Xe tải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Một chiếc xe tải là một loại xe có động cơ dùng để vận chuyển hàng hóa. Từ truck trong tiếng Anh (hay "xe tải" trong tiếng Việt) có nguồn gốc từ trochos trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "bánh xe". Ở Hoa Kỳ, những chiếc bánh xe lớn của xe ngựa thời xưa được gọi là truck. Khi những chiếc xe tải chạy bằng động cơ dầu (xăng) trở nên phổ biến, chúng được gọi là motortruck. Dần dần tiền tố motor bị loại bỏ.

Không giống như các loại xe hơi, thường được chế tạo với một thân duy nhất, đa số xe tải, trừ xe kiểu minivan) được thiết kế xung quanh một khung cứng (chassis). Các xe tải có nhiều kích cỡ, từ kiểu nhỏ như xe hơi gọi là xe bán tải (pickup truck) cho tới những loại xe tải dùng ở các khu mỏ (không chạy trên đường quy ước) hay các loại xe móc chạy trên đường cao tốc.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ truck thường được sử dụng nhất trong tiếng Anh tại Mỹtiếng Anh tại Úc để chỉ một loại phương tiện mà trước đó được gọi là motor truck, trong Tiếng Anh tại Anh thì từ tương đương của trucklorry. Từ lorry chỉ dùng để chỉ các loại xe tải lớn hay trung bình; các loại van, pickup truck, SUV không bao giờ được gọi là lorry. Các ngôn ngữ khác cũng có những từ mượn để chỉ các thuật ngữ này, như từ lori trong tiếng Malaysia.

Trong tiếng Anh tại Úctiếng Anh tại New Zealand một thứ xe nhỏ với đuôi trần được gọi là ute (gọi tắt của từ utility vehicle) và từ truck được dành cho những loại xe lớn hơn.

Pantechnicon từ tiếng Anh đã bị bỏ đi để chỉ xe chuyên chở cỡ lớn. Nó xuất hiện lần đầu năm 1830 với tư cách là cái tên để chỉ một xe kiêm cửa hàng hay một xe chợ, ở Motcomb Street tại Belgravia, London; tên đó là từ tiếng Hy Lạp để chỉ loại phương tiện dính liền với xe kiêm cửa hàng. Cửa hàng nhanh chóng bị đóng cửa, ngôi nhà đó chuyển sang buôn đồ nội thất nhưng cái tên vẫn giữ nguyên. Các phương tiện chuyên chở đồ nội thất từ các ngôi nhà, được gọi là pantechnicon van, sau đó nó nhanh chóng được gọi theo cách đơn giản là pantechnicon.

Xe tải pantech là một từ biến thể từ pantechnicon, hiện thường được dùng ở Úc. Một pantech là một xe tải hay xe van có thân chở hàng (hay được chuyển đổi) bằng những thanh cứng (ví dụ những xe chilled freight, removal vans, etc).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tải chạy bằng hơi nước[sửa | sửa mã nguồn]

Một xe tải hơi nước của Anh

Xe tải và xe hơi đều có một tổ tiên chung: chiếc "fardier" chạy bằng hơi nước do Nicolas-Joseph Cugnot chế tạo năm 1769. Tuy nhiên, các xe tải chạy bằng hơi nước rất phổ biến cho tới tận giữa thập niên 1800. Thời ấy đường xá chỉ được xây dựng cho ngựaxe ngựa, khiến cho những xe tải đó ít có tính hữu dụng, thường chỉ chạy những đoạn đường ngắn từ nhà máy tới ga xe lửa gần nhất. Chiếc xe kéo móc đầu tiên xuất hiện năm 1881, được kéo bởi một máy hơi nước tên là De Dion. Các xe tải hơi nước đã được bán ở PhápHoa Kỳ cho tới tận trước Thế chiến thứ nhất, và tại Vương quốc Anh ho đến đầu Thế chiến thứ hai.

Động cơ đốt trong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1895, Karl Benz thiết kế chiếc xe tải đầu tiên trong lịch sử dụng động cơ đốt trong, một số chiếc xau đó được chuyển đổi bởi công ty xe buýt đầu tiên: Netphener. Một xe tải dùng động cơ đốt trong khác được chế tạo năm 1898 bởi Gottlieb Daimler. Những hãng khác như PeugeotRenault cũng chế tạo những chiếc của riêng họ. Thời ấy xe tải đa số dùng các động cơ hai xi lanh và có thể chở tới 1500 đến 2000 kg. Năm 1904, 700 chiếc xe tải hạng nặng đã được chế tạo tại Hoa Kỳ; 1000 vào năm 1907, 6000 vào năm 1910 và 25000 vào năm 1914.

Một xe tải của Benz được Netphener company (1895) chuyển đổi thành chiếc xe buýt đầu tiên

Sau Thế chiến thứ hai, nhiều cải tiến đã được ứng dụng: lốp xe dùng không khí thay lốp cao su đặc, khởi động điện, phanh máy, động cơ 6 xi lanh, buồng lái kín, đèn điện. Chiếc xe kéo móc hiện đại đầu tiên cũng đã xuất hiện. Những nhà sản xuất xe hơi du lịch như Ford và Renault cũng đặt chân vào thị trường xe tải.

Động cơ Diesel[sửa | sửa mã nguồn]

Dù đã được phát minh ra năm 1890, động cơ Diesel vẫn không được áp dụng nhiều vào xe tải tại châu Âu cho tới tận thập niên 1920. Ở Hoa Kỳ, khoảng thời gian để động cơ Diesel được chấp nhận còn kéo dài hơn: các động cơ dùng xăng vẫn được dùng cho các xe tải nặng trong thập niên 1970, trong khi ở châu Âu chúng đã được thay thế hoàn toàn từ 20 năm trước.

Những vấn đề pháp luật[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tải thường phải trả thuế cao hơn các loại xe khác chạy trên đường, và là đối tượng phải chịu nhiều quản lý chặt chẽ hơn. Những yếu tố liên quan tới điều này: xe tải lớn hơn và nặng hơn đa số các loại xe khác, và chiếm nhiều diện tích đường cũng như gây hư hỏng đường nhiều hơn; và các xe tải với tài xế của chúng ở trên đường với thời gian nhiều hơn. Các xe tải của UPS được gọi là package car ở Hoa Kỳ vì chúng được loại trừ khỏi một số loại thuế. Các quy định về thuế khác biệt tùy theo vùng tài phán.

Đa số các vùng tài phán có những quy định đối với các phương tiện thương mại, quy định tài xế làm việc bao nhiêu giờ, bao nhiêu giờ nghỉ và ngủ tối thiểu (ví dụ, 11 giờ làm/10 giờ nghỉ, và 60 giờ nghỉ trên 7 ngày), và nhiều quy định khác. Những hành vi vi phạm thường bị phạt nặng. Các dụng cụ kiểm soát thời gian làm việc của tài xế thường được lắp đặt đầy đủ.

Các xe tải cũng là đối tượng yêu cầu hạn chế tiếng ồn (bắt đầu từ Luật kiểm soát tiếng ồn của Hoa Kỳ) để bảo vệ mọi người khỏi những ảnh hưởng tới sức khỏe của tiếng ồn, bởi vì các xe tải góp phần rất lớn vào tiếng ồn trên đường vì trọng lượng lớn và số lốp nhiều cũng như các tính năng khí động học gây tiếng ồn của chúng.

Luật Cầu (Bridge Law) quy định quan hệ giữa tổng trọng lượng của xe và số lượng trục và khoảng cách giữa các trục trước và sau của xe. Mỗi nước xác định trọng lượng cho phép trên mỗi trục riêng.

Các kiểu xe tải theo kích cỡ[sửa | sửa mã nguồn]

Một xe tải chở gỗ

Xe tải hạng nhẹ[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tải hạng nhẹ là những xe cỡ thường (tại Hoa Kỳ không lớn hơn 6.300 kg, hay 13.000 lb) và thường được sử dụng bởi các cá nhân cũng như các thực thể kinh tế. Chúng gồm:

Các xe tải cỡ trung[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tải hạng trung lớn hơn xe tải hạng nhẹ nhưng nhỏ hơn xe hạng nặng. Ở Hoa Kỳ, chúng được xác định với khối lượng trong khoảng giữa 6.300 kg (13.000 lb) và 15.000 kg (33.000 lb).

Đối với Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, ngưỡng giới hạn là 7,5 tấn. Những xe tải chạy đường ngắn và phục vụ dịch vụ công cộng (dump truck, xe rác) thường ở khoảng kích thước này.

Các xe tải hạng nặng[sửa | sửa mã nguồn]

Ba xe tải tàu hoả, West Australia

Xe tải hạng nặng là những xe tải lớn nhất được phép chạy trên đường. Đa số chúng dùng cho vận tải đường dài, thường là kiểu xe kéo móc.

Tốc độ hư hại đường xá tăng nhanh chóng cùng với tải trọng trục (trọng lượng xe tải được phân bố trên số lượng trục). Ở các quốc gia có chất lượng đường tốt một xe tải sáu trục được cho phép có trọng lượng tối đa 40 tấn.

Tại Australia nhiều xe kéo móc được nối lại với nhau thành loại xe được gọi là xe tàu hỏa.

Các xe tải không chạy trên các loại đường thông thường[sửa | sửa mã nguồn]

Những chiếc xe tải chạy trên xa lộ thỉnh thoảng cũng được trang bị các tính năng chạy trên đường phi tiểu chuẩn như trục lái trước (front driving axle) và một số lốp đặc biệt dùng cho khai thác gỗxây dựng. Những xe tải không bao giờ chạy trên đường công cộng, như chiếc xe tải khai thác mỏ cực lớn Liebherr T 282B, những xe loại này không bị giới hạn trọng lượng.

Xe tải giải phẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các xe tải đều được chế tạo dựa trên những đặc tính chung: chúng có một chassis, một cabin, các trục, hệ thống treo và các bánh xe, một động cơ và một hệ thống lái. Các hệ thống khí nén, thủy lực, nước, và điện cũng có thể tiêu chuẩn hóa.

Chassis[sửa | sửa mã nguồn]

Chassis hay khung của một xe tải thường được chế tạo bởi hai , và nhiều thanh ngang (crossmembers) cùng với thanh nối (fishplate). Chassis một xe tải gồm hai thanh xà thẳng, song song, hình chữ U, hay trong một số trường hợp hình bậc hay hình nêm, chúng được nối với nhau bởi các thanh ngang. Trong đa số trường hợp, các thanh nối có tác dụng liên kết thanh ngang với thanh xà. Thanh nối thường được lấy từ các đường ray xe lửa cũ. Chiều dài thanh xà khác nhau tùy loại xe. Chassis thường được làm bằng thép, nhưng cũng có thể làm bằng (một phần hay toàn bộ) nhôm để có trọng lượng nhẹ hơn. Thành phần hóa học (carbon, molypđen, vân vân.) và kết cấu của các thanh xà đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sức bền của nó và ngăn cản các thanh xà không bị nứt hay rời ra, giữ cho khung có tính dẻo và tính cứng. Không nên hàn, khoan cũng như tiến hành các sửa đổi không cần thiết đối với chassis. Chassis là cơ cấu chính của xe tải, và những phần khác của xe được lắp trên đó. Ở đầu và cuối chassis có thể có lắp móc kéo xe.

Ca bin[sửa | sửa mã nguồn]

Cabin là một không gian kín nơi tài xế ngồi điều khiển. Một buồng ngủ là một ngăn kín bên trong cabin nơi tài xế có thể nghỉ ngơi khi không làm việc. Nó có thể có kích thước nhỏ 2 đến 4 foot (0.6 đến 1.2 m) hay lớn tới 12 foot (3.7 m) phòng ngủ lắp bánh xe. Các cabin hiện đại có điều hòa không khí, một hệ thống âm thanh tốt, ghế ngồi thích hợp với người lái (thường được treo bằng không khí). Có thể có một số kiểu ca bin:

  • cabin trên động cơ (COE) hay mũi bằng, người lái ngồi ngay trên trục trước và động cơ. Kiểu thiết kế này thường thấy ở Châu Âu, nơi tổng chiều dài xe tải thường bị hạn chế. Trước kia chúng cũng là kiểu thường thấy ở Mỹ, nhưng từ đầu thập kỷ 1980 khi hạn chế chiều dài xe được nới lỏng nó dần mất đi ưu thế. Để sửa chữa hay bảo dưỡng động cơ, toàn bộ cabin sẽ được lật nghiêng ra phía trước, khiến kiểu thiết kế này còn được gọi là cabin nghiêng.
Một xe tải chở bê tông.
  • ca bin quy ước là kiểu phổ thông nhất ở Bắc Mỹ. Tài xế ngồi phía sau động cơ, giống như ở hầu hết các kiểu xe hơi và xe pickup khác. Các kiểu quy ước còn được phân chia nhỏ thành loại xe lớn và các thiết kế khí động học. Một xe lớn hay mũi dài là một xe tải quy ước với một mui dài—6 đến 8 foot (1.8 đến 2.4 m) hay dài hơn&mdash. Vì hình dạng của nó rất gần hình vuông, các xe tải đó có diện cản gió lớn và có thể tốn nhiên liệu hơn. Tầm nhìn của nó cũng kém hơn so với các đối thủ kiểu khí động học hay COE. Trái lại, các cabin khí động học có hình dạng khí động học rất hợp lý, với mui nghiêng và các đặc tính khác giúp hạn chế cản gió. Đa số người sử dụng đều thích kiểu thiết kế quy ước mui vuông, vì hình dáng hùng dũng của nó.
  • cũng có các kiểu thiết kế cabin bên cạnh động cơ, nhưng hiếm hơn.
  • những từ tiếng lóng
    • "Tiltin' Hilton":Cabin trên động cơ với giường ngủ.
    • "Aardvark": Thiết kế quy ước khí động học.
    • "Hood": Bất kỳ kiểu quy ước nào KHÔNG phải là một "aardvark"

Động cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tải có thể sử dụng mọi kiểu động cơ. Những xe tải nhỏ như SUV hay bán tải và thậm chí xe tải hạng trung ở Bắc Mỹ sử dụng động cơ xăng. Những xe tải hạng lớn hơn dùng động cơ turbin diesel bốn thì làm lạnh trung gian, dù vẫn có những kiểu khác. Những xe tải siêu lớn không chạy trên đường dùng các động cơ tàu hỏa như động cơ hai thì V12 Detroit Diesel.

Ở Hoa Kỳ, các xe tải chạy trên đường cao tốc hầu như luôn dùng động cơ của một hãng thứ ba, ví dụ như của CAT, Cummins, hay Detroit Diesel. Ngoại trừ duy nhất là các Volvo TrucksMack Trucks, chúng dùng các động cơ diesel của VolvoMack, và Freightliner, là một chi nhánh của DaimlerChrysler và dùng cả động cơ Mercedes-BenzDetroit Diesel.

Xe tải kiểu tàu hoả[sửa | sửa mã nguồn]

Các xe tải nhỏ có cơ cấu truyền động tương tự hầu hết các loại xe hơi khác với hoặc một hệ thống truyền động tự động hay một hệ thống truyền động thủ công với thiết bịđồng bộ. Các loại xe tải lớn hơn thường sử dụng truyền động thủ công không có thiết bị đồng bộ với trọng lượng nhẹ hơn dù một số cơ cấu truyền động đồng bộ đã được áp dụng vào xe tải nặng. Truyền động không đồng bộ đòi hỏi thao tác hai lần mỗi khi chuyển số có thể gây ra tổn thương do vận động lặp lại. Các tiêu chuẩn chung ở Bắc Mỹ gồm có truyền động tự độngtruyền động bán tự động 10, 13 và 18 tốc độ đối với các xe tải nặng và các tiêu chuẩn này ngày càng phổ biến, vì những ưu thế cả trong truyền động và sức mạnh động cơ.

Khuynh hướng ở Châu Âu là ngày càng có nhiều xe tải mới áp dụng truyền động tự động. Điều này một phần có thể do những vụ kiện tụng của các tài xế cho rằng việc lái xe truyền động thủ công gây hại cho đầu gối của họ.

Chất lượng và bán hàng[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng xuất xưởng của các nhà sản xuất xe tải hạng nặng nói chung tăng lên, tuy nhiên những chuyên gia bên trong ngành công nghiệp này cho rằng họ còn cả một chặng đường dài phía trước để đạt tới các tiêu chuẩn chất lượng mà các nhà sản xuất xe hơi nói chung đã đạt được. Một phần trong số các nguyên nhân là 75% tổng số xe tải được chế tạo theo yêu cầu khách hàng. Việc này ngăn cản những nỗ lực tối ưu hóa hình dạng và tự động hóa dây chuyền lắp ráp.

Thị trường xe tải nặng trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

(các nhà sản xuất chính xếp hạng theo doanh số bán năm 2003)

Công ty nắm thị phần lớn nhất thế giới là DaimlerChrysler, với phân nhánh xe thương mại Mercedes-Benz của họ chiếm tới 22% thị phần thế giới. Các xe thương mại của Mercedes-Benz như Freightliner, Mercedes-Benz, Setra, Sterling (Ford Trucks cũ), Western Star, Mitsubishi Fuso Truck và Bus (43%; Nhật Bản), và Hyundai Trucks (50%; Hàn Quốc), bán 200.000 đến 250.000 chiếc trên khắp thế giới trong năm qua. [1]

Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Các công ty có đội xe nhỏ, chuyên vận tải, và những nhà điều hành tư nhân thường có xu hướng ưa chuộng Mack hay Peterbilt và các sản phẩm của Kenworth. Các công ty lớn và các tổ chức công cộng thì chuộng loại có giá rẻ hơn như Freightliner, Navistar, và các sản phẩm của Ford. Cũng có những sở thích tùy theo từng vùng của các tài xế xe tải tại Hoa Kỳ.

Bờ biển phía đông, nơi đường xá nói chung là ngắn hơn, và bởi vì các xe tải được sản xuất tại đó, nhiều tài xế thích xe tải Mack. Trong khi ở Bờ biển phía Tây, các tài xế ưa chuộng Peterbilt, Kenworth, và Freightliner. White đã xây dựng một nhà máy mới tại California đầu thập niên 1960, cùng với công ty xe tải lớn Consolidated Freightways. Công ty đó trở thành White-Freightliner, và sau đó rút gọn còn Freightliner, cung cấp trực tiếp xe tải cho các hãng điều hành có nhu cầu về loại xe có cabin và khung nhôm nhẹ hơn, tầm hoạt động trực tiếp lớn hơn mà không cần dừng giữa chừng. Các tài xế thường quan tâm tới vấn đề an toàn hơn là tiết kiệm nhiên liệu, vì thế họ thích loại xe nặng của Peterbilts và Kenworths. Kenworth và Peterbilt, vốn đã chế tạo các xe tải nặng cho công nghiệp khai thác gỗ, các sản phẩm lâm nghiệp, chở thép cho các xưởng đóng tàu ở Bờ biển phía đông, dự đoán nhu cầu loại xe tải nhẹ hơn với tầm hoạt động xa hơn sẽ tăng trong tương lai.

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Iveco, MAN AG, Mercedes-Benz Trucks, PACCAR (DAF Trucks, Leyland Trucks), Scania AB, và Volvo Trucks (không nên nhầm lẫn với Volvo Personvagnar, hiện thuộc Ford Motor Company), chúng là những nhà sản xuất xe tải hàng đầu ở Tây Âu. Ở Đông Âu, Škoda, Tatra, ZastavaGAZ là những mác xe thông dụng, bởi vì chúng từng là những thương hiệu của vùng thuộc quyền kiểm soát Xô viết.

Châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà sản xuất xe tải hàng đầu

  • Hyundai-Kia (Hàn Quốc)
  • Yuejin Motors (Vọt Tiến - Trung Quốc)
  • Daewoo, bây giờ là Tata-Daewoo (Hàn Quốc - Ấn Độ)
  • Dong Feng (Đông Phong) (Trung Quốc)
  • Mitsubishi (Nhật Bản)
  • Tata Motors (Ấn Độ, trước kia gọi là Telco)
  • Hino (Nhật Bản)(liên doanh với Scania và Renault)
  • Isuzu (Nhật Bản)
  • Iveco (Italia, nhưng có các cơ sở tại Châu Á)
  • Nissan Diesel (Nhật Bản)

Nam Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Những đăng ký xe tải nặng tại Nam Mỹ (2002; % giảm theo nhà sản xuất):

  • DaimlerChrysler
  • Scania
  • Mack Trucks

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]