Máy rút tiền tự động

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một máy rút tiền tự động ở Nhật Bản

Máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động (còn được gọi là ATM, viết tắt của Automated Teller Machine hoặc Automatic Teller Machine trong tiếng Anh) là một thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích, và giúp khách hàng kiểm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Reg Varney sử dụng máy ATM đầu tiên năm 1967

Trên thế giới vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về người đã phát minh ra chiếc ATM. Hiện có ít nhất 7 người được cho là "cha đẻ" máy ATM, gồm: Luther George Simjian, John Shepherd-Barron, James Goodfellow, Don Wetzel, John D. White, Đỗ Đức Cường, Jairus Larson.[1][2].Khi bằng phát minh của máy ATM mà ta biết chưa áp dụng nhiều năm sau Simjian thì sự nhầm lẫn vẫn còn. Lý do của sự nhầm lẫn là John Shepherd-Barron ở vương quốc Anh, James Goodfellow ở Scotland trong lúc những người khác thì ở Hoa Kỳ.[3].Chiếc máy ATM đầu tiên trong lịch sử là sản phẩm của ông John Shepherd-Barron. Nhưng một máy rút tiền tự động phiên bản sớm hơn đã được ông Luther George Simjian, một người Mỹ, phát triển và lắp đặt tại ngân hàng City Bank của New York năm 1939. Tuy nhiên, chiếc máy đã bị tháo bỏ cùng năm đó do khách hàng không có nhu cầu sử dụng. Máy rút tiền của ông Shepherd-Barron là máy ATM thực thụ đầu tiên.Máy rút tiền tự động đầu tiên do ông Shepherd-Barron sáng chế được lắp đặt tại một chi nhánh của ngân hàng Barclays Plc ở khu vực ngoại ô phía bắc London ngày 27/6/1967.[4].Reg Varney, diễn viên nổi tiếng trên bộ phim truyền hình nhiều tập On the Buses, là người đầu tiên rút thử tiền.Vào ngày kỷ niệm 25 năm sử dụng chiếc máy ATM đầu tiên người ta có đặt một cái bảng kỷ niệm.[5] Bất chấp sự phản đối của người Mỹ xoay quanh vấn đề ai là "cha đẻ" của ATM, hãng phát hành sách Guiness về các phát minh vẫn ghi nhận Shepherd-Barron là người chế ra cỗ máy này.[6]

Chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Phong bì gửi tiền vào máy ATM ở Việt Nam

Ngoài chức năng cơ bản cho phép khách hàng rút tiền mặt, in sao kê, chuyển khoản, nhiều ngân hàng đã bổ sung thêm dịch vụ bỏ tiền mặt, bỏ ngân phiếu vào tài khoản, thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, mua thẻ cào điện thoại di động, bán vé hay các giao dịch điện tử trực tiếp khác cho các máy rút tiền tự động.

Máy rút tiền tự động, phối hợp với thẻ ATM (thẻ ghi nợ), khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng cho chi tiêu hàng ngày. Một ví dụ là các ông chủ có thể trả lương nhân viên qua tài khoản ngân hàng, và người nhận lương có thể lấy tiền mặt từ tài khoản qua các máy thay vì phải giao dịch với nhân viên ngân hàng. Thêm vào đó, máy cũng hạn chế phần nào việc sử dụng tiền mặt trong thanh khoản.

Máy rút tiền sử dụng giấy cuộn để in hóa đơn và thông báo hoạt động tài khoản của người sử dụng. Giấy này có thể là giấy in thường hoặc giấy cảm nhiệt. Ngày nay, các giấy này thường có in sẵn biểu tượng của ngân hàng phát hành máy rút tiền.

Nguy cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh những tiện ích to lớn của máy ATM, trên thực tế, việc sử dụng máy ATM cũng gây ra những nguy cơ nhất định về sức khỏe, Theo một số nghiên cứu thì máy ATM chứa một lượng vi khuẩn có thể gây bệnh cho con người tương đương với các nhà vệ sinh công cộng vì, các máy ATM trên có khoảng hàng trăm người sử dụng mỗi ngày, theo nghiên cứu phát hiện máy ATM đều chứa vi khuẩn pseudomonad, khuẩn hình que là những vi khuẩn gây ra chứng nôn mửa và bệnh tiêu chảy.[7] Bên cạnh đó cũng có những trường hợp máy ATM bị rò rĩ điện, gây ra tai nạn chết người[8][9][10]

Cũng có nhiều ý kiến than phiền (thậm chí là kiện tụng) vì tiền trong tài khoản bị mất, nhầm lẫn, thiếu sót, trục trặc... khi sử dụng máy ATM.[11][12][13]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]