Kamen Rider Ryuki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kamen Rider Ryuki
Kamenriderryuki.jpg
Title screen.
Thể loại Tokusatsu
Sáng lập Shotaro Ishinomori
Kịch bản Yasuko Kobayashi
Toshiki Inoue
Đạo diễn Ryuta Tasaki
Hidenori Ishida
Takao Nagaishi
Kenko Sato
Nobuhiro Suzumura
Diễn viên Takamasa Suga
Satoshi Matsuda
Ayano Sugiyama
Dẫn chuyện Eiichiro Suzuki
Nhạc dạo "Alive A life" bởi Rica Matsumoto
Nhạc kết "Hatenaki Inochi" by Hiroshi Kitadani
"Hateshinai Honō no Naka e" by RIDER CHIPS featuring Keiko Terada
"Revolution" by Hiroshi Kitadani
Phụ hòa âm Kazunori Maruyama
Cher Watanabe
Quốc gia Nhật Bản
Ngôn ngữ Japanese
Số tập 50
Sản xuất
Nhà sản xuất Kazuo Tsuburai
Chiharu Nakasone (TV Asahi)
Shinichirō Shirakura
Naomi Takebe (Toei)
Thời lượng 23-25 phút/ tập
Công ty sản xuất Toei Company
Nhà phân phối Toei Company
Trình chiếu
Kênh trình chiếu TV Asahi
Phát sóng 3 tháng 2, 2002 (2002-02-03)19 tháng 1, 2003 (2003-01-19)
Thông tin khác
Phần trước/
Phim trước
Kamen Rider Agito
Phần sau/
Phim sau
Kamen Rider 555
Chương trình liên quan Kamen Rider Dragon Knight (2009)
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

Kamen Rider Ryuki (Nhật: 仮面ライダー龍騎 Kamen Raidā Ryūki?, Giả diện Rider Long Kị) là một series phim truyền hình Tokusatsu Nhật Bản. Đây là phần thứ 12 trong loạt phim Kamen Rider Series và là sự hợp tác chung giữa công ty ToeiIshimori Production. Loạt phim được trình chiếu trên TV Asahi từ ngày 3 tháng 2 năm 2002 đến ngày 19 tháng 1 năm 2003. Khẩu hiệu của loạt phim là "Nếu không chiến đấu bạn sẽ không tồn tại" 戦わなければ、生き残れない!! (Nhật: Tatakawanakereba, ikinokorenai!!?). Vào năm 2009, hãng Saban đã mua bản quyền loạt phim này và chuyển thể thành một loạt phim của Mỹ với tên gọi Kamen Rider Dragon Knight và cũng là loạt phim Kamen Rider đầu tiên của hãng Saban, sau Saban's Masked Rider vào năm 1996

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Những người dân vô tội của thành phố Nhật Bản đang bị bắt cóc một cách bí ẩn. Họ không bao giờ xuất hiện trên thế giới nữa. Những con quái vật được gọi là Mirror Monster xuất hiện qua những tấm gương để ăn thịt nạn nhân của chúng. Shinji Kido - một phóng viên của tạp chí ORE Journal, đã tìm thấy một Advent Card Deck ở một căn hộ của một nạn nhân bị bắt cóc. Khi bị rơi vào thế giới trong gương (Mirror World), Shinji đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi này, vì ở thế giới này tồn tại những con quái vật, và đặc biệt hơn, chính là những cuộc chiến của 13 Riders. Shinji Kido gặp được Ren Akiyama - Kamen Rider Knight. Ren Akiyama hiện đang làm nhân viên tiệm trà của Yui Kanzaki, cô cũng đang tìm kiếm người anh trai của mình, chính là Shiro Kanzaki - người tạo ra thế giới Mirror World. Với phần thưởng là một điều ước, 13 Rider phải tàn sát lẫn nhau nếu muốn tồn tại trong thế giới này. Với con Monster giao ước của mình, Dragredder, Shinji trở thành Kamen Rider Ryuki với mong muốn dừng cuộc chiến tranh vô nghĩa này lại.

Riders[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trong series:
Kamen Rider Ryuki Shinji Kido
Kamen Rider Knight Akiyama Ren
Kamen Rider Scissors Masaki Sudo
Kamen Rider Zolda Kitaoka Shuichi
Kamen Rider Raia Miyuki Tezuka
Kamen Rider Gai Jun Shibaura
Kamen Rider Ohja Asakura Takeshi
Kamen Rider Odin Kamen rider Odin
Kamen Rider Tiger Satoru Tojo
Kamen Rider Imperer Mitsuru Sano
Alternative Zero Hideyuki Kagawa
Alternative Hajime Nakamura
  • Trong movie và tập đặc biệt:
Kamen Rider Femme Miho Kirishima
Kamen Rider Verde Itsuro Takamizawa
Kamen Rider Ryuga Dark Shinji
  • Trong Decade
Kamen Rider Abyss Kamata

Quái vật[sửa | sửa mã nguồn]

Mirror Monsters (Nhật: ミラーモンスター Mirā Monsutā?) là những con quái vật được tạo ra từ trí tưởng tượng của Yui Kanzaki. Cô vẽ những con quái vật lên những tờ giấy trắng. Shiro Kanzaki đã dùng những bức vẽ đó để tạo nên những con quái vật và Advent Card cho 13 Rider. Những con quái vật trong Mirror World không có sự sống thật sự, hằng ngày chúng săn bắt con người. Chúng không thể tấn công Yui theo lệnh của Shiro. Có những con quái vật được 13 Rider kí hợp đồng sức mạnh qua tấm Contract Vent của mình. Những Rider vào đây có thể tiêu diệt những con quái vật, và đặc biệt hơn là tiêu diệt Rider khác.

Số tập[sửa | sửa mã nguồn]

  1. The Secret Story's Birth (Nhật: 誕生秘話 Tanjō Hiwa?)
  2. Giant Spider Counterattack (Nhật: 巨大クモ逆襲 Kyodai Kumo Gyakushū?)
  3. School Ghost Story (Nhật: 学校の怪談 Gakkō no Kaidan?)
  4. School Ghost Story 2 (Nhật: 学校の怪談2 Gakkō no Kaidan Tsū?)
  5. The Monster's Antique Store (Nhật: 骨董屋の怪人 Kottōya no Kaijin?)
  6. The Mysterious Rider (Nhật: 謎のライダー Nazo no Raidā?)
  7. A New Species is Born? (Nhật: 新種誕生? Shinshu Tanjō??)
  8. The Fourth, Zolda (Nhật: 4人目ゾルダ Yoninme Zoruda?)
  9. Shinji's Arrested!? (Nhật: 真司が逮捕!? Shinji ga Taiho!??)
  10. Knight's Crisis (Nhật: ナイトの危機 Naito no Kiki?)
  11. The Mysterious Empty Train (Nhật: 謎の無人電車 Nazo no Mujin Densha?)
  12. Ren Akiyama's Lover (Nhật: 秋山蓮の恋人 Akiyama Ren no Koibito?)
  13. That Man, Zolda (Nhật: その男ゾルダ Sono Otoko Zoruda?)
  14. Revival Day (Nhật: 復活の日 Fukkatsu no Hi?)
  15. Iron Mask Legend (Nhật: 鉄仮面伝説 Tekkamen Densetsu?)
  16. Card of Destiny (Nhật: 運命のカード Unmei no Kādo?)
  17. The Grieving Knight (Nhật: 嘆きのナイト Nageki no Naito?)
  18. Jailbreak Rider (Nhật: 脱獄ライダー Datsugoku Raidā?)
  19. Rider Gathering (Nhật: ライダー集結 Raidā Shūketsu?)
  20. The Traitorous Ren (Nhật: 裏切りの蓮 Uragiri no Ren?)
  21. Yui's Past (Nhật: 優衣の過去 Yui no Kako?)
  22. Raia's Revenge (Nhật: ライアの復讐 Raia no Fukushū?)
  23. Changing Destiny (Nhật: 変わる運命 Kawaru Unmei?)
  24. Ouja's Secret (Nhật: 王蛇の秘密 Ōja no Himitsu?)
  25. Combining Ouja (Nhật: 合体する王蛇 Gattai Suru Ōja?)
  26. Zolda's Assault (Nhật: ゾルダの攻撃 Zoruda no Kōgeki?)
  27. The 13th Rider (Nhật: 13号ライダー Jūsangō Raidā?)
  28. Time Vent (Nhật: タイムベント Taimu Bento?)
  29. Marriage Interview Battle (Nhật: 見合い合戦 Miai Gassen?)
  30. Zolda's Lover (Nhật: ゾルダの恋人 Zoruda no Koibito?)
  31. The Girl and Ouja (Nhật: 少女と王蛇 Shōjo to Ōja?)
  32. Secret Data Gathering (Nhật: 秘密の取材 Himitsu no Shuzai?)
  33. The Mirror's Magic (Nhật: 鏡のマジック Kagami no Majikku?)
  34. Friendship's Battle (Nhật: 友情のバトル Yūjō no Batoru?)
  35. Enter Tiger (Nhật: タイガ登場 Taiga Tōjō?)
  36. The Battle Ends (Nhật: 戦いは終わる Tatakai wa Owaru?)
  37. Sleep is Awakening (Nhật: 眠りが覚めて Nemuri ga Samete?)
  38. Targeted Yui (Nhật: 狙われた優衣 Nerawareta Yui?)
  39. A Dangerous Sign (Nhật: 危険のサイン Kiken no Sain?)
  40. Memories of an Older Brother and Younger Sister (Nhật: 兄と妹の記憶 Ani to Imōto no Kioku?)
  41. Impaler (Nhật: インペラー Inperā?)
  42. Room 401 (Nhật: 401号室 Yonhyakuichigōshitsu?)
  43. The Hero Fights (Nhật: 英雄は戦う Eiyū wa Tatakau?)
  44. Glassy Happiness (Nhật: ガラスの幸福 Garasu no Kōfuku?)
  45. The Twentieth Birthday (Nhật: 20歳の誕生日 Hatachi no Tanjōbi?)
  46. Tiger's a Hero (Nhật: タイガは英雄 Taiga wa Eiyū?)
  47. Determination of Battle (Nhật: 戦いの決断 Tatakai no Ketsudan?)
  48. The Final 3 Days (Nhật: 最後の3日間 Saigo no Mikkakan?)
  49. Granting a Wish (Nhật: 叶えたい願い Kanaetai Negai?)
  50. A New Life (Nhật: 新しい命 Atarashii Inochi?)

Phim và phần đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

13 Riders[sửa | sửa mã nguồn]

Kamen Rider Ryuki Special: 13 Riders (Nhật: 仮面ライダー龍騎スペシャル 13RIDERS Kamen Raidā Ryūki Supesharu Sātīn Raidāzu?) được viết bởi Toshiki Inoue và đạo diễn bởi Ryuta Tasaki. Phần này có liệt kê đủ 13 Rider bao gồm cả Verde. Phần này được phát sóng trên TV Asahi vào ngày 19 tháng 9 năm 2002 và được phát hành dĩa DVD vào ngày 21 tháng 7 năn 2003. DVD cũng có thêm một số thông tin về các nhân vật và cuộc phỏng vấn diễn viên Arthur Kuroda và các nhân vật khác Phần đặc biệt này là phần mở đầu thay thế cho loạt phim Kamen Rider Ryuki. Shinji Kido, một nhà báo của tạp chí ORE Journal, bị Mispider Monster kéo vào thế giới gương. Shinji may mắn được cứu thoat bởi Kamen Rider Ryuki (Koichi Sakakibara, do diễn viên Keiichi Wada thủ vai). Tuy nhiên, Sakakibara không thể chiến đấu được nữa. Trước khi biến mất, anh đưa Shinji Advent Card của mình và bảo Shinji hãy trở thành Kamen Rider Ryuki thứ hai để chiến đấu với con quái vật. Shinji nhanh chóng làm quen với Yui Kanzaki và Ren Akiyama (Kamen Rider Knight) và biết được luật lệ của cuộc chiến Rider Wars, cũng như có các Rider khác tham gia. Thấy được sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh này, Shinji cố gắng ngăn chặn bằng cách thuyết phục các Rider khác tham gia với mình. Không có Rider nào chấp nhận (trừ Raia, Kamen Rider Ohja đã giết Kamen Rider Scissors). Các Rider bắt đầu săn đuổi Shinji và Ren. Cuối cùng, Advent Card Deck của Ryuki bị phá vỡ, Ren chết sau khi giết được Verde. Shinji trở thành Kamen Rider Knight Survive với Survive Card. Phần này có hai kết thúc được bình chọn bởi người xem qua điện thoại. Hai kết thúc đó là:

  • Shinji phải đối mặt với những Rider còn lại (trừ một vài kamen rider khác). Các Rider đều kích hoạt Final Vent của mình
  • Kết thúc thay thế. Khi Shiro Kanzaki xóa bỏ Rider War hiện tại và đặt lại một cuộc chiến Rider khác

Episode Final[sửa | sửa mã nguồn]

Kamen Rider Ryuki: Episode Final (Nhật: 劇場版 仮面ライダー龍騎 EPISODE FINAL Gekijōban Kamen Raidā Ryūki Episōdo Fainaru?) là một kết thúc thay thế cho series, diễn ra sau các sự kiện trong tập 46. Trong phim, chỉ có 6 Rider còn sống trong cuộc chiến. Đó là Ryuki (Shinji Kido), Knight (Ren Akiyama), Zolda (Shuichi Kitaoka), Ouja (Takeshi Asakura), và Femme (Miho Kirishima). Shiro Kanzaki cảnh báo rằng họ phải giải quyết cuộc chiến tranh này trong vòng 3 ngày. Một trong số họ phải chiến thắng để trở thành người sống sót cuối cùng. Cùng lúc đó, một Rider bí ẩn xuất hiện, chính là Kamen Rider thứ 6. Trước khi trận chiến cuối cùng diễn ra, Shinji và Ren đã khám phá được mối quan hệ giữa Yui Kanzaki và thế giới Mirror World, cũng như khám phá được sự tồn tại của một bản sao khác của Shinji trong thế giới Mirror World, Kamen Rider Ryuga

Hyper Battle: Ryuki vs Agito[sửa | sửa mã nguồn]

Kamen Rider Ryuki: Ryuki vs Kamen Rider Agito (Nhật: 仮面ライダー龍騎 龍騎vs仮面ライダーアギト Kamen Raidā Ryūki: Ryūki Buiesu Kamen Raidā Agito?) là phần Hyper Battle đặc biệt của loạt phim. Những sự kiện trong tập này diễn ra trong giấc mơ của Shinji Kido. Ở đó, anh cùng với Knight, Zolda, Ohja để chống lại bản thể hắc của Kamen Rider Agito trong gương. Shinji cũng gặp được Kamen Rider Agito, cùng nhau, họ tiêu diệt bản thể hắc của Agito trong thế giới gương

Video game[sửa | sửa mã nguồn]

Một trò chơi dựa theo loạt phim này được sản xuất vào năm 2002 bởi hãng Bandai và phát hành tại Nhật Bản cùng năm đó. Trò chơi dành cho máy PlayStation. Là một trò chơi chiến đấu cơ bản. Trong đó, người chơi sẽ chọn một trong 13 Rider với số thẻ tương ứng nhận được để chơi trò chơi. Người chơi cũng có thể làm Nhiệm vụ theo cốt truyện, hoặc đánh nhau với các Rider và các Monster khác. Bốn trong số những quái Hợp đồng (Volcancer, Metalgelas, Destwilder và Gigazelle), hai Zebraskulls (Iron và Bronze) và Megazelle cũng có thể chơi được.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Suit actors[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Opening theme
Ending themes
  • "Hatenaki Inochi" (Nhật: 果てなき希望(いのち)? "Boundless Life")
  • "Hateshinai Honō no Naka e" (Nhật: 果てしない炎の中ヘ? "Into the Eternal Flame")
  • "Revolution"
    • Lyrics: Yuko Ebine
    • Composition & Arrangement: Mikio Sakai
    • Artist: Hiroshi Kitadani
    • Episodes: 34-37, 39-50, TV Special
  • "Lonely Soldier"

Chương trình ở nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2009, hãng Saban của Mỹ đã mua bản quyền loạt phim Kamen Rider Ryuki để viết thành một cốt truyện riêng với cái tên Kamen Rider Dragon Knight và được trình chiếu ở các quốc gia. Ở Hàn Quốc, Kamen Rider Ryuki được biết với cái tên Masked Rider Dragon (가면라이더 드래건 Gamyeon Raideo Deuraegeon) và công chiếu ngày 14 tháng 2 năm 2005. Còn ở Philippines, loạt phim được chiếu dưới cái tên Masked Rider Ryuki trên kênh ABS-CBN 2, Malay trên kênh NTV7, và ở Indonesian trên đài Indosiar

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Agito
Kamen Rider
2002 – 2003
Kế nhiệm:
555