Germany's Next Topmodel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Germany's Next Topmodel
Logo GNTM.jpg
Logo chính thức của chương trình
Thể loại Truyền hình thực tế
Sáng lập Tyra Banks
Dẫn chương trình Heidi Klum
Giám khảo

Heidi Klum (1-)
Peyman Amin (1-)
Rolf Scheider (3-)
Armin Morbach (1)
Boris Entrup (2)
Bruce Darnell (1–2)

Nhạc chủ đề The Notorious B.I.G - "Nasty Girl" (1)
Gia Farrell - "Hit Me Up" (2)
Seal - "Amazing" (3)
Britney Spears - "Circus" (4)
Quốc gia Flag of Germany.svg Đức
Ngôn ngữ tiếng Đức
Số mùa 4
Số tập 39 (+)
Sản xuất
Nhà sản xuất Tresor TV
Bố trí camera Nhiều góc máy
Thời lượng 60-100 phút
Trình chiếu
Kênh trình chiếu ProSieben
Định dạng hình ảnh PAL
Định dạng âm thanh Dolby Digital
Phát sóng 25/01/2006 – hiện tại
Thông tin khác
Chương trình liên quan America's Next Top Model
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

Germany's Next Topmodel là chương trình truyền hình thực tế do Đức sản xuất dựa trên chương trình America's Next Top Model (Mỹ) của cựu siêu mẫu Tyra Banks. Chương trình là một cuộc thi tìm kiếm người mẫu, do siêu mẫu Heidi Klum dẫn chương trình đồng thơi là giám khảo chính và giám đốc sản xuất. Chương trình có liên kết với công ty quản lý người mẫu IMG Models.

IMG hiện đang phát triển chương trình này thành một trò chơi điện tử trên hệ máy Nintendo DS và trên máy tính.[1]

Thí sinh về nhì America's Next Top Model, Mùa thi 4, Kahlen Rondot, được chọn làm người mẫu chính trong logo của Germany's Next Topmodel.[2]

Định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi mùa thi của Germany's Next Topmodel gồm tự 10 đến 17 tập phim với 12-19 thí sinh tham dự. Qua mỗi tập (như phiên bản gốc), các thí sinh lần lượt bị loại cho đến khi tìm ra người chiến thắng cuối cùng; tuy nhiên, đôi khi cũng có trường hợp loại hai hoặc ba thí sinh trong cùng một tập.

Phần thay đổi vẻ ngoài cho thí sinh được thực hiện từ giai đoạn đầu của chương trình, thường sau khi có một hoặc hai thí sinh bị loại.

IMG đã kí hợp đồng với những thí sinh chiến thắng trong các mùa thi trước: Lena Gercke đến từ Marburg, Hessen; Barbara Meier đến từ Amberg, Bayern (Bavaria) và Jenny Hof từ Rodgau, Hessen. Giám khảo Peyman Armin đã nhấn mạnh rằng Lena Gercke có đủ tiêu chuẩn của người mẫu quảng cáo, Meier có điểm mạnh ở việc tạo dáng chụp ảnh và Hof thì rất điêu luyện trên sàn diễn.

Khác biệt so với GNTM[sửa | sửa mã nguồn]

Heidi Klum, người dẫn chương trình của Germany's Next Topmodel

Trừ mùa thi 12, America's Next Top Model bắt đầu hành trình với khoảng 30 thí sinh và sau đó chỉ chọn ra 10-14 người vào vòng thi chính thức, trong khi Germany's Next Topmodel tạo điểm nổi với 100 ứng viên (mùa 1, 2) và 120 (mùa 3).

Phần thử thách trước hội đồng giám khảo America's Next Top Model bị thay thế gần như hoàn toàn bằng phần bước đi trong bản Đức.

Về phần loại thí sinh, người dẫn chương trình Tyra Banks (America's Next Top Model) lần lượt đọc tên và trao bức ảnh cho thí sinh theo thứ tự xuất sắc, một trong hai thí sinh cuối sẽ bị loại - trái ngược với GNTM, thứ tự gọi tên thí sinh không phản ánh độ xuất sắc của bức ảnh trong tuần. Ngoài ra, từng các thí sinh riêng lẻ phải bước vào phòng kín và nhận kết quả từ hội đồng giám khảo. Thí sinh có thể bị loại ở bất kì vị trí gọi tên nào.

Khi chương trình chỉ còn 5-6 thí sinh, thì ở phiên bản gốc có sự chuyển đổi địa điểm ghi hình sang duy nhất một quốc gia nước ngoài, trong khi ở Đức số lượng quốc gia nước ngoài thay đổi: mùa thi đầu đến 2 nơi, mùa thi hai đến 4 nơi và mùa thi ba đến 5 quốc gia riêng biệt.

Trong America's Next Top Model hai thí sinh cuối cùng sẽ tranh tài trong một chương trình biểu diễn thời trang và người chiến thắng sẽ do hội đồng giám khảo cân nhắc. Còn trong Germany's Next Topmodel, ba thí sinh cuối sẽ tranh tài cùng nhau trên sàn diễn và trong bức ảnh cuối trước đông đảo khán giả ở Köln, Đức trước khi thông tin người chiến thắng được tiết lộ. Chương trình cuối được ghi hình vào buổi trưa và biên tập trước khi phát sóng.

Simply the Best: Die unterhaltsamsten Topmodel-Kandidatinnen[sửa | sửa mã nguồn]

Các thí sinh

Ngày 07 tháng 07 2008, một chương trình đặc biệt mang tên Simply the Best lên sóng để thăm dò ý kiến khán giả và xếp hạng 10 thí sinh được yêu thích nhật.

  • 10: Micaela Schäfer với bức ảnh khoả thân trước khi tham gia chương trình, đã phá lệ mang điện thoại theo khi tham gia chương trình
  • 9: Enyerlina Sanchez vì nói xấu thí sinh khác, thị uy trong chương trình
  • 8: Jennifer Wanderer vì giọng
  • 7: Luise Mikulla vì hay đau yếu
  • 6: Denise Dahinten vì câu nói để đời "Ohne Tasche keine Competition" (Không giải thưởng, không đi thi) và vì cô vụng về
  • 5: Anja Platzer, bước đi quá xấu
  • 4: Gisele Oppermann vì giọng the thé, vẻ gợi cảm, lúc khóc...
  • 3: Fiona Erdmann, bị chim "làm bậy" lên đầu, nói xấu người khác, nhiều chuyện mọi lúc mọi nơi
  • 2: Gina-Lisa Lohfink, vì hơi cá tính, và vì câu nói độc quyền "Zack die Bohne"
  • 1: Lena Gercke, Barbara MeierJenny Hof, là người chiến thắng

Các mùa thi[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng màu

   Người chiến thắng

   Người về nhì

   Người về ba

Mùa thi Phát sóng Người chiến thắng Các thí sinh khác
(theo thứ tự bị loại)
Số lượng Điểm đến quốc tế
Mùa 1 25/01, 2006

   Lena Gercke

   Yvonne Schröder

   Jennifer Wanderer

Andrea Lichtenberg, Anne Mühlmeier, Celine Roscheck (bỏ cuộc), Rahel Krüger, Micaela Schäfer, Luise Mikulla, Charlotte Offeney, Lena Meier, Janina Ordmann 12 New York & Los Angeles,
Mỹ Hoa Kỳ
Paris, Pháp Pháp
Rotterdam,
Hà Lan Hà Lan
Mùa 2 01/03, 2007

   Barbara Meier

   Anni Wendler

   Hana Nitsche

Janine Mackenroth, Antje Pötke, Enyerlina Sanchez, Janina-Katharina Küpper, Alla Kosovan, Denise Dahinten, Aneta Tober, Tonia Michaely, Milla Gräfin von Krockow, Anja Platzer, Mandy Graff, Fiona Erdmann 15 St. Moritz,
Thụy Sĩ Thụy Sĩ
Paris, Pháp Pháp
Cape Town, Nam Phi Cộng hòa Nam Phi
Bangkok,
Thái Lan Thái Lan
Los Angeles,
MỹHoa Kỳ
Lisbon,
Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha
Mùa 3 28/02, 2008

   Jennifer Hof

   Janina Schmidt

   Christina Leibold

Rubina Radwanski, Aisha Grone, Sandra Korte, Aline Tausch, Tainá Santos Silva, Elena Rotter, Katharina Yvonne Harms, Gina-Lisa Lohfink, Bianca Schumacher, Sophia Maus, Ana Vanessa Hegelmaier (bỏ cuộc), Sarah Knappik, Raquel Alvarez, Gisele Oppermann, Wanda Badwal, Carolin Ruppert 19 Barcelona, Tây Ban Nha Tây Ban Nha
Salzburg,
Áo Áo
New York & Los Angeles,
Mỹ Hoa Kỳ
Paris, Pháp Pháp
Tel Aviv,
Israel Israel
Sydney & Melbourne,
Australia Úc
Mùa 4 12/02, 2009

   Sara Nuru

   Mandy Bork

   Marie Nasemann

Olivia Bermann, Johanna Popp, Daphne Braun, Tessa Bergmeier, Dana Franke, Aline Bauer, Tamara Busch, Stefanie Theissing, Katrina Scharinger, Larissa Marolt, Ira Meindl, Sarina Nowak, Maria Beckmann, Jessica Motzkus 17 Los Angeles, Las Vegas, Miami, Honolulu, Hawaii, New York,
Mỹ Hoa Kỳ
Singapore, Singapore
Mùa 9 06/02, 2014

   Stefanie Giesinger

   Jolina Fust

   Ivana Teklic

Jill Schmitz, Lisa Seibert, Fata Hasonovic (không có visa vào Mỹ), Ina Barták (bỏ), Laura Hass (bỏ), Pauline Cottin (bỏ), Franziska Wimmer, Laura Kristen, Emma Kahlert, Antonia Balzer, Simona Hartl, Jana Heinisch, Sainabou Sosseh, Lisa Gelbrich, Sarah Weinfurter, Anna Wilken (bỏ), Samantha Brock, Nancy Nagel, Karlin Obiango, Aminata Sanogo, Nathalie Volk, Betty Taube 25 Singapore
Singapore
Hoa Kỳ
Los Angeles / Salt Lake City / New York
Pháp
Paris
Maldives
Malé

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]