Terence Tao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Terence Chi-Shen Tao
Giáo sư Terence Tao
Sinh 17 tháng 7, 1975 (39 tuổi)
Quốc tịch Úc Úc
Ngành Toán học
Nơi công tác UCLA
Alma mater Đại học Flinders, Đại học Princeton
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ Elias M. Stein
Nổi tiếng vì Giải tích điều hòa, Phương trình vi phân từng phần, Toán học tổ hợp, Lí thuyết giải tích sốLí thuyết biểu diễn
Giải thưởng Giải Salem (2000)
Giải Fields (2006)
FRS (2007)

Terence Tao tức Đào Triết Hiên (陶哲轩/軒) là nhà toán học người Úc chuyên về giải tích điều hòa, phương trình đạo hàm riêng, lí thuyết tổ hợp, lí thuyết số giải tíchlí thuyết biểu diễn. Ông hiện là giáo sư toán tại trường Đại học California, Los Angeles. Ông giữ chức này từ năm 24 tuổi.[1] Tháng 8 năm 2006, ông được trao Huy chương Fields cho những đóng góp về Toán học.[2] Huy chương Fields được coi là giải thưởng cao quý nhất dành cho các nhà toán học. Chỉ một tháng sau, tức là vào tháng 9 năm 2006, ông được trao học bổng MacArthur.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Terence Tao sinh ngày 17 tháng 7 năm 1975 tại Adelaide, Úc. Bố mẹ ông đều là người Trung Quốc và thuộc thế hệ những người đầu tiên nhập cư từ Hồng Kông vào Úc.[3] Bố của ông, Đào Tượng Quốc (陶象国), là một bác sĩ nhi khoa còn mẹ ông tốt nghiệp cử nhân từ trường Đại học Hồng Kông và đã từng là giáo viên Toán bậc trung học tại Hồng Công.[4]

Bố ông nói rằng trong một cuộc gặp mặt gia đình, Terence Tao lúc đó mới 2 tuổi đã dạy Toántiếng Anh cho một cậu bé 5 tuổi. Khi được hỏi tại sao ông biết số và chữ, bố ông đã trả lời ông học được từ chương trình truyền hình Sesame Street.[5] Terence Tao nói tiếng Quảng Đông, nhưng không biết viết chữ Hán và không nói được tiếng Trung Quốc phổ thông.

Ông hiện đang sống với vợ Laura Kim và con trai William Kwang-Hee Tao (tên thân mật: Liam) tại Los Angeles, .

Em trai ông Trevor Tao, đang sống ở Adelaide, Úc, là một trong 10 kì thủ hàng đầu của Úc

Thần đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Terence Tao thể hiện khả năng toán cực kỳ đặc biệt ngay từ khi còn nhỏ. Ông học đại học khi mới 9 tuổi. Ông là một trong hai đứa trẻ duy nhất trong lịch sử của chương trình nghiên cứu tài năng đặc biệt của Johns Hopkins đạt trên 700 điểm trong kì thi Toán SAT khi mới 8 tuổi (ông được 760 điểm).[6] Liên tiếp trong ba năm 1986, 1987 và 1988, Terence Tao là thí sinh trẻ tuổi nhất tại thời điểm đó tham dự kì thi Olympic Toán quốc tế và giành lần lượt huy chương đồng, bạc và vàng. Ông giành huy chương vàng khi vừa mới bước qua tuổi 13 và hiện đang là người nhỏ tuổi nhất từng đoạt huy chương vàng trong lịch sử các kì thi. Terence Tao tham gia viện Khoa học nghiên cứu vào năm 14 tuổi. Ông có bằng cử nhân và thạc sỹ của trường Flinders khi mới 17 tuổi. Năm 1992 ông giành học bổng Fulbright để nghiên cứu tiến sĩ tại Mĩ. Từ năm 1992 đến năm 1996, ông là nghiên cứu sinh tại trường Đại học Princeton dưới sự hướng dẫn của Elias Stein, và nhận bằng tiến sĩ khi mới 20 tuổi.[7] Cùng năm đó ông gia nhập đội ngũ giảng dạy của trường UCLA.

Nghiên cứu và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông giành giải Salem vào năm 2000, giải tưởng niệm Bôcher năm 2002 và giải Clay năm 2003 cho những đóng góp về giải tích liên quan đến giả thuyết Kakeyaánh xạ sóng. Năm 2005 cùng với Allen Knutson, ông giành giải thưởng Levi L. Conant của Hội Toán học Mĩ, và năm 2006 ông được trao giải SASTRA Ramanujan.

Năm 2004, Ben Green và Terence Tao công bố một tiền ấn phẩm chứng minh sự tồn tại của cấp số cộng có độ dài bất kì của các số nguyên tố. Qua đó ông được trao Huy chương Hiệp hội Toán học Úc.

Năm 2006, tại Đại hội Toán học quốc tế lần thứ 25 ở Madrid, ông là một trong những người trẻ nhất, người Úc đầu tiên và là giáo sư đầu tiên của UCLA giành Huy chương Fields. Một bài báo của tạp chí NewScientist[8] viết về ông:

Terence Tao nổi tiếng đến mức mà những nhà toán học tranh nhau lôi cuốn ông ta về bài toán của mình, và ông trở thành một trong những Ông Thợ-giải-toán cho những người nghiên cứu nản chí. "Nếu bạn bị bế tắc trong một bài toán, một trong những cách giải quyết là tìm cách lôi cuốn Terence Tao," Fefferman nói.

Terrance lọt vào vòng chung khảo của Người Úc xuất sắc nhất năm 2007.[9] Anh là thành viên không thường trực của Học viện khoa học úc và năm 2007 anh được bầu làm thành viên Hội hoàng gia.[10][11]

Tháng 4 năm 2008, Terrance nhận giảiAlan T. Waterman Award ghi nhận các nhà khoa học mới bắt đầu sự nghiệp đã có những đóng góp trong lĩnh vực của mình. Ngoài huy chương, người được giải Waterman còn được nhận 500,000 đô la Mỹ để đầu tư vào nghiên cứu.[12]

Năm 2008, ông được công nhận là giảng viên Lars Onsager cho những đóng góp có chiều sâu, ``chiều rộng và khối lượng chưa từng có trong toán học đương đại". Terrance được tặng huân chương Onsager và giảng bài Lars Onsager có tiêu đề "Cấu trúc và ngẫu nhiên của số nguyên tố"[13] at NTNU, Norway.

Năm 2010, Terrance nhận giải King Faisal International Prize cùng với Enrico Bombieri.[14] Cũng trong năm này, ông nhận giải Nemmers toán học.[15]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Terence Tao: Mozart của Toán học www.college.ucla.edu, 9 November 2005. Truy xuất 31 tháng 8, 2006. {Tiếng Anh}
  2. ^ Giải IMU 2006 29 tháng 8, 2006
  3. ^ Wen Wei Po, trang A4, 24 tháng 8, 2006.
  4. ^ Oriental Daily, Trang A29, 24 tháng 8, 2006.
  5. ^ Apple Daily, Trang A4, 24 tháng 8, 2006.
  6. ^ Radical acceleration in Australia: Terence Tao Gross, M. Truy xuất 31 tháng 8, 2006
  7. ^ It's prime time as numbers man Tao tops his Field Stephen Cauchi, 23 tháng 8, 2006. Truy xuất 31 tháng 8, 2006.
  8. ^ NewScientist.com, Prestigious Fields Medals for mathematics awarded, 22 tháng 8, 2006.
  9. ^ National Australia Day Committee, 2007 Australian of the Year Finalists. Retrieved 2007-01-27.
  10. ^ Annual report, Australian Academy of Science, 2008.
  11. ^ Fellows and Foreign Members of the Royal Society, retrieved 2010-06-09.
  12. ^ National Science Foundation, Alan T. Waterman Award. Retrieved 2008-04-18.
  13. ^ NTNU's Onsager Lecture, by Terence Tao trên YouTube
  14. ^ King Faisal Foundation, - retrieved 2010-01-11.
  15. ^ http://www.northwestern.edu/newscenter/stories/2010/04/nemmers.html.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]