Họ Cá đuôi gai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Cá đuôi gai
Acanthurussohal-ArabischerDoktor.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Phân bộ (subordo) Acanthuroidei
Họ (familia) Acanthuridae
Chi

Họ Cá đuôi gai (Acanthuridae) là một họ cá thuộc bộ Cá vược. Họ này có khoảng 80 loài thuộc sáu chi, và tất cả đều sống ở các vùng nhiệt đới thuộc các đại dương, thường là xung quanh các rạn san hô. Nhiều loài có màu sắc tươi sáng và xuất hiện phổ biến trong các hồ cá cảnh.

Đặc điểm riêng có của họ Cá đuôi gai là một hoặc nhiều cái gai trông giống như con dao mổ và rất sắc nhọn ở trên cả hai mặt của đuôi cá. Cá có vây lưng, vây hậu mônvây đuôi lớn, trải dài gần hết chiều dài cơ thể. Mõm cá nhỏ và có một hàng răng dùng để ăn tảo biển.[1]

Thỉnh thoảng cá đuôi gai tìm thức ăn một mình nhưng thường thì chúng di chuyển và kiếm ăn thành từng đàn. Người ta cho rằng đi kiếm ăn theo đàn là một cơ chế giúp cá vượt qua sự chống trả mãnh liệt của những con "cá trinh nữ" thuộc họ Cá thia, vốn luôn tìm cách bảo vệ các mảng tảo biển trên các rạn san hô.[2]

Đa số các loài thuộc họ Cá đuôi gai có kích cỡ tương đối nhỏ với chiều dài cơ thể tối đa là 15–40 cm. Tuy nhiên, một số thành viên của các chi Acanthurus, Prionurus và đa số thành viên của chi Naso có thể to lớn hơn, trong đó loài Naso annulatus có thể đạt tới 1 m (lớn nhất trong họ). Do những loài cá này tăng trưởng nhanh nên cần phải kiểm tra kích cỡ trưởng thành trung bình và sự phù hợp của cá trước khi đưa cá vào hồ cá cảnh.

Danh sách loài[sửa | sửa mã nguồn]

Acanthurus olivaceus đang được hai con Labroides phthirophagus làm vệ sinh.
Paracanthurus hepatus trong hồ cá cảnh

Khung thời gian tiến hoá các chi[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ Đệ tứ Kỷ Neogen Kỷ Paleogen Thế Holocen Thế Pleistocen Plio. Thế Miocen Thế Oligocen Thế Eocen Thế Paleocen Naso Acanthurus Kỷ Đệ tứ Kỷ Neogen Kỷ Paleogen Thế Holocen Thế Pleistocen Plio. Thế Miocen Thế Oligocen Thế Eocen Thế Paleocen

Từ nguyên và lịch sử phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của họ cá này xuất phát từ các từ akanthaoura trong tiếng Hi Lạp, tạm dịch là "gai" và "đuôi". Điều này ám chỉ đặc điểm dễ nhận ra của họ Cá đuôi gai, đó là cái "dao mổ" ở đuôi cá.[1]

Vào đầu thập niên 1900, họ cá này được gọi là Hepatidae.[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2007). "Acanthuridae" trên FishBase. Phiên bản tháng 2 năm 2007.
  2. ^ Alevizon, W. S. (1976). “Mixed Schooling and Its Possible Significance in a Tropical Western Atlantic Parrotfish and Surgeonfish”. Copeia (American Society of Ichthyologists and Herpetologists (ASIH)) 1976 (4): 797–798. 
  3. ^ Seale, Alvin (1909). “New Species of Philippine Fishes”. Philippine Journal of Science (Bureau of Science in Manila) 4 (6): 491–543. 

Tham khảo chung[sửa | sửa mã nguồn]