Vệ Linh công
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Vệ Linh công (chữ Hán 衛靈公,?-493 TCN, trị vì 534 TCN-493 TCN)[1][2]), tên thật là Cơ Nguyên (姬元), là vị vua thứ 28 của nước Vệ, một chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.
Mục lục |
Thân thế[sửa]
Cơ Nguyên là con trai của Vệ Tương công, vua thứ 27 của nước Vệ.
Theo Sử kí, Vệ Tương công có một người thiếp yêu, một hôm bà nằm mộng thấy một đứa trẻ tự xưng là Khang Thúc (tổ tiên nước Vệ) nói mình sẽ đầu thai làm con bà và muốn được đặt tên là Nguyên và sau đó mang thai. Người thiếp đem việc này nói với Vệ Tương công. Vệ Tương công cho là ý trời, nên khi đứa trẻ ra đời bèn đặt tên là Nguyên[1].
Vệ Tương phu nhân không có con nên Cơ Nguyên được lập làm thế tử. Tháng 8 năm 535 TCN, Vệ Tương công qua đời, Cơ Nguyên lên ngôi vua, tức Vệ Linh công.
Quan hệ với chư hầu[sửa]
Năm 530 TCN, Vệ Linh công sang nước Tấn, triều kiến Tấn Chiêu công.
Năm 529 TCN, Vệ Linh công đến dự hội chư hầu do Tấn Chiêu công tổ chức cùng các nước Tống, Lỗ, Trịnh, Tào, Cử, Chu, Đằng, Tiết, Kỉ, Tiểu Chu ở đất Bình Khưu thuộc nước Vệ.
Tháng 6 năm 522 TCN, anh Vệ Linh công là công tử Trập nổi lên chống lại ông. Vệ Linh công bỏ chạy khỏi kinh đô. Tướng nước Vệ là Công tôn Thanh phò tá Vệ Linh công, đem quân dẹp loạn và đón ông về kinh.
Năm 521 TCN, họ Hoa, họ Hướng nước Tống chống Tống Nguyên công. Vệ Linh công điều quân hợp với các nước Tấn, Tào cứu vua Tống, đánh họ Hoa. Họ Hoa trốn sang nước Sở[3].
Năm 517 TCN, Lỗ Chiêu công mâu thuẫn với các họ quý tộc trong nước, bị Quý tôn Ý Như đuổi phải bỏ chạy sang nước Tề. Năm 516 TCN, Vệ Linh công và Tống Cảnh công sai sứ sang Tấn, đề nghị nước Tấn giúp Lỗ Chiêu công về nước, trị tội họ Quý. Nhưng đại phu họ Quý nước Lỗ sai sứ sang đút lót cho đại phu họ Phạm để nước Tấn đừng giúp vua Lỗ. Lục khanh tâu với Tấn Khoảnh công rằng họ Quý không có lỗi. Vì vậy nước Tấn không ra tay giúp Lỗ Chiêu công.
Năm 506 TCN, Sái Chiêu hầu bị lệnh doãn nước Sở là Nang Ngoã hối lộ không được, bị giữ lại 3 năm. Sau khi về nước, Sái Chiêu hầu gửi con tin cho Tấn Định công, xin Tấn giúp đánh Sở. Vệ Linh công cùng các nước Tấn, Tề, Lỗ, Tống, Vệ, Trịnh, Trần, Cử, Chu, Đằng, Đốn, Tiết, Hồ, Kỷ, Tiểu Châu để bàn đánh nước Sở để giúp Sái đến hội chư hầu cùng nước Tấn bàn đánh Sở giúp Sái. Đại phu nước Tấn là Tuân Dần lại đòi nước Sái hối lộ nhưng không được bèn bãi binh rút về. Từ đó nước Tấn mất tín nhiệm của nước bá chủ với chư hầu[1][4].
Năm 504 TCN, Lỗ Định công đem quân đánh nước Trịnh, chiếm được đất Khuông[5]/. Trên đường rút lui, tướng Lỗ là Dương Hổ không thông báo với Vệ Linh công mà hành quân gần kinh đô nước Vệ. Vệ Linh công tức giận, sai Di Tử Hà truy kích quân Lỗ. Sau nhờ có đại phu nước Vệ là Công thúc Văn tử hòa giải, Vệ Linh công mới lui quân, giảng hòa với nước Lỗ[6].
Mùa thu năm 503 TCN, Tề Cảnh công và Trịnh Hiến công hội minh ở đất Hàm rồi đem quân đánh nước Vệ. Vệ Linh công phải giảng hòa với nước Tề, cùng vua Tề hội minh ở đất Sa[7].
Tháng 7 năm 502 TCN, tướng Tấn là Phạm Ưởng nghe tin Vệ và Trịnh hội thề với Tề bèn đem quân đánh Trịnh và Vệ, đến tháng 9, các đại phu nước Lỗ là Quý tôn Tư và Trọng tôn Hà Kị cũng đem quân đánh Vệ[8]. Mùa đông năm đó, Vệ Linh công lại hội cùng Trịnh Hiến công ở Khúc Bộc thề cùng liên minh.
Mùa thu năm đó, năm đó, Vệ Linh công cùng Tề Cảnh công đánh nước Tấn, chiếm đất Di Nghi, sau lại tấn công sang đất Trung Mâu, nhưng bị quân Trung Mâu đánh lui. Tề Cảnh công lui quân, tặng cho Vệ Linh công 3 ấp Chước, Di và Mạnh[9].
Năm 501 TCN, Vệ Linh công đem 500 hộ dân nước Vệ dâng nộp cho nước Tấn.
Mùa đông năm 500 TCN, Vệ Linh công cùng Tề Cảnh công và tướng nước Trịnh là Du Tốc cùng hội họp ở đất An Phủ[10].
Cùng năm đó, Khổng Tử từ Lỗ đến nước Vệ, Vệ Linh công tiếp đãi Khổng Tử. Khổng Tử ở nước Vệ được hơn một tháng thì Vệ Linh công cho đòi Khổng Tử vào gặp. Lúc Vệ Linh công đi chơi thì cho Nam Tử ngồi cùng xe vua, có hoạn quan Ung Cừ kéo xe, chỉ cho Khổng Tử ngồi xe thứ. Khổng Tử than: "Vệ hầu yêu đức không như yêu sắc" rồi từ tạ, đi khỏi nước Vệ để đến nước Tào.[11][12]
Đại phu nước Vệ là Công thúc Văn tử chết, con là Công thúc Tuất lên thế tập. Năm 497 TCN, Công thúc Tuất làm binh biến chống lại Vệ Linh công. Vệ Linh công đuổi hết bè đảng của Tuất ra nước ngoài.
Tháng 5 năm 496 TCN, Vệ Linh công cùng Lỗ Định công và Tề Cảnh công hội chư hầu ở đất Khiên[13].
Năm 494 TCN, họ Phạm và họ Trung Hàng nước Tấn tranh chấp quyền lực với 4 họ thượng khanh khác là Trí, Hàn, Ngụy, Triệu, bị thua chạy về Triều Ca. Tháng 8 năm đó, Vệ Linh công và Tề Cảnh công giúp cho họ Phạm và họ Trung Hàng hội ở đất Can Hầu bàn kế giúp họ Phạm và họ Trung Hàng[14].
Mối tình đồng tính[sửa]
Vệ Linh Công đã từng say mê và sủng ái Di Tử Hà, một thanh niên thông minh, khôi ngô, tuấn tú, phong cho làm đại phu. Theo luật pháp nước Vệ, kẻ dùng xe của vua sẽ phải bị chặt chân. Một ngày mẹ Tử Hà bị bệnh, Tử Hà giả mệnh quốc quân, tự ý lấy xe của Vệ Linh công về thăm. Vệ Linh công biết chuyện chẳng những không phạt mà còn khen:
"Thực là người có hiếu! Vì mẹ mà phạm tội bị chặt chân".
Một lần Di Tử Hà cùng Vệ Linh công thăm hoa viên, Di Tử Hà thấy có quả đào ngon bèn tự ý hái đào ăn trước mặt Vệ Linh công, ăn không hết thì đem phần cắn dở đút vào miệng Vệ Linh công. Vệ Linh công cũng khen:
"Tử Hà thật yêu ta! Quên cái miệng của mình mà nhớ đến ta."
Dân gian gọi mối tình giữa Vệ Linh công là tình chia đào (dư đào đoạn tụ).
Sau đó Vệ Linh công có lần dùng roi đánh Di Tử Hà. Di Tử Hà từ đó ít lên triều kiến Vệ Linh công. Vệ Linh công hỏi quan đại phu Chúc Đà. Chúc Đà gièm pha với Vệ Linh công rằng Di Tử Hà có lòng oán hận ông. Từ đó ông bắt đầu xa lánh Di Tử Hà.
Một đại phu khác là Sử Ngư bất bình với việc Di Tử Hà được trọng dụng, và tiến cử người hiền là Cừ Bá Ngọc. Vệ Linh công ban đầu không nghe. Ít lâu sau Sử Ngư chết, người nhà không hạ táng, lại khuyên ngăn Vệ Linh công.
Ngày qua đi, Di Tử Hà mỗi ngày một già và xấu, không còn được Vệ Linh công yêu quý, lại phạm tội. Vệ Linh công lại nghe theo lời Sử Ngư, trọng dụng Cừ Bá Ngọc rồi trị tội trộm xe và tự ý ăn đào trước đây của Tử Hà, nói:
"Nó đã có lần tự tiện đi xe ngựa của ta, lại có lần bắt ta ăn quả đào thừa của nó."
Rồi đuổi ra khỏi cung[15].
Tư Mã Thiên trong Sử kí có lời bình luận về mối tình của Vệ Linh công và Di Tử Hà như sau:
Việc làm của Di Tử không khác, nhưng lần trước được khen là hiền, lần sau lại phạm tội, đó là vì lòng yêu ghét hết sức thay đổi. Cho nên được nhà vua yêu thì cái khôn của mình càng làm cho mình được thân, bị nhà vua ghét thì cái tội của mình càng làm cho mình bị ruồng bỏ[16].
Qua đời[sửa]
Vệ Linh công sinh được người con lớn là Khoái Hội. Ông lập Khoái Hội làm thế tử.
Năm 494 TCN, thế tử Khoái Hội ghen ghét phu nhân Nam Tử (con gái Tống Bình công) dâm đãng, định giết chết Nam Tử bèn sai gia nô là Hí Dương Tắc nhân lúc vào triều kiến sẽ giết Nam Tử giữa triều đường. Hí Dương Tắc ban đầu nhận lời nhưng sau đó hối hận và không làm theo. Khoái Hội ra hiệu cho Hí Dương Tắc. Nam Tử thấy vậy lo sợ, biết Khoái Hội muốn hại mình đem việc này nói với Vệ Linh công việc thế tử muốn giết mình. Vệ Linh công tức giận, muốn giết Khoái Hội. Khoái Hội bỏ trốn sang nước Tống rồi lại sang nước Tấn nương nhờ Triệu Ưởng, quan thượng khanh họ Triệu[1].
Mùa xuân năm 493 TCN, Vệ Linh công đi tuần du ở đất Giao, mang theo người con nhỏ là Cơ Dĩnh, tự Tử Nam được yêu quý. Vệ Linh công vốn giận Khoái Hội bỏ trốn, nên muốn lập Cơ Dĩnh làm thế tử, nhưng Cơ Dĩnh từ chối[1].
Mùa hè cùng năm, tháng tư, Vệ Linh công qua đời. Ông ở ngôi 42 năm, không rõ bao nhiêu tuổi. Phu nhân Nam Tử muốn theo di ý Vệ Linh công lập Cơ Dĩnh làm vua nhưng Cơ Dĩnh không chịu và đề nghị lập con Khoái Hội là Cơ Triếp vẫn đang ở nước Vệ. Người nước Vệ bèn lập Cơ Triếp lên ngôi vua, tức Vệ Xuất công[1].
Tháng 10 cùng năm, người nước Vệ làm lễ an táng cho Vệ Linh công.
Sau khi Vệ Linh công qua đời, Triệu Ưởng đem quân giúp thế tử Khoái Hội chiếm Thích Ấp để giao tranh với Vệ Xuất công. Nước Vệ liên tiếp xảy ra nội loạn và lệ thuộc vào nước Tấn, thế lực ngày một suy yếu.
Gia quyến[sửa]
- Cha: Vệ Tương công
- Anh em: Cơ Trập
- Thê thiếp: Nam Tử, con gái Tống Bình công.
- Con cái
- Cơ Khoái Hội, tức Vệ Hậu Trang công,
- Cơ Kiềm, tức Vệ Điệu công,
- Vệ quân Khởi,
- Cơ Dĩnh, tự Tử Nam.[17].
- Cháu
- Vệ Xuất công, con Vệ Trang công.
- Vệ Kính công, con Vệ Điệu công.
Xem thêm[sửa]
Tham khảo[sửa]
- Sử ký Tư Mã Thiên, thiên:
- Vệ Khang Thúc thế gia
- Lão Tử Hàn Phi liệt truyện
- Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, NXB Thế giới
- Khổng Tử (2002), Xuân Thu tam truyện, tập 4-5, NXB TP Hồ Chí Minh
- Sách Hàn Phi tử, thiên Thuyết nan
Chú thích[sửa]
- ^ a b c d e f Sử ký, Vệ Khang thúc thế gia
- ^ Phương Thi Danh, sách đã dẫn, tr
- ^ Sử kí, Tống Vi tử thế gia
- ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, tr 185
- ^ Nay nằm ở phía Bắc Trường Viên, Hà Nam
- ^ Tả truyện, Định công năm thứ 6
- ^ Tả truyện, Định công năm thứ 7
- ^ Tả truyện, Định công năm thứ 8
- ^ Xuân Thu tam truyện, tập 5, tr 223
- ^ Tả truyện, Định công năm thứ 10
- ^ Sử kí, Khổng tử thế gia
- ^ Tả truyện, Định công năm thứ 13
- ^ Tả truyện, Định công năm 14
- ^ Sau hai họ này bị Triệu Ưởng diệt năm 488 TCN
- ^ Theo tác phẩm Thuyết nan trong bộ Hàn Phi tử
- ^ Sử kí, Lão Tử Hàn Phi liệt truyện
- ^ Thủy tổ họ Tử Nam. Sau đến đời cháu Cơ Dĩnh là Tử Nam Kính được lập làm vua Vệ, tức Vệ Bình hầu
Liên kết ngoài[sửa]
|
Vệ Linh công
Mất: 493 |
||
| Tước hiệu | ||
|---|---|---|
| Tiền vị: Cha: Vệ Tương công |
Vua nước Vệ 534 TCN – 493 TCN |
Kế vị Cháu: Vệ Xuất công |
|
||||||||
