Shiranui (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shiranui
Tàu khu trục Shiranuhi vào ngày 20 tháng 12 năm 1939
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Shiranui
Đặt hàng: 1937
Đặt lườn: 30 tháng 8 năm 1937
Hạ thủy: 28 tháng 6 năm 1938
Nhập biên chế: 20 tháng 12 năm 1939
Xóa đăng bạ: 10 tháng 12 năm 1944
Số phận: Bị máy bay Lực lượng Đặc nhiệm 77 Hải quân Mỹ đánh chìm, 27 tháng 10 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kagerō
Trọng tải choán nước: 2.000 tấn Anh (2.032 t) (tiêu chuẩn)
2.500 tấn Anh (2.540 t) (đầy tải)
Độ dài: 116,20 m (381 ft 3 in) (mực nước)
118,50 m (388 ft 9 in) (chung)
Sườn ngang: 10,80 m (35 ft 5 in)
Mớn nước: 3,76 m (12 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước Kanpon
3 × nồi hơi ống nước Kampon
2 × trục
công suất 52.000 mã lực (38,8 MW)
Tốc độ: 35,5 hải lý một giờ (40,9 mph; 65,7 km/h)
Tầm xa: 5.000 nmi (9.300 km) ở tốc độ 18 kn (21 mph; 33 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
239
Vũ trang: 6 × hải pháo Kiểu 3 127 mm/50 caliber (3×2)
28 × pháo 25 mm Kiểu 96 phòng không
4 × pháo phòng không 13 mm Kiểu 95
8 × ống phóng ngư lôi Kiểu 92
36 × mìn sâu Kiểu 95

Shiranui (tiếng Nhật: 不知火) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp Kagerō đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Vào ngày 26 tháng 10 năm 1944, sau Trận chiến eo biển Surigao, Shiranuhi được gửi đi tìm kiếm các tàu chiến bị mất tích: tàu tuần dương Kinu và tàu khu trục Uranami, rồi sau đó hỗ trợ cho chiếc Hayashimo. Sang ngày 27 tháng 10, nó bị máy bay của Lực lượng Đặc nhiệm 77 Hải quân Hoa Kỳ đánh chìm ở cách 150 km (80 dặm) về phía Bắc Iloilo, Panay, ở tọa độ 12°0′B 122°30′Đ / 12°B 122,5°Đ / 12.000; 122.500.

Shiranuhi được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 12 năm 1944.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 12°0′B 122°30′Đ / 12°B 122,5°Đ / 12.000; 122.500