim (1 tháng 8 năm 2011). “Valve Goes Big with Dota 2 Tournament”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  55. ^ Vore, Bryan (10 tháng 5 năm 2012). “Valve Announces International Dota 2 Championships 2012”. Game Informer. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2012. 
  56. ^ Strisland, Jonas (25 tháng 10 năm 2011). “ESWC: DotA 2 Final”. Cadred. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2012. 
  57. ^ “DreamHack Corsair Vengeance Dota 2 Championship”. DreamHack. 2 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2012. 
  58. ^ Macdonald, Stuart (7 tháng 1 năm 2012). “PGT outlines best paying games of 2011”. SK Gaming. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2012. 
  59. ^ Hanten, Ulrich (tháng 12 năm 2012). “WCG 2012: DotA and Dota 2 groups drawn”. Gosu Gamers. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  60. ^ Savage, Phil (28 tháng 1 năm 2013). “ESL announce the largest independent Dota 2 competition so far”. PC Gamer. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  61. ^ “2011 Dota 2 Championships”. 21 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013. 
  62. ^ “ALLIANCE WINS ALLIANCE WINS”. 11 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013. 
  63. ^ “Alliance are your TI3 champions !”. 11 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013. 
  64. ^ “The International - Compendium”. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]