Nhà hát Chèo Hưng Yên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các đoàn chèo, nhà hát chèo Việt Nam

Nhà hát Chèo Hưng Yên là đơn vị sự nghiệp công lập có thu trực thuộc Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch Hưng Yên. Đây là tổ chức nghệ thuật chuyên nghiệp của tỉnh; có chức năng tổ chức biểu diễn, nghiên cứu, liên kết, hướng dẫn, truyền nghề về nghệ thuật chèo nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, góp phần bảo tồn và phát triển nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Đây là một đơn vị nghệ thuật thuộc chiếng Chèo xứ Đông.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1997, khi tái lập tỉnh Hưng Yên thì Ðoàn chèo Hưng Yên cũng được thành lập từ nguồn diễn viên, nhạc công của Ðoàn chèo Hải Hưng cũ. Khi đầu chỉ có 12 cán bộ, diễn viên nhưng chỉ sau hơn mười năm, Ðoàn chèo Hưng Yên đã trở thành một đơn vị nghệ thuật có vị trí xứng đáng trong làng sân khấu chuyên nghiệp của Việt Nam.

Hưng Yên là đất chèo gốc, là cái nôi của các làn điệu chèo cổ. Ðất Sơn Nam hạ xưa đã sản sinh ra những nghệ sĩ nổi tiếng như Phạm Thị Trân, Ðào Văn Só, Sái Ất, Ðào Thị Huệ và sau này là Phạm Ðình Nghị.

Lúc mới thành lập, lực lượng quá mỏng, cơ sở vật chất yếu kém, tất cả cán bộ, diễn viên đều nhận thức sâu sắc điều này và cố gắng hết sức mình vừa luyện tập chuyên môn có chất lượng cao vừa phải tìm mọi cách đưa nghệ thuật chèo đi sâu vào công chúng. Vừa dựng vở, đoàn vừa đi xuống các làng, xã biểu diễn các trích đoạn chèo cổ và các chương trình thời sự ngắn phục vụ nhiệm vụ các địa phương. Thậm chí đoàn còn vào Tây Nguyên phục vụ bà con quê Hưng Yên đi xây dựng kinh tế mới.

Ðoàn đã biểu diễn thành công vở Tống Trân - Cúc Hoa trên sóng Ðài Truyền hình Việt Nam được đông đảo khán giả trong nước và kiều bào nước ngoài hoan nghênh, khen ngợi. Các vở diễn của đoàn như: Hải Thượng Lãn Ông, Lưu Bình Dương Lễ. Tấm Cám, Hương Cúc, Nỗi đau người lương thiện, Người tử tù, Nàng Trinh Nguyên, Giọt máu đào, Em phải xa anh... và hàng chục trích đoạn, tiểu phẩm được biểu diễn ở trong và ngoài tỉnh thu hút hàng vạn lượt người xem. Ðoàn chèo Hưng Yên đã thể hiện những nét riêng của mình, khai thác và phát huy rất tốt vốn cổ không ngừng vươn lên từ các nôi chèo truyền thống.

Ngày 28 tháng 10 năm 2008, tỉnh Hưng Yên ban hành quyết định Số: 2013/QĐ-UBND nâng cấp Đoàn Chèo thành Nhà hát Chèo Hư­ng Yên .

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xây dựng, dàn dựng các chương trình của loại hình nghệ thuật sân khấu chèo; tổ chức biểu diễn loại hình nghệ thuật chèo và các loại hình nghệ thuật sân khấu diễn xướng dân gian truyền thống khác phục vụ khán giả và tham gia các hội diễn, liên hoan trong tỉnh, trong nước, ngoài nước;
  • Tổ chức nghiên cứu khoa học trong việc khôi phục, bảo tồn, phát triển, truyền bá nghệ thuật chèo truyền thống và các loại hình nghệ thuật sân khấu, diễn xướng dân gian khác như trống quân, ca trù …; thử nghiệm những sáng tác mới;
  • Phối hợp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho diễn viên và các thành viên khác của nhà hát. Phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, truyền nghề cho các tài năng trẻ có triển vọng;
  • Hướng dẫn việc nâng cao nhu cầu thưởng thức nghệ thuật chèo của xã hội, việc bảo tồn nghệ thuật chèo trong phong trào văn nghệ quần chúng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên;
  • Tổ chức giao lưu, hợp tác trong và ngoài nước về chuyên môn, nghiệp vụ để không ngừng nâng cao trình độ và đa dạng hình thức hoạt động;
  • Tổ chức một số hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực nghệ thuật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát theo quy định của pháp luật và của tỉnh;
  • Quản lý về tổ chức, biên chế, cán bộ, viên chức và người lao động; về tài sản, tài chính của nhà hát theo quy định của Nhà nước và của tỉnh;
  • Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch giao và theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lãnh đạo Nhà hát, gồm: Giám đốc và 03 Phó giám đốc (trong đó 02 Phó giám đốc kiêm Tr­ưởng đoàn Nghệ thuật 1 và Trư­ởng đoàn Nghệ thuật 2).
  2. Các tổ chức trực thuộc, gồm:
  • Phòng Tổ chức - Hành chính - Quản trị;
  • Phòng Nghệ thuật (nghiên cứu, bảo tồn và phát triển nghệ thuật chèo);
  • Đoàn Nghệ thuật I;
  • Đoàn Nghệ thuật II;
  • Dàn nhạc dân tộc;
  • Đội xe máy và hậu đài.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]