Rùa Hồ Gươm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rùa Hồ Gươm
Rùa Hồ Gươm.jpg
Hình chụp lúc 05:55:58 ngày 15 tháng 7, 2008.
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Sauropsida
Reptilia
Bộ (ordo) Testudines
Họ (familia) Trionychidae
Chi (genus) Rafetus
Loài (species) R. vietnamensis
Danh pháp hai phần
Rafetus vietnamensis
Lê và ctv. 2010[2][3]
Danh pháp đồng nghĩa
Rafetus leloii Hà Đình Đức, 2000

Rùa Hồ Gươm là con rùa sống tại Hồ Gươm, và có thể là một loài rùa mới với danh pháp khoa họcRafetus vietnamensis (đồng nghĩa: Rafetus leloii, rùa Lê Lợi[4]), thuộc họ Ba ba (Trionychidae) trong bộ Rùa (Testudines), lớp Sauropsida (Mặt thằn lằn).

Tuy nhiên, có sự tranh luận về sự phân loại này và theo một số chuyên gia quốc tế có uy tín, Rùa Hồ Gươm thuộc loài Rafetus swinhoei (Rùa mai mềm Thượng Hải), và tại thời điểm năm 2010, chỉ còn 4 cá thể còn sống.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Có ý kiến cho rằng, không nên gọi Rùa Hồ Gươm là rùa, mà nên gọi là ba ba lớn hay giải. Trong tiếng Trung Quốc, con này được gọi là ban miết hay lại đầu ngoan (ba ba chốc đầu) và loại rùa da trơn có vỏ mai mềm (miết, ngoan) này không được xếp vào hàng tứ linh của các loài Long, Lân, Quy, Phụng vì nó không phải là Quy về mặt danh xưng.[5]

Rùa Hồ Gươm[sửa | sửa mã nguồn]

Rùa Hồ Gươm có kích thước khá lớn, đầu tương đối nhỏ và rộng, mõm ngắn, tròn, vòi rất ngắn, lưng màu vàng lục có những đốm vàng, yếm bụng màu trắng nhạt. Mai rùa mềm chứ không cứng như loài rùa thông thường.

Theo di thể rùa chết vào thập niên 1960 hiện lưu giữ trong đền Ngọc Sơn thì cá thể đó cân nặng 250 kg với chiều dài 2,1 m và chiều rộng 1,8 m. Cá thể mà thành phố Hà Nội bắt để chữa trị vết thương trên thân rùa hồi tháng 4 năm 2011, giống cái, nặng 169 kg với chiều dài toàn thân của Rùa là 185 cm; chiều rộng mai là 99 cm, chiều dài đuôi là 35 cm.[6][7]

Cũng theo giả thuyết của PGS Hà Đình Đức, Rùa Hồ Gươm có thể có nguồn gốc từ Lam Kinh, Thanh Hóa, cùng quê với vua Lê Lợi, và được vua Lê thả vào Hồ Gươm, vì trước đó không có thông tin gì về loài rùa lớn nào tại Thăng Long[8] Theo GS Lê Trần Bình, so sánh cho thấy mẫu ADN của rùa hồ Gươm giống rùa Quảng Phú - Thanh Hóa.[7]

Rùa Đồng Mô[sửa | sửa mã nguồn]

Một cá thể rùa bị bắt và thoát chết năm 2008 tại Đồng Mô, Hà Tây cũ, cũng được xem là đồng chủng với Rùa Hồ Gươm,[9], có chiều dài 90 cm, ngang 70 cm, cân nặng chừng 80–90 kg, mép màu vàng, đầu đốm rằn ri và mai màu xanh xám.[10] Ông Douglas Hendri, giám đốc Chương trình Bảo tồn rùa châu Á đã từng dựng lều trại tại bờ hồ, rồi đêm ngủ tại lều, ngày theo ngư dân đánh cá để tìm kiếm rùa.[10] Ông Douglas khẳng định đã làm xét nghiệm ADN rùa Đồng Mô tại Viện Sinh thái Tài nguyên sinh vật và kết quả xét nghiệm cho thấy rùa Đồng Mô cùng loài với rùa Hồ Gươm, cùng loài Rafetus swinhoei với cả 2 con giải hiện đang được nuôi dưỡng trong vườn thú ở Trung Quốc.[10] Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (CI) cũng xác định con rùa mai mềm lớn ở Đồng Mô thuộc loài Rùa Hoàn Kiếm.[11]

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Rùa Hồ Gươm chậm chạp, hiền lành, thường sống ở những sông hồ sâu, nước chảy yếu. Khi trời nóng thường hay ngóc cổ lên khỏi mặt nước để thở. Mùa đông thỉnh thoảng phơi nắng.

Theo lời của phó giáo sư Hà Đình Đức,[12] rùa Hồ Gươm từng có 4 cá thể:

  1. Cá thể duy nhất hiện còn sống trong lòng hồ Gươm.
  2. Ba cá thể đã chết.
    1. Một cá thể chết ngày 2 tháng 7 1967, xác được lưu giữ trong đền Ngọc Sơn.[13]
    2. Một cá thể có xác được lưu trong chùa Hưng Ký (Hoàng Mai, Hà Nội), hiện chuyển về Bảo tàng Hà Nội.
    3. Một cá thể bị giết thịt năm 1962-1963, khi bò lên vườn hoa Chí Linh (nay là vườn hoa tượng đài Lý Thái Tổ) sau một cơn mưa lớn.

Tuy nhiên, một số báo chí gần đây đưa tin là có khả năng có hơn 1 cá thể rùa Hồ Gươm hiện còn sinh tồn.[14][15][16] Nhưng cho dù thế nào đi chăng nữa thì rùa Hồ Gươm hiện có số lượng rất ít, thuộc diện động vật quý hiếm ở mức đặc biệt nguy cấp, cần được bảo vệ.

Tranh luận về số lượng cá thể và phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Đình Đức (người định danh Rafetus leloii, năm 2000), Lê Trần Bình (Viện Công nghệ Sinh học, cùng ctv định danh Rafetus vietnamensis năm 2010)[5][17] và một số nhà khoa học Việt Nam cho rằng rùa Hồ Gươm là loài mới, chỉ có ở Việt Nam. Tuy nhiên các tài liệu khác lại cho rằng hoặc đó là một loài giải lớn với danh pháp Pelochelys bibroni (Sách đỏ Việt Nam năm 1992) hay Rafetus swinhoei.[18] Cũng theo trang web này thì hiện nay người ta chỉ biết 4 cá thể R. swinhoei còn sống tại thời điểm năm 2010, trong đó một cá thể sống tại hồ Gươm (hồ Hoàn Kiếm) của Việt Nam, 1 tại hồ Đồng Mô (Hà Tây cũ) [9] và 2 cá thể kia tại Trung Quốc (1 tại Vườn thú Tô Châu, 1 tại Vườn thú Trường Sa). Hai cá thể khác bắt được tại Cá Cựu (tỉnh Vân Nam) đã chết gần đây bao gồm 1 tại Vườn thú Bắc Kinh chết năm 2005, 1 tại Vườn thú Thượng Hải chết cuối năm 2006. Ngoài ra hiện nay có nhiều lời kể về "giải khổng lồ" xuất hiện ở một số đầm phá dọc sông Hồng, nên còn hy vọng những cá thể khác vẫn tồn tại trong thiên nhiên.

Các tác giả Farkas B. và Webb R.G. vào năm 2003[19] cho rằng danh pháp R. leloii là một đơn vị phân loại không hợp lệ và chỉ là từ đồng nghĩa muộn của R. swinhoei. Mặc dù GS Lê Trần Bình chỉ ra sự khác biệt di truyền, cũng như sự khác biệt về hình thái, qua hình chụp.[17] Tuy nhiên, Farkas và đồng nghiệp trong năm 2010 đã lặp lại kết luận của họ năm 2003, cho là sự khác biệt giữa các mẫu vật có thể là do tuổi tác và trình tự, mẫu gen được sử dụng đã không bao giờ được gửi đến GenBank. Họ cũng chỉ trích việc GS Lê Trần Bình vi phạm Mã ICZN qua việc đổi tên các loài từ R. leloii thành R. vietnamensis là "không phù hợp".[20]

Nhóm tác giả Le MD và Pritchard P. vào năm 2009[21] dựa trên phân tích dữ liệu ADN đã cho rằng sự khác biệt giữa ADN của những cá thể trong mẫu phân tích của Lê TB và ctv [2] với ADN của loài Rafetus swinhoei là không đủ để kết luận loài mới. Ông Douglas Hendri, giám đốc Chương trình Bảo tồn rùa châu Á, cán bộ Trung tâm Giáo dục thiên nhiên ENV đưa ra ý kiến rằng rùa Hồ Gươm thuộc loài Rafetus swinhoei và đưa ra khả năng duy trì bằng cách cho lai với rùa hồ Đồng Mô hoặc với rùa tại vườn thú Trung Quốc.[22] Rhodin et al. (2010)[23] vẫn coi rùa Hồ Gươm là R. swinhoei.

Tháng 4 năm 2011, một con rùa Hồ Gươm đã bị bắt để chữa bệnh và lấy mẫu gen để phân tích. Theo thông báo trên Dân Trí thì "...từ mẫu ADN các nhà phân loại học cũng cho biết, đây là loài mới ở Việt Nam, khác hẳn với loại rùa mai mềm ở Thượng Hải, Trung Quốc...,"[24][25], nhưng hiện vẫn chưa có bài báo khoa học nào công bố kết quả phân tích này.

Truyền thuyết và vai trò văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

rùa hồ gươm

Rùa trong Hồ Gươm gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm thần Thuận Thiên cho thần rùa Kim Quy. Ngay địa danh của hồ cũng căn cứ trên truyền tích đó vào đầu thời nhà Hậu Lê. Truyền thuyết thần Kim Quy còn đi ngược dòng lịch sử của người Việt xa hơn nữa với chuyện thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa và tặng nhà vua cái móng để làm lẫy nỏ chống quân của Triệu Đà.

Vào thế kỷ 20 một số tác phẩm văn học Việt Nam lấy rùa của Hồ Gươm Hà Nội làm đề tài. Trong đó có truyện Thần Tháp Rùa của Vũ Khắc KhoanRùa Hồ Gươm của Nguyễn Dậu (Trương Mẫn Song).

Người Việt Nam vẫn thường gọi rùa khổng lồ sống ở Hồ Gươm là "Cụ" với hàm ý tôn kính, và đây cũng là biểu tượng gắn liền với truyền thuyết Gươm thần và lịch sử giữ nước, là phần tâm linh đáng trân trọng.[26]

Bảo vệ môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Vì giá trị văn hóa của rùa Hồ Gươm, tháng 6 năm 2009 công ty Herbst Umwelttechnik GmbH của Đức được giao phó việc khảo nghiệm hút bớt lớp bùn sâu lắng ở đáy hồ để khơi lòng hồ, giảm lượng độc chất ứ đọng sau bao nhiêu năm ô nhiễm hầu bảo vệ môi trường cho rùa Hồ Gươm. Dự án với chi phí 2,8 triệu Mỹ kim hoàn tất trước năm 2010, cũng là 1000 năm tuổi của Thăng Long.[27]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Asian Turtle Trade Working Group (2000). Rafetus swinhoei. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 6-4-2011. Mục từ trong CSDL bao gồm cả diễn giải tại sao loài này được coi là nguy cấp.
  2. ^ a ă Lê Trần Bình và ctv., 2010, So sánh hình thái và phân tích ADN mẫu rùa lớn mai mềm nước ngọt của Việt Nam gần với rùa hồ Hoàn Kiếm (Comparative morphological and DNA analysis of specimens of giant freshwater soft-shelled turtle in Vietnam related to Hoan Kiem turtle), Tạp chí Công nghệ Sinh học, 8(3A):949-954, song ngữ Anh-Việt.
  3. ^ Rafetus vietnamensis LE et al., 2010 trên The Reptile Database [[]][liên kết hỏng]
  4. ^ Dựa trên một số nghiên cứu về hình thái học của ông Hà Đình Đức, phó giáo sư Đại học Quốc gia Hà Nội.
  5. ^ a ă Định danh khoa học cho cụ Rùa: Lê Lợi hay Việt Nam? Xuân Hồng, Báo điện tử Kiến thức - Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, cập nhật 11:03 16/04/2011 (GMT+7)
  6. ^ Hương Thu (14 tháng 4 năm 2011). “Rùa hồ Gươm có thể không cùng loài giải Thượng Hải”. VnExpress. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  7. ^ a ă ADN rùa hồ Gươm giống rùa Thanh Hóa , Giáo Dục Việt Nam, 23/04/2011
  8. ^ Đi tìm "quê hương" cụ rùa Hồ Gươm
  9. ^ a ă Hãy giữ nước Đồng Mô để bảo vệ rùa khổng lồ , Thể thao Văn hóa, 31/03/2010
  10. ^ a ă â "Cụ" rùa Đồng Mô và cá thể rùa khổng lồ thứ tư trên thế giới
  11. ^ Họ hàng của Rùa hồ Gươm có nguy cơ "mất tích"
  12. ^ Lê Xuân Sơn (29 tháng 1 năm 2006). “Bên Hồ Gươm, lại bàn chuyện Rùa Thiêng”. Báo Tiền Phong. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011. 
  13. ^ Cái chết của 'cụ Rùa' trong đền Ngọc Sơn
  14. ^ Hương Thu, Vnexpress.net, 4-4-2011, Tìm cụ Rùa thứ 2 tại hồ Gươm
  15. ^ K. T. tổng hợp, VietNamNet, 5-4-2011, Nhiều người thấy 2 cụ rùa nổi cùng lúc
  16. ^ Kiên Trung, VietNamNet, 6-4-2011, Đợi nắng ấm sẽ 'bắt' nốt cụ rùa còn lại!
  17. ^ a ă Le, Tran Binh. “COMPARATIVE MORPHOLOGICAL AND DNA ANALYSIS OF SPECIMENS OF GIANT FRESHWATER SOFT-SHELLED TURTLE IN VIETNAM RELATED TO HOAN KIEM TURTLE”. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012. 
  18. ^ Asian Turtle Conservation Network - species: Rafetus swinhoei
  19. ^ Farkas B., Webb R. G., 2003. Rafetus leloii Hà Dinh Duc, 2000 — an invalid species of softshell turtle from Hoan Kiem Lake, Hanoi, Vietnam (Reptilia, Testudines, Trionychidae). Zool. Abhandl. (Dresden), 53: 107-112.
  20. ^ Farkas, Balázs; Minh Duc Le, Truong Quang Nguyen (2011). “Rafetus vietnamensis Le, Le, Tran, Phan, Phan, Tran, Pham, Nguyen, Nong, Phan, Dinh, Truong and Ha, 2010 – another invalid name for an invalid species of softshell turtle (Reptilia: Testudines: Trionychidae)”. Russian Journal of Herpetology. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012. 
  21. ^ Le, M.D. & P. Pritchard, 2009. Genetic Variability of the Critically Endangered Softshell Turtle, Rafetus swinhoei: A Preliminary Report. In the Proceedings of the First Vietnamese National Symposium on Reptiles and Amphibians, pp. 84-92.
  22. ^ Rùa quý Sơn Tây có thể 'hợp duyên' với rùa Hồ Gươm?
  23. ^ Turtles of the World: 2010 Update
  24. ^ Quang Phong (4 tháng 9 năm 2011). “Cụ Rùa không mắc trọng bệnh”. Dân Trí. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011. 
  25. ^ Hương Thu (14/04/2011). “Rùa hồ Gươm có thể không cùng loài giải Thượng Hải”. vnexpress. Truy cập 23/04/2011. 
  26. ^ Cụ Rùa Hồ Gươm: Từ truyền thuyết tới hiện tại, Đại Đoàn Kết, (27/01/2011)
  27. ^ Testing begins to save legendary Vietnam turtle

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nuvola apps kview.png Hình ảnh
Searchtool.svg Con rùa bắt được ở hồ Quỳnh Lâm (thành phố Hòa Bình) hiện trưng bày ở bảo tàng tỉnh. Theo chú thích của bảo tàng thì đây là một con ba ba 300 tuổi!
Searchtool.svg Sọ rùa thu được ở Thanh Hóa. Hình của Hà Đình Đức.
Searchtool.svg Bộ xương rùa khổng lồ từng được lưu giũ ở chùa Hưng Ký, hiện được trưng bày ở Bảo tàng Hà Nội.
Searchtool.svg Bộ hàm của loài rùa Hồ Gươm (Ảnh chụp sọ rùa ở Bảo tàng Hà Nội)
Searchtool.svg Bộ vuốt của loài rùa Hồ Gươm (Ảnh chụp xương rùa ở Bảo tàng Hà Nội)