Tanikaze (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tanikaze
Tàu khu trục Tanikaze vào tháng 4 năm 1941
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Tanikaze
Đặt lườn: 18 tháng 10 năm 1939
Hạ thủy: 1 tháng 11 năm 1940
Nhập biên chế: 25 tháng 4 năm 1941
Xóa đăng bạ: 10 tháng 8 năm 1944
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ Harder đánh chìm gần Tawitawi, 9 tháng 6 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kagerō
Trọng tải choán nước: 2.000 tấn Anh (2.032 t) (tiêu chuẩn)
2.500 tấn Anh (2.540 t) (đầy tải)
Độ dài: 116,20 m (381 ft 3 in) (mực nước)
118,50 m (388 ft 9 in) (chung)
Sườn ngang: 10,80 m (35 ft 5 in)
Mớn nước: 3,76 m (12 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước Kanpon
3 × nồi hơi ống nước Kampon
2 × trục
công suất 52.000 mã lực (38,8 MW)
Tốc độ: 35,5 hải lý một giờ (40,9 mph; 65,7 km/h)
Tầm xa: 5.000 nmi (9.300 km) ở tốc độ 18 kn (21 mph; 33 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
239
Vũ trang: 6 × hải pháo Kiểu 3 127 mm/50 caliber (3×2)
28 × pháo 25 mm Kiểu 96 phòng không
4 × pháo phòng không 13 mm Kiểu 95
8 × ống phóng ngư lôi Kiểu 92 (2×4)
16 × ngư lôi 610 mm Kiểu 93
36 × mìn sâu Kiểu 95

Tanikaze (tiếng Nhật: 谷風) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp Kagerō đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Vào tháng 6 năm 1942, Tanikaze đã tham gia trận Midway, nơi nó bị hư hại nhẹ do không kích. Cuối năm đó, nó bận bịu với các nhiệm vụ vận chuyển đến Guadalcanal, và trong những tháng đầu năm 1943 nó giúp vào việc triệt thoái lực lượng Nhật Bản còn lại khỏi hòn đảo này.

Vào ngày 9 tháng 6 năm 1944, Tanikaze bị tàu ngầm Mỹ Harder phóng ngư lôi đánh chìm trong eo biển Sibutu gần Tawitawi, cách 90 dặm (170 km) về phía Tây Nam Basilan, ở tọa độ 05°42′B 120°41′Đ / 5,7°B 120,683°Đ / 5.700; 120.683.

Tanikaze được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 8 năm 1944

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 05°42′B 120°41′Đ / 5,7°B 120,683°Đ / 5.700; 120.683