Kamen Rider (loạt phim)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tất cả các Kamen Rider chính, từ Kamen Rider 1 đến Kamen Rider OOO, cùng với Kamen Rider New Den-O trong OOO, Den-O, All Riders: Let's Go Kamen Riders.

Bộ phim Kamen Rider (仮面ライダーシ Kamen Raidā) ra mắt phần đầu vào năm 1971 với cốt truyện xoay quanh anh chàng sinh viên Takeshi Hongo truy lùng và tiêu diệt các sinh vật xấu xa chuyên gây hại cho mọi người. Qua nhiều năm loạt phim trở nên ăn khách và được phát hàng tuần trên truyền hình cũng như được chiếu ở các rạp phim. Sức ảnh hưởng của loạt phim tác đông lên văn hóa như việc nhà thiên văn học Akimasa Nakamura đã đặt tên cho hai tiểu hành tinh được ông phát hiện là 12408 Fujioka12796 Kamenrider dựa theo loạt phim Kamen Raider 1.

Lịch sử của bộ phim[sửa | sửa mã nguồn]

Nihongo.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Nhật Bản.

Thời kỳ Chiêu Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Loạt phim Kamen Rider đầu tiên có tên là "Masked Hero Project", đạo diễn bởi Toru Hirayama (平山 亨, Hirayama Tōru), ông đã trải qua gần 5 năm làm việc để tìm hiểu và thiết kế các nhân vật cho bộ phim. Trong năm 1969, Nhà viết truyện manga Shotaro Ishinomori thuộc thể loại Tokusatsu đã hợp tác với Hirayama để viết kịch bản Skull Man manga cho loạt phim "Masked Hero Project". Sự khởi đầu của bộ phim đã bị các nhà phê bình kịch liệt về tính bạo lực cũng như không mang nội dung rõ ràng. Sau đó bộ phim đã được chỉnh sửa và thiết kế mới nhân vật đổi tên là "Kamen Raider", phim với sự xuất hiên của các "siêu nhân dế" và trở thành phiên bản đầu tiên của Kamen Rider.

Phần tiếp theo của Kamen Rider được phát hành vào 3 tháng 4 năm 1971 tiếp tục bị đánh giá thấp và đứng bên bờ vực bị hủy bỏ. Trong thời gian quay phim đến tập 10 của phần, diễn viên Fujioka Hiroshi đã bị tai nạn xe mô tô trong một pha mạo hiểm và gãy hai chân. Sau đó anh ta xuất hiện ngày càng ít cho đến tập 13, khi Ichimonji Hayato được đưa vào để thay thế. Đến tập 52 thì Fujioka Hiroshi quay lại vai diễn của mình, lúc này Ichimonji Hayato đã trở thành ngôi sao của loạt phim Kamen Rider 2, còn Fujioka Hiroshi một lần nữa được nhận vai chính trong tập 53 của loạt phim. Cả hai phần Kamen Rider 1 và 2 đã lần lược xuất hiện trong chương trình Shōwa era của truyền hình Nhật. Tiếp tục vào tháng 4 năm 1971 đến tháng 1 năm 1976, bộ phim phát triển với việc nâng cấp trang phục cho các nhân vật với các tính năng mới cũng như sức mạnh mới, điển hình là nhân vật Tobei Tachibana (立花 藤兵衛, Tachibana Tōbee).

Sau 4 năm gián đoạn, bộ phim trở lại với các buổi phát sóng trên TV vào tháng 10 năm 1979 trong thời gian 2 năm, vai Tachibana được thay thế với nhân vật mới là Genjiro Tani (谷 源次郎, Tani Genjirō). Tiếp theo vào năm 1984, Kamen Rider ZX được phát hành kỷ niệm lần thứ 10 của bộ phim mang tên "Kamen Riders All Together" và là phiên bản cuối cùng của đạo diễn Hirayama.

Kamen Rider BLACK xuất hiện như là loạt phim mới nối tiếp phiên bản tiền nhiệm Kamen Rider. Kamen Rider BLACK trình diện với phần Kamen Rider BLACK RX đã được American hóa. Đoạn cuối của BLACK RX được thể hiện với chi tiết sự quay lại của 10 Rider để giúp BLACK RX tiêu diệt đế chế Crisis Empire. Và đây là lần cuối các Rider thuộc thế hệ của Shōwa era xuất hiện trong bộ phim. Kamen Rider BLACK RX đã trở thành show phim về Kamen Rider cuối cùng của chương trình Shōwa era. Và tại thời điểm này bắt đầu chương trình mới với tên Heisei era.

Thời kỳ Bình Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Vắng mặt hoàn toàn trên TV vào năm 1990, Kamen Rider vẫn duy trì các chương trình biểu diễn chính và phát hành các đĩa CD phần 7 của bộ phim mang tên Shin: Kamen Rider Prologue và Kamen Rider J xuất bản vào năm 1992, 1994. Các phần trên được các fan hâm mộ phân loại như là phần hay nhất của bộ phim thuộc chương trình Shōwa era. Vào tháng 5 năm 1999, hãng phim Toei thông báo một dự án mới mang tên Kamen Rider Kuuga, dự án đã là một phần tái sinh của bộ phim với phần lớn công việc thuộc về nhà viết truyện Ishinomori từ năm 1997; dự án được hoạch định kỷ niệm lần thứ 30 của bộ phim. Tuy nhiên Ishinomori đã mất trước khi khi Kamen Rider Kuuga trở nên thành công. Trong năm 1999, phần Kamen Rider Kuuga được công khai trên tạp chí quảng cáo và các buổi phát thanh. Vào 30 tháng 1 năm 2000, Kuuga được đánh giá cao qua tập phim Kamen Rider Agito được đăng làm 3 kỳ là Agito, Gills và G3. Tập phim Agilto có phong cách mới với nhạc nền kết thúc cho các cảnh quay tột đỉnh thay vì danh sách tên các nhân vật và diễn viên như các phần trước đó.

Phần 3 của bộ phim trong chương trình Heisei era là Kamen Rider Ryuki đã sử dụng ý tưởng nhóm 13 Rider, phần Ryuki đã tạo nên điểm mới cho bộ phim. Tuy nhiên kết quả lại thấp hơn sự mong đợi, nhưng loạt phim cũng đã tạo nên ý tưởng cho các phần tiếp theo của bộ phim. Ngoài ra Kamen Rider Ryuki còn có các sản phẩm vũ khí giáp mới làm nền cho phần tiếp theo là Kamen Rider 555 tiếp tục với các vũ khí giáp mạnh hơn và gọn nhẹ hơn.

Phần 5 và 6 của bộ phim thuộc chương trình Heisei đã gây tai tiếng cho bộ phim sau những vấn đề về cảnh quay. Kamen Rider Blade trở thành thất bại thứ 2 của bộ phim Kamen Rider với hình ảnh các loại vũ khí giáp ngèo nàn. Nói một chút về bộ phim, các Rider sử dụng các thẻ Undead để tạo nên các tuyệt chiêu với các mức năng lượng khác nhau, và số lượng thẻ thì càng lúc càng trở nên quá nhiều biến hình ảnh các Rider như là máy ATM. Trong tiến trình làm phim, người viết kịch bản chính và biên tập viên phát họa cho phim đã linh hoạt cho phép các cựu thành viên viết kịch bản cho những phần trước tham gia vào loạt phim này. Đến phần 6 là Kamen Rider Hibiki lại tiếp tục gây thất bại nhiều hơn và trở thành loạt phim gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử của bộ phim, cũng như phần Blade, một dàn đạo diễn và đội ngũ viết kịch bản cũng được gọi vào thiết kế cho loạt cảnh. Tuy hai phần của bộ phim giới thiệu một nền mới với cái nhìn khác biệt, ngoài ra còn có các vũ khí giáp mới nhưng chẳng đáp ứng được gì nhiều. Phần 5 và 6 đã phá vỡ mắt xích của bộ phim và trở thành một thất bại lớn.Nhưng đây là Kamen Rider nhìn chửng chạc và rất đáng noi gương,âm nhạc phim này thì hay,không cần bài hát,chỉ cần nhạc nền là quá hay.Chỉ có từ tập 40 trở đi là thay bằng bài hát.Kamen Rider Hibiki không phải đơn giản là vô tình có sức mạnh bá đạo mà là phải rèn luyện từ nhỏ,khổ luyện nghìn lần mới có thể thành Kamen Rider được.Kamen Rider Hibiki đưa người xem về thế giới ma quỷ cổ xưa của người Nhật,1 nét văn hóa được đưa lên màn ảnh nhỏ,Hibiki là seri không màu mè từ xe đến cách đánh,mang nhiều ý nghĩa nhân văn lắm đó!

Sau đó vào năm 2005, Kamen Rider The First được ra mắt. Phần này của bộ phim pha trộn giữa manga và nguyên bản của loạt phim trên tivi. Các nhân vật đa dạng từ các phần trước của bộ phim được luân phiên thay đổi để xuất hiện vừa vặn trong thời gian của phim. Masay Kikawada tham diễn cho Takeshi Hogo và Hassei Takano tham diễn cho Hayato Ichimonji.

Trong năm 2006, phần 7 Kamen Rider Kabuto ra mắt và là loạt phim kỷ niệm lần thứ 35 của bộ phim trở thành show thứ nhất trong chương trình Heisei era với tên thương mại là "Rider Kick". Loạt phim mang lại nhiều quy tắt kế thừa của Kamen Rider với thiết kế nhân vật mang dáng dấp côn trùng. Những nhân vật Rider chính như Kabuto, Gatack, TheBee, Sasword, Drake, Kick Hopper và Punch Hopper.

Trong năm 2007, Kamen Rider Den-O, loạt phim thứ 8 của Kamen Rider giới thiệu 1 Kamen Rider hoàn toàn thiếu tự tin. Loạt phim lần đầu tiên thể hiện kỹ thuật máy móc với loạt đạn xuyên thời gian. Phần 8 này chỉ có 2 Rider là Den-O và Zeronos, nhưng họ có nhiều dạng biến hình phức tạp được chuyển đổi qua lại giống với BLACK RX, Kuuga, và Agito. Song song với sự nổi tiếng của Den-O, phần tiếp theo được ra mắt vào năm 2008 với tên Kamen Rider Kiva tại các rạp chiếu bóng từ 12 tháng 4 năm 2008. Thêm vào đó, một phiên bản hoạt hình cũng được xuất bản thăm dò với tựa đề Imagin Anime mang phong cách biếm họa các nhân vật tương phản với Den-O và Zeronos. Ngoài ra còn có Kamen Rider The Next được phát triển từ Kamen Rider The First với nền tảng những sự kiện của Kamen Rider V3. Kazuki thể hiện với Shiro Kazami trong Kamen Rider V3. Kikawada và Takano thể hiện lại với các vai Hongo trong Kamen Rider 1 và Ichimonji trong Kamen Rider 2.

Trong năm 2008, Kamen Rider Kiva, phần thứ 9 của bộ phim được giới thiệu với chủ đề phim kinh dị và tận dụng công nghệ thứ hai Castle Doran và sự biến đổi đa dạng của Rider. Phần Kiva cũng có mối liên hệ về kiểu dáng và các pha mạo hiểm với Rider năm 1986, trong đó là hệ thống IXA.

Sơ lược về bộ phim[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dầu mỗi phần trong bộ phim đều khác nhau, nhưng đều chia sẻ các đặc điểm chung. Tất cả đều tập trung vào đề tài 1 chàng trai trẻ biến hóa thành Kamen Rider để chiến đấu chống lại hàng tá quái vật khác nhau, nguồn gốc của tổ chức đặc biệt Kamen Rider. Như một chuỗi của tiến trình, những Rider thường được học hỏi để hiểu biết thêm về các quái vật, các Kamen Rider khác hay nguồn gốc về năng lượng của chính anh ta. Các Kamen Rider thuở đầu thường có hình dạng như châu chấu "dế", các pha hành động của các Rider thường chỉ diễn xuất hai lần trong một cảnh. Thường là sự xuất hiện của các Rider máy móc đầu tiên và tiếp theo là những chiếc mô tô như là những phần không thể thiếu trong bộ phim. Các Rider cũng thường khoác khăn choàng cùng với bộ trang phục của họ, nhưng những yếu tố này đã được lượt bỏ sau đó trong phần Kamen Rider BLACK.

Một nét tiêu biểu được chia sẻ giữa các Kamen Rider là khả năng biến đổi của họ để trở thành những hình dạng mạnh hơn. Lần nâng cấp năng lượng thứ nhất của các Rider sử dụng các khẩu hiệu như tên của các nhân vật. Đến phần Kamen Rider BLACK RX thì có nhiều dạng biến đổi phức tạp cho một Rider như Roborider và Biorider. Sau đó, mỗi cái tên của các Kamen Rider trong chương trình Heisei có thêm ít nhất một hình dạng, với Kamen Rider Kuuga thì có đến 11 mức.

Tất cả các Rider thuộc chương trình Shōwa era đạt các hình dạng thông qua vài dạng biến đổi về thể hình của họ. Tuyệt chiêu của các Rider thường chỉ được dùng một lần với các thế hệ Rider của Shōwa era. Đến thế hệ Heisei era thì các tuyệt chiêu trở nên đa dạng hơn. Ngoài ra, các Kamen Rider thuở đầu thường chỉ hướng đến công bằnghòa bình cho xã hội thì một số lượng lớn Kamen Rider thuộc thế hệ Heisei đã hướng đến các lý do riêng tư như sự tham lam ích kỉ, các mối thù riêng và sự thích thú của các trận chiến cá nhân. Từ nguyên nhân này, các Kamen Rider đã mất đi sự nhiệt huyết cho các cuộc chiến giành lấy sự công bằng cho mọi người.

Đòn kết liễu của Rider[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến về kỹ thuật làm phim giữa các phần của Kamen Rider còn sót lại những khẩu hiệu như "Rider Kick" trở nên nổi tiếng như là dấu ấn chiêu thức cho các Kamen Rider. Mặc dù không có Kamen Rider nào thuộc thế hệ Heisei trước Kamen Rider Kabuto có đòn kết liễu mang tên Rider Kick, nhưng khầu hiệu vẫn đính kèm cho từng phần của phim Kamen Rider. Ngoài ra còn các khẩu hiệu khác như Rider Chop and Rider Punch.

Các phần của bộ phim[sửa | sửa mã nguồn]

Các phần trên TV[sửa | sửa mã nguồn]

Kamen Rider (仮面ライダー, Kamen Raidā)
Kamen Rider đã là tựa phim trong phần thứ nhất của bộ phim, phát hành từ năm 1971 đến 1973, phần một chứa các cảnh nền vẫn được sử dụng cho các phiên bản sau này. Chuỗi phim theo sát các trận chiến của hai Kamen Rider đầu tiên chống lại Shocker và Gelshocker. Chuỗi phim với 98 tập và là chuỗi phim dài nhất cho đến hôm nay.
Kamen Rider V3 (仮面ライダーV3, Kamen Raidā Buisurī)
Ra mắt từ 1973 đến 1974, loạt phim với 52 tập theo sát Shiro Kazami trong hành trình truy lùng trả thù nhóm tội phạm đã giết hại gia đình anh. Sau đó Kamen Rider thứ 4 xuất hiện là Riderman tạo thành nhóm Kamen Rider với 4 thành viên. Các thành viên của nhóm đều xuất hiện lần lượt để giúp đỡ Kazami.
Kamen Rider X (仮面ライダーX, Kamen Raidā Ekkusu)
Loạt phim ra mắt vào năm 1974 với 35 tập. Keisuke Jin và cha anh ta Kentaro Jin bị tấn công bởi thế lực bóng tối, Keisuke và Kentaro bị thương nặng trong trận chiến, nhưng trước khi Kentaro chết, ông ta đã biến đổi con trai ông ta thành Kamen Rider X. Nhiều quái vật với hình dáng thần thoại Hy Lạp và các hình dáng quái thú cũng xuất hiện trong phần này.
Kamen Rider Amazon (仮面ライダーアマゾン, Kamen Raidā Amazon)
Ra mắt từ năm 1974 đến 1975 với 24 tập, và là loạt phim ngắn nhất cho đến hôm nay. Daisuke Yamamoto, một đứa trẻ mồ côi lạc trong rừng Amazon lớn lên trong một bộ tộc Amazon và hưởng một cuộc sống hòa bình cho đến khi bộ tộc của anh ta bị tấn công bởi Gorgos. Trước khi chết, trưởng bộ lạc đã biến Daisuke thành một Kamen Rider Amazon. Đây là Kamen Rider đầu tiên không sử dụng thắt lưng biến đổi. Loạt phim là dạng đầu tiên không có sự xuất hiện của các Kamen Rider trước đó, mặc dù Kamen Rider Amazon sẽ gặp các Rider cũ trong phần tiếp theo.
Kamen Rider Stronger (仮面ライダーストロンガー, Kamen Raidā Sutorongā)
Ra mắt vào năm 1975, phần này được mong đợi như là loạt Kamen Rider cuối cùng với 39 tập. Chàng thanh niên Shigeru Jou gia nhập với Black Satan sau tội ác của người bạn thân và người thầy. Được hiểu như tổ chức của những kẻ phạm tội, anh ta tự cho phép mình trải qua một quá trình biến đổi thành Kamen Rider Stronger. Sau đó, Black Satan bị tiêu diệt và một nhóm mới xuất hiện là Delza trở thành kẻ thù của Jou. Rider Stronger Jou kết hợp với Electro Wave Humen Tackle là một chiến binh nữ, người sau đó đã hy sinh chính cô ta để cứu Jou từ sức mạnh của thế lực thù địch. Phần này cũng là phần đầu tiên có sự đổi mới cho nhân vật chính.
Kamen Rider (Skyrider) (仮面ライダー(スカイライダー), Kamen Raidā (Sukairaidā))
Được ra mắt với 54 tập từ năm 1979 đến năm 1980, Kamen Rider (Skyrider) đã dự định như là một phần khởi động lại cho bộ phim. Loạt phim với nhiều ý tưởng mới thoát khỏi sự lạc hậu với các diễn viên thâm niên để tiến tới dàn diễn viên mới đầy trẻ trung. Nhà khoa học đại tài Keitarō Shido bị tổ chức khủng bố Neo-Shocker bắt cóc với mục đích cung cấp kỹ nghệ rô bốt cho chúng. Để trốn thoát ông ta đã thuyết phục chỉ huy của Neoshocker cho phép ông ta biến đổi Hiroshi Tsukaba thành 1 chiến binh siêu hạng cho Neoshocker, nhưng ông ta lại biến Hiroshi thành một chiến binh Skyrider với mục đích giúp cứu thoát mình khỏi tay Neoshocker. Trong tiến trình làm phim, một dạng mới của Kamen Rider xuất hiện, Skyrider dược phát triển từ Kamen Rider Stronger để dễ phân biệt anh ta với các Kamen Rider cũ.
Kamen Rider Super-1 (仮面ライダースーパー1, Kamen Raidā Sūpā Wan)
Phát hành từ năm 1980 đến 1981, loạt phim có 48 tập. Không thể trở thành một phi hành gia, Kazuya Oki phải chịu đựng để trải qua một quá trình biến đổi cho phép anh có thể tồn tại trong không gian và được mang mật danh Super-1. Không gian nơi anh ta hoạt động bị tấn công bởi đế chế Dogma và chỉ mình anh ta thoát được. Quay lại Nhật Bản với mục đích trả thù cho các nhà khoa học; cùng với kiến thức của mình, anh ta tự biến đổi thành Kamen Rider Super-1 với kỹ năng mới được gọi là "Five Hands".
Kamen Rider BLACK (仮面ライダーBLACK, Kamen Raidā Burakku)
Ra mắt từ năm 1987 đến 1988, có 51 tập. Sau khi bị bắt cóc bởi giáo phái Gorgom vào đêm sinh nhật lần thứ 19, các anh em cùng mẹ khác cha Kotaro Minami và Nobuhiko Akizuki tham gia vào cuộc biến đổi phẫu thuật với mục tiêu trở thành ứng cử cho vị vua sáng tạo thế hệ tiếp theo phục vụ cho giáo phái Gorgom. Nhưng Kotaro đã trốn thoát trước khi bị tẩy não, với sự giúp đỡ từ cha nuôi của anh ta. Sau đó anh ta sớm quay trở lại chống trả Gorgom. Kotaro sớm tìm ra sự thật kinh khủng từ cha dượng là Gorgom đã sớm giết chết cha mẹ đẻ của anh ta. Sau đó, Kotaro với hình dạng Kamen Rider BLACK phải chiến đấu với anh trai của mình, người trở thành con át chủ bài của Gorgom, Shadow Moon.
Kamen Rider BLACK RX (仮面ライダーBLACK RX, Kamen Raidā Burakku Aru Ekkusu)
Ra mắt từ năm 1988 đến năm 1989 với 47 tập, Kamen Rider BLACK RX là phần thứ 9 và show cuối của loạt chương trình Shōwa era. Sau 5 năm từ khi Gorgom bị tiêu diệt, Minami Kotaro bị bắt cóc bởi đế chế Crisis với mục đích phục vụ cho chúng. Sau khi từ chối gia nhập với Crisis, anh ta bị xô đẩy tới không gian nơi anh ta phải chịu đựng các bức xạ mặt trời và biến đổi thành Kamen Rider BLACK RX. Loạt phim này đánh dấu sự kết thúc của loạt chương trình Shōwa era.
Kamen Rider Kuuga (仮面ライダークウガ, Kamen Raidā Kūga)
Ra mắt từ năm 2000 đến 2001 với 49 tập, đây là phần đầu tiên xuất hiện sau 11 năm vắng mặt bắt đầu cho loạt chương trình show truyền hình mới Heisei era. Yuusuke Godai tìm kiếm một tạo tác cổ xưa cho thể cho phép anh ta biến đổi thành Kamen Rider Kuuga để chiến đấu với các thế lực Grongi. Với 1100 dạng biến hình, loạt phim này có sự nâng cấp hơn các phần trước.
Kamen Rider Agito (仮面ライダーアギト, Kamen Raidā Agito)
Kamen Rider Agito ra mắt từ năm 2001 đến 2002 với 51 tập. Đây là phần đầu tiên có thêm nhân vật chính ngoài các Kamen Rider là Shouichi Tsugami, anh ta bị mất trí nhớ và sống trong một gia đình bình thường. Tsugami dưới lốt một cảnh sát với biệt danh Agito chống lại kẻ thù bí ẩn. Phim với sự tìm kiếm nguồn năng lượng bị mất và trí nhớ của Tsugami được chia làm 3 phần nhỏ là G3, Gills và Another Agito. Đây là phần cuối cùng có các dạng Rider giống như các phần trước.
Kamen Rider Ryuki (仮面ライダー龍騎, Kamen Raidā Ryūki)
Ra mắt từ năm 2002 đến năm 2003, Kamen Rider Ryuki với 50 tập có sự thay đổi quyết định về hình thái nhân vật Kamen Rider. Shinji Kido, một phóng viên trong một lần điều tra các vụ biến mất kỳ lạ của người dân đã tìm thấy một Advent Card và bị hút vào thế giới gương soi. Sau đó anh ta được cứu bởi Ren Akiyama - Kamen Rider Knight và trở thành Kamen Rider Ryuki. Shinji tham gia vào cuộc chiến của 13 Kamen Rider. Tất cả các cuộc chiến đều có những lý do khác nhau, người thắng cuộc sẽ nhận được một điều ước.
Kamen Rider 555(Faiz) (仮面ライダー555(ファイズ), Kamen Raidā Faizu)
Ra mắt từ năm 2003 đến 2004, Kamen Rider 555 có 50 tập. Một nhóm của những người tiến hóa được biết như là Orphenochs bắt đầu điều khiển cả thế giới. Thế giới bắt đầu có sự pha trộn của người Orphenochs và người bình thường. Những người Orphenochs được bảo vệ bởi một công ty được gọi là Smart Brain, đã tạo ra 3 thắt lưng mạnh nhất. Takumi Inui, một người đứng giữa hai thế lực người thường và người Orphenochs đã biến thành một Kamen Rider Faiz để cứu Mari Sonada. Với những người bạn thuộc chủng tộc Orphenochs nhưng cùng chí hướng với anh ta, loạt phim theo sau Takumi với các người bạn Orphenochs và hai Kamen Rider khác.
Kamen Rider Blade (仮面ライダー剣(ブレイド), Kamen Raidā Bureido)
Ra mắt từ năm 2004 đến 2005 với 49 tập, Kamen Rider Blade quay lại với loại biến hình bằng thẻ nhận dạng trong Kamen Ridier Ryuki. Kenzaki Kazuma trở thành một thành viên của nhóm Kamen Rider Blade. Nhiều tháng sau khi trở thành một Kamen Rider, hãng thông tấn xã của anh ta bị tấn công và gần như bị xóa sổ. Trong việc tìm kiếm nguyên nhân đằng sau vụ tấn công, Kenzaki vô ý thức trở thành một phần của cuộc chiến lớn Battle Royal của 10 ngàn năm về trước. Sau đó anh ta liên kết với 3 Kamen Rider khác, Kenzaky cuối cùng phải quyết định một việc khó khăn trong cuộc sống của anh ta và phải chọn lựa giữa hạnh phúc của bạn bè và sự an toàn cho mọi người.
Kamen Rider Hibiki (仮面ライダー響鬼(ヒビキ), Kamen Raidā Hibiki)
Ra mắt từ năm 2005 đến 2006, Kamen Rider Hibiki có 48 tập. Kamen Rider Hibiki tập trung vào 2 phần, phần thứ nhất tập trung vào câu chuyện mối quan hệ thầy trò của Adachi Asumu và Hibiki. Asumu là một chàng trai trẻ thiếu tự tin về kỹ năng và giá trị của chính mình tại những bước ngoặt quyết định của cuộc đời như khi anh ta lên trung học. Một cách tự nhiên, anh ta học cách để trở thành một người đàn ông tự tin vào chính mình. Trọng tâm thứ hai của phần Kamen Rider Hibiki là cuộc chiến giữa các Rider và con rồng Makamo, con quái vật chỉ có thể bị tiêu diệt khi sử dụng loại âm thanh biến hình thuần khiết nhất. Phim xoay quanh sự huấn luyện và biến hình của bốn Oni chính là Hibiki, Ibuki, Todoroki và Zanki. Loạt phim cũng chứa đựng tính tai hại đằng sau các cảnh bạo lực, bắt đầu đốt cháy các nguyên tắt viết kịch và đạo diễn dẫn đến việc phải sửa đổi kịch bản trầm trọng.
Kamen Rider Kabuto (仮面ライダーカブト, Kamen Raidā Kabuto)
Ra mắt từ 2006 đến 2007 với 49 tập, Kamen Rider Kabuto cho thấy sự quay lại của các nguyên tắc cơ bản của bộ phim sau nhiều năm đổi mới. Kamen Rider Kabuto xoay quanh câu chuyện của một cậu thanh niên trẻ mang tên Souji Tendou. Cậu ta được huấn luyện nhiều năm trong khi chờ đợi chiếc thắt lưng Kabuto Zecter có thể giúp anh ta trở thành Kamen Rider Kabuto. Cũng trong thời gian này, anh ta gặp nhiều kẻ thù mới và gặp gỡ các Rider khác có nguồn gốc bí ẩn, Tendou cố gắng đạt được mục tiêu của anh ta bằng mọi giá; bảo vệ Hiyori (là WORMS giả mạo hiyori thật) bằng cách tiêu diệt tất cả các kẻ thù gây hại cho cô ta. Cùng với Arate Kagami, một người bạn của anh ta trờ thành Kamen Rider Gatack sau này, cả hai cùng bảo vệ cho Hiyori cùng với nhân loại khỏi các quái vật xa lạ đến từ vụ rơi thiên thạch bảy năm về trước.
Kamen Rider Den-O (仮面ライダー電王, Kamen Raidā Den'ō)
Ra mắt từ năm 2007 đến năm 2008 với 49 tập, Kamen Rider Den-O theo sau câu chuyện của Ryotaro Nogami, một chàng trai trẻ yếu đuối luôn gặp xui xẻo, nhận ra mình là 1 singular point, người có thể tồn tại trong bất cứ điểm thời gian nào mà không bị ảnh hưởng. Khi anh ta bị chiếm hữu bởi một dạng sống từ tương lai được gọi là Imagin và buộc phải trở thành Den-O để chiến đấu với ác tính Imagin đang trở về trong thời gian năm 2007. Imagin thực hiện mong muốn của những con người có trái tim yếu đuối với cái giá phải trả là ký ức của họ, để có thể trở về quá khứ và phá huỷ hiện tại. Nogami đã bảo vệ chị gái của anh ta là Airi từ quá khứ bằng cách du hành ngược thời gian trên con tàu thời gian được gọi là Den-Liner. Trong chuyến du hành này, anh ta, Hana-cũng là 1 singular point, một chủ nhân kỳ lạ, nữ hầu bàn Naomi, và Imagin của anh ta lần lượt là những Rider với các tên: Momotaros, Urataros, Kintaros, và Ryutaros. Theo đó Yuto Sakurai xuất hiện, và là một Kamen Rider chiến đấu để bảo vệ thời gian với sự giúp đỡ của Imagin Deneb và Zero-Liner.
Kamen Rider Kiva (仮面ライダーキバ, Kamen Raidā Kiva)
Ra mắt lần thứ nhất trong năm 2008 với 48 tập. Kamen Rider Kiva xoay quanh hai nhân vật và hai cốt truyện. Thứ nhất là Wataru Kurenai người trở thành Kamen Rider Kiva để chiến đấu những con ma cà rồng với kính năng lượng được biết như các quái vật Fangire trong năm 2008. Thứ hai là cha anh ta, Otoya Kurenai,1 thần đồng vilon người có sự tương tác với Fangire và Fangire Hunters trong năm 1986 trực tiếp ảnh hưởng cuộc sống con trai ông ta.
Kamen Rider Decade(仮面ライダーディケイド, Kamen Raidā Dikeido)
Ra mắt năm 2009. Gồm 31 tập. Câu chuyện là cuộc hành trình của Tsukasa Kadoya đi qua 9 thế giới nhằm bảo vệ các thế giới khỏi sự sụp đổ khi 9 thế giới hợp lại làm một và cuộc Đại chiến Rider, với sự giúp đỡ của Kamen Rider Diend và Kuuga. Đây là seri kỉ niệm 10 năm tái xuất của Kamen Rider.
Kamen Rider Double (仮面ライダーW(ダブル) Kamen Raidā Daburu?)
Ra mắt năm 2009. Gồm 49 tập. Thành phố gió Fuuto là nơi có nhiều cánh quạt gió và mọi người sống trong yên bình. Tuy nhiên, gia đình Sonozaki bán những thiết bị giống như USB được gọi là GaiaMemory cho một số người trong Fuuto để chúng trở thành những quái vật gọi là Dopant. Lực lượng cảnh sát bất lực để ngăn cản lại Dopant. Sau cái chết của ông chủ mình, thám tử Shoutarou hợp tác với người bạn bí ẩn tên là Philip - người sở hữu Gaia Memory của riêng mình đã khám phá các vụ án liên quan đến Dopant. Với những Gaia Memory của riêng họ, Shoutarou và Philip dùng chiếc thắt lưng Double Driver henshin và hợp nhất với nhau thành Kamen Rider Double để chiến đấu với mối đe doạ Dopant và giữ an toàn cho Fuuto. Thời gian qua đi cho đến khi Philip nhận ra rằng mình đã chết và là một thành viên trong gia đình Sonozaki (tên thật là Sonozaki Raito) thì cuộc chiến với Dopant dần dần bị tổn thất nặng nề cả vật chất và tinh thần.
Kamen Rider OOO (仮面ライダーOOO(オーズ) Kamen Raidā Ōzu?)
Ra mắt năm 2010.Gồm 48 tập. Eiji Hino là một anh chàng lang thang không có tiền bạc, không có ước mơ thậm chí cả gia đình. Đến khi các quái nhân giống động vật được gọi là Greeed được hồi sinh từ 800 năm trước thì một Greeed dạng chim tên là Ankh - chỉ hồi sinh được cánh tay phải - đã trao qua Hino một cái thắt lưng và 3 miếng Core Medal để anh có thể henshin thành OOO. Lâu dần, những cuộc chiến đấu xoay quanh các Medal giúp cho Eiji và Gotou - người sống sót duy nhất của trung đội Ride Ventor khi tấn công Greeed mới hồi sinh - hiểu được quá khứ về 800 năm trước đối với các Greeed.
Kamen Rider Fourze (仮面ライダーフォーゼ Kamen Raidā Fōze?)
Được công chiếu vào ngày 04 tháng 9 năm 2011.Gồm 48 tập. Trường trung học Amanogawa là nơi xảy ra nhiều chuyện kỳ lạ... Cho đến khi nhận một học sinh mới chuyển đến "Kisaragi Gentarou" thì mọi chuyện dần được sáng tỏ. Gentarou là người luôn hết mình vì bạn bè, mong muốn của cậu là có thể kết bạn với tất cả mọi người, đầu tiên là gặp lại người bạn hồi tiểu học Yuki Jojima sau đó là Kengo Utahoshi con của nhà nghiên cứu vũ trụ đã mất mạng vì sự tranh chấp nguồn năng lượng cosmic với kẻ xấu 7 năm trước, Kengo được thừa hưởng những gì còn lại của cha mình, đó là căn cứ mặt trăng Rabbit Hatch và một số astro switch chứa những năng lượng vô hạn có thể kết nối trường học với căn cứ. Một lần tình cờ chiến đấu với Zordiat (Con người sử dụng sức mạnh quái vật được những kẻ xấu năm xưa chế tạo vào những chiếc switch) Gentarou đã biết được tất cả bí mật, về căn cứ mặt trăng, astro switch và Fourze driver. Vì sự nhiệt tình của mình Gentarou đã quyết định Henshin và trở thành Kamen Rider Fourze chống lại kẻ xấu.
Kamen Rider Wizard (仮面ライダーウィザード Kamen Raidā Wizādo?)
Loạt phim ra mắt năm 2012. Một nghi lễ huyền bí được tổ chức vào ngày nhật thực đã thả một nhóm quái vật được gọi là Phantom gây nguy hiểm cho thế giới. Haruto Sohma, người sống sót sau nghi lễ, có nhiệm vụ quan trọng từ các pháp sư. Cậu trở thành Kamen Rider Wizard chiến đấu và tiêu diệt Phantom và cứu nhân loại. Bộ phim có 53 tập.đó là bộ phim thời Heisei có nhiều tập nhất.
Kamen Rider Gaim (仮面ライダーガイム Kamen Raidā Gaimu?)
Là series Kamen Rider thứ 15 trong thời Heisei, ra mắt năm 2013. Câu chuyện kể về thành phố Zawame nằm dưới tầm ảnh hưởng của một tập đoàn khổng lồ mang tên Yggdrasil Corporation (Nhật: ユグドラシルコーポレーション Yugudorashiru Kōporēshon?), thanh niên lập nên những nhóm nhảy đường phố để quên đi thời gian. Chúng cũng sử dụng những quái vật mini đến từ những chiều không gian khác tên là Invase (Nhật: インベス Inbesu?) để tổ chức những cuộc đấu bí mật. Tuy nhiên, cánh cổng không gian cũng có thể đưa đến những quái vật lớn hơn, và Kamen Rider Gaim chính là anh hùng phải chiến đấu với chúng.
Kamen Rider Drive (仮面ライダードライブ Kamen Raidā Doraibu?)
Là series Kamen Rider thứ 16 trong thời Heisei, ra mắt năm 2014.

Các chương trình đặc biệt trên TV[sửa | sửa mã nguồn]

Shōwa era
Heisei era

Các phiên bản chiếu rạp[sửa | sửa mã nguồn]

Shōwa era
  • 1971: Go Go Kamen Rider
  • 1972: Kamen Rider Vs. Shocker
  • 1972: Kamen Rider Vs. Hell Ambassador
  • 1973: Kamen Rider V3
  • 1973: Kamen Rider V3 vs. the Destron Monsters
  • 1974: Kamen Rider X
  • 1974: Kamen Rider X: The Five Riders Vs. King Dark
  • 1975: Kamen Rider Amazon
  • 1975: Kamen Rider Stronger
  • 1980: Kamen Rider (Skyrider) | Kamen Rider: Eight Riders vs. Galaxy King
  • 1981: Kamen Rider Super-1
  • 1988: Kamen Rider BLACK: Hurry to Evil Island
  • 1988: Kamen Rider BLACK: Fear! Evil Monster Mansion
  • 1989: Kamen Rider: Stay in the World - 3-D film | 3-D theme park special
Heisei era
  • 1993: Kamen Rider ZO (1)
  • 1994: Kamen Rider J (1)
  • 1994: Kamen Rider World - 3-D theme park special
  • 2001: Kamen Rider Agito Movies and specials | Kamen Rider Agito: Project G4
  • 2002: Kamen Rider Ryuki Movies & Special | Kamen Rider Ryuki: Episode Final
  • 2003: Kamen Rider 555 Movie | Kamen Rider 555: Paradise Lost
  • 2004: Kamen Rider Blade Movies and specials | Kamen Rider Blade: Missing Ace
  • 2005: Kamen Rider Hibiki & The Seven Fighting Demons
  • 2005: Kamen Rider The First
  • 2006: Kamen Rider Kabuto: God Speed Love
  • 2007: Kamen Rider Den-O: I'm Born!
  • 2007: Kamen Rider The Next
  • 2008: Kamen Rider Den-O & Kiva: Climax Deka
  • 2008: Kamen Rider Kiva: King of the Castle in the Demon World
  • 2008: Farewell, Kamen Rider Den-O
  • 2009: Gekijouban Chou Kamen Rider Den-O & Decade: The Onigashima Warship
  • 2009: Kamen Rider Decade: All Riders vs Dai-Shocker
  • 2009: Kamen Rider W & Decade Movie Taisen 2010
  • 2010: Kamen Rider W Forever A to Z - Unmei no Gaia Memory
  • 2010: Kamen Rider × Kamen Rider × Kamen Rider The Movie: Cho-Den-O Trilogy
  • 2010: Kamen Rider × Kamen Rider OOO & W feat. Skull: Movie Taisen Core
  • 2011: Kamen Rider OOO, Kamen Rider Den-O, All Rider: Let's Go Kamen Rider
  • 2011: Kamen rider OOO Wonderful: The Shogun of The 21 Core Medal
  • 2011: Kamen Rider W x Kamen Rider Fourze x OOO: Movie War Megamax
  • 2012: Kamen Rider Fourze THE MOVIE: Space, Here We Come!
  • 2012: Kamen Rider x Super Sentai: Super Hero Taisen
  • 2012: Kamen Rider x Kamen Rider Wizard x Fourze: Movie War Ultimatum
  • 2013: Kamen Rider x Super Sentai x Space Sheriff: Super Hero Taisen Z
  • 2013: Kamen Rider Wizard & Gaim MOVIE:The Fateful Sengoku War
  • 2014: Heisei Rider vs. Showa Rider:Kamen Rider Taisen feat. Super Sentai

Các phiên bản điện ảnh V-Cinema[sửa | sửa mã nguồn]

Các phiên bản V-Cinema bắt đầu xuất hiện trong khoảng thời gian của chương trình Heisei era.

Heisei era
  • 1992: Shin Kamen Rider: Prologue
  • 1993: Kamen Rider SD - only anime adaptation
  • 1993: Ultraman vs. Kamen Rider
  • 2011: Kamen Rider W Returns
    • Kamen Rider Accel Chapter
    • Kamen Rider Eternal Chapter
Hyper Battle Videos
  • 2000: Kamen Rider Kuuga: Versus the Strong Monster Go-Jiino-Da
  • 2001: Kamen Rider Agito: Three rider TV-kun Special
  • 2002: Kamen Rider Ryuki Hyper Battle: Kamen Rider Ryuki Versus Kamen Rider Agito
  • 2003: Kamen Rider 555: The Musical
  • 2004: Kamen Rider Blade: Blade vs Blade
  • 2005: Kamen Rider Hibiki: Asumu Henshin: You can be an Oni too
  • 2006: Kamen Rider Kabuto: Birth! Gatack Hyper Form!
  • 2007: Kamen Rider Den-O: Singing, Dancing, Great Time!!
  • 2008: Kamen Rider Kiva: You Can Also be Kiva
  • 2009: Kamen Rider Decade: Protect! <The World of TV-Kun>
  • 2010: Kamen Rider W: Donburi's α/Farewell Recipe of Love
  • 2011: Kamen Rider OOO: Quiz, Dance, and Takagarooba!?
  • 2012: Kamen Rider Fourze: Rocket Drill States of Friendship
  • 2013: Kamen Rider Wizard: Showtime with the Dance Ring

Các chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các Rider trong bộ phim thuộc chương trình Shōwa era đều có hình dáng châu chấu (dế). Áo giáp với hình dáng cặp mắt to như châu chấu (dế) sớm trở thành biểu tượng đi cùng các Kamen Rider. Trong chương trình Heisei era, có sự bùng nổ các kiểu côn trùng khác và một vài sự kiện với các chủ đề về các loài động vật, các ký tự Hy Lạp, card thay đổi trang phục, và các dụng cụ âm thanh biến hình.

Shōwa era
  • Kamen Rider
    • Kamen Rider 1 - Grasshopper
    • Kamen Rider 2 - Grasshopper
  • Kamen Rider V3
    • Kamen Rider V3 (character) | Kamen Rider V3 - Dragonfly
    • Riderman - Kamen Rider V3
  • Kamen Rider X
    • Kamen Rider X - Giant water bug
  • Kamen Rider Amazon
    • Kamen Rider Amazon - Spotted monitor lizard
  • Kamen Rider Stronger
    • Kamen Rider Stronger (character) | Kamen Rider Stronger - Japanese rhinoceros beetle
    • Electro Wave Human Tackle - Ladybug
  • Kamen Rider (Skyrider) | "New" Kamen Rider
    • Skyrider (Kamen Rider) | Skyrider - Locust
  • Kamen Rider Super-1
    • Kamen Rider Super-1 (character) | Kamen Rider Super-1 - Hornet
  • Birth of the 10th! Kamen Riders All Together!!
    • Kamen Rider ZX - Longhorn beetle
  • Kamen Rider BLACK
    • Kamen Rider BLACK (character) | Kamen Rider BLACK - Grasshopper
    • Shadow Moon - Grasshopper
  • Kamen Rider BLACK RX
    • Kamen Rider BLACK RX (character) | Kamen Rider BLACK RX - Grasshopper
Heisei era
  • Shin: Kamen Rider Prologue
    • Kamen Rider Shin - Grasshopper
  • Kamen Rider ZO
    • Kamen Rider ZO - Grasshopper
  • Kamen Rider J
    • Kamen Rider J - Grasshopper
  • Kamen Rider Kuuga
    • Kamen Rider Kuuga (character) | Kamen Rider Kuuga - Stag beetle
  • Kamen Rider Agito
    • Kamen Rider Agito (character) | Kamen Rider Agito - Golden Chinese dragon | Chinese Dragon
    • Kamen Rider G3,G3-X - Kamen Rider Kuuga
    • Kamen Rider Gills - Longhorn beetle
    • Kamen Rider G4 - G-Series
    • Another Agito - Locust
  • Kamen Rider Ryuki - Knights
    • Kamen Rider Ryuki (character) | Kamen Rider Ryuki - Red Japanese dragon | Dragon
    • Kamen Rider Knight - Bat
    • Kamen Rider Scissors - Crab
    • Kamen Rider Zolda - Buffalo
    • Kamen Rider Raia - Batoidea | Ray
    • Kamen Rider Gai - Rhinoceros
    • Kamen Rider Ohja - King Cobra | King Snake
    • Kamen Rider Tiger - White Tiger
    • Kamen Rider Imperer - Antelope
    • Kamen Rider Femme - Swan
    • Kamen Rider Ryuga - Black Dragon
    • Kamen Rider Verde - Chameleon
    • Kamen Rider Odin - Phoenix (mythology) | Phoenix,Gold Eagle
    • Alternative (Kamen Rider) | Alternative Zero - Cricket (insect) | Cricket
    • Alternative (Kamen Rider) | Alternative - Cricket
    • Kamen Rider Abyss - Shark
  • Kamen Rider 555 - Greek alphabet
    • Kamen Rider Faiz - Phi (letter) | Phi/Firefly
    • Kamen Rider Kaixa - Chi (letter) | Chi
    • Kamen Rider Delta - Delta (letter) | Delta
    • Riotrooper | Riot Troopers - Omicron
    • Kamen Rider Psyga - Psi (letter) | Psi
    • Kamen Rider Orga - Omega
  • Kamen Rider Blade
    • Kamen Rider Blade (character) | Kamen Rider Blade - Hercules beetle/Spades (suit) | Spades
    • Kamen Rider Garren - Stag beetle | Prosopocoilus inclinatus/Diamonds (suit) | Diamonds
    • Kamen Rider Chalice - Elegant praying mantis (Theopropus elegans)/Hearts (suit) | Hearts
    • Kamen Rider Leangle - Spider | Araneus ventricosus/Clubs (suit) | Clubs
    • Kamen Rider Glaive - Cerberus/Ace
    • Kamen Rider Larc - Cerberus/Ace
    • Kamen Rider Lance - Cerberus/Ace
  • Kamen Rider Hibiki - Oni (folklore) | Oni
    • Kamen Rider Hibiki (character) | Kamen Rider Hibiki - Oni
    • Kamen Rider Ibuki - Oni
    • Kamen Rider Todoroki - Oni
    • Kamen Rider Zanki - Oni
    • Kamen Rider Sabaki - Oni
    • Kamen Rider Danki - Oni
    • Kamen Rider Eiki - Oni
    • Kamen Rider Shuki - Oni
    • Kiriya Henshin Form - Oni
    • Kamen Rider Gouki - Oni
    • Kamen Rider Tōki - Oni
    • Kamen Rider Shōki - Trumpet
    • Kamen Rider Banki - Oni
    • Kamen Rider Kabuki - Oni/Kabuki
    • Kamen Rider Touki- Oni/Polar Bear
    • Kamen Rider Kirameki - Oni/Shachihoko
    • Kamen Rider Nishiki - Oni/Tiger
    • Kamen Rider Habataki - Oni/Hawk
  • Kamen Rider Kabuto
    • Kamen Rider Kabuto (character) | Kamen Rider Kabuto - Japanese rhinoceros beetle
    • Kamen Rider TheBee - Wasp
    • Kamen Rider Drake - Dragonfly
    • Kamen Rider Sasword - Scorpion
    • Kamen Rider Gatack - Stag beetle
    • Kamen Rider Kick Hopper - Oriental longheaded locust | Kick Hopper
    • Kamen Rider Punch Hopper - Oriental longheaded locust | Punch Hopper
    • Kamen Rider Dark Kabuto - Japanese rhinoceros beetle
    • Kamen Rider Kabuto: God Speed Love Kamen Rider Caucasus | Kamen Rider Caucasus - Atlas Beetle | Caucasus beetle
    • Kamen Rider Kabuto: God Speed Love Kamen Rider Hercus | Kamen Rider Hercus - Hercules beetle
    • Kamen Rider Kabuto: God Speed Love Kamen Rider Ketaros | Kamen Rider Ketaros - Centaurus beetle
    • List of Kamen Rider Kabuto characters ZECT Troopers | ZECT Troopers, Shadow Troopers, Bright Troopers and Kamen Rider Kabuto: God Speed Love ZECT.2F Neo-ZECT | Neo Troopers - Ants
  • Kamen Rider Den-O
    • Kamen Rider Den-O (character) | Kamen Rider Den-O - Bullet train
      • Kamen Rider Den-O (character) Plat Form | Plat Form - Train station
      • Kamen Rider Den-O (character) Sword Form | Sword Form - Momotarō/Oni/Peach
      • Kamen Rider Den-O (character) Rod Form | Rod Form - Urashima Tarō/Sea Turtle
      • Kamen Rider Den-O (character) Axe Form | Axe Form - Kintarō/Bear
      • Kamen Rider Den-O (character) Gun Form | Gun Form -:ja:龍の子太郎 | Tatsu no Ko Tarō/Japanese dragon | Japanese Dragon
      • Kamen Rider Den-O (character) Wing Form | Wing Form - Swan Lake/Swan
      • Kamen Rider Den-O (character) Climax Form,Super Climax Form | Climax Form - Train station
      • Kamen Rider Den-O (character) Liner Form | Liner Form - Bullet train
    • Kamen Rider Zeronos - Locomotive
      • Kamen Rider Zeronos Altair Form | Altair Form - Altair/Cattle | Bull/Minamoto no Yoshitsune | Ushiwakamaru
      • Kamen Rider Zeronos Vega Form | Vega Form - Deneb/Vega/Hawk/Saito Musashibo Benkei | Benkei
      • Kamen Rider Zeronos Zero Form | Zero Form - Altair/Bull/Ushiwakamaru
    • Kamen Rider Gaoh (Kamen Rider Gaoh Gaoh Form | Gaoh Form) - Gaoh Liner | Crocodile
    • Kamen Rider Nega Den-O (Kamen Rider Nega Den-O Nega Form | Nega Form) - Negative (photography) | Negative/Momotarō/Oni/Peach | Nega Liner
    • Kamen Rider G Den-O - Guns Rider
    • Kamen Rider Yuuki(Skull and Hijack form) - Ghost Liner | Ghost Rider
  • Kamen Rider Kiva
    • Kamen Rider Kiva (character) | Kamen Rider Kiva (Kamen Rider Kiva (character) Kiva Form | Kiva Form) - Vampire
      • Kamen Rider Kiva (character) Garulu Form | Garulu Form - Werewolf
      • Kamen Rider Kiva (character) Basshaa Form | Basshaa Form - Gill-man
      • Kamen Rider Kiva (character) Dogga Form | Dogga Form - Frankenstein's monster
      • Kamen Rider Kiva (character) DoGaBaKi Form | DoGaBaKi Form - Vampire/Werewolf/Gill-man/Frankenstein's monster
      • Kamen Rider Kiva (character) Emperor Form | Emperor Form - Gold Vampire
      • Kamen Rider Kiva (character) Emperor DoGaBaKi Form - Gold Vampire and Ultimate Worm form
    • Kamen Rider Kiva (character) Emperor Form | Emperor Form - Gold Phoenix,Gold Eagle
    • Kamen Rider IXA (Kamen Rider IXA Save Mode | Save Mode/Kamen Rider IXA Burst Mode | Burst Mode/Kamen Rider IXA Rising IXA | Kamen Rider Rising IXA) - Vampire hunter/Paladin/Sun
    • Kamen Rider Rey - Yeti
    • Kamen Rider Arc - Demon
    • Kamen Rider Saga - King (chess) | Chess King/Serpent (symbolism) | Serpent
    • Kamen Rider Dark Kiva - Dark Bat | Dark Vampire
  • "Kamen Rider Decade"
    • Kamen Rider Decade,Diend(and form Complete) - Cards Rider
  • "Kamen Rider W"
    • Kamen Rider W(and form),Eternal - Memories Rider
    • Kamen Rider Core - Big Rider
    • Kamen Rider Accel - Motorider
    • Kamen Rider Skull - Ghost Rider
  • "Kamen Rider OOO"
    • Kamen Rider OOO,Birth(and form) - Medals Rider
  • "Kamen Rider Fourze"
    • Kamen Rider Fourze,Meteor(and form) - Switches Rider | Space Rider
  • "Kamen Rider Wizard"
    • Kamen Rider Wizard(and form) - Gates Rider | Phantom Rider

Các trang liên kết thêm[sửa | sửa mã nguồn]

TV Asahi[sửa | sửa mã nguồn]

Toei[sửa | sửa mã nguồn]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]