Đặng Hữu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đặng Hữu
Chức vụ
Nhiệm kỳ1996 – 5 tháng 10 năm 2002
Tiền nhiệmNguyễn Đình Tứ
Kế nhiệmĐỗ Nguyên Phương
Nhiệm kỳ12 tháng 10 năm 1992 – 6 tháng 11 năm 1996
&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000025.00000025 ngày
Tiền nhiệmBản thân (Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước)
Kế nhiệmPhạm Gia Khiêm
Nhiệm kỳ12 tháng 3 năm 1990 – 12 tháng 10 năm 1992
&0000000000000002.0000002 năm, &0000000000000214.000000214 ngày
Tiền nhiệmBản thân (Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước)
Kế nhiệmBản thân (Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)
Nhiệm kỳ19 tháng 4 năm 1987 – 19 tháng 5 năm 2002
&0000000000000015.00000015 năm, &0000000000000030.00000030 ngày
Nhiệm kỳ23 tháng 4 năm 1982 – 12 tháng 3 năm 1990
&0000000000000007.0000007 năm, &0000000000000323.000000323 ngày
Tiền nhiệmLê Khắc
Kế nhiệmBản thân (Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước)
Nhiệm kỳ31 tháng 3 năm 1982 – 22 tháng 4 năm 2001
&0000000000000019.00000019 năm, &0000000000000022.00000022 ngày
Nhiệm kỳtháng 11 năm 1976 – 1982
Nhiệm kỳtháng 4 năm 1975 – tháng 11 năm 1976
Thông tin chung
Sinh2 tháng 1, 1930 (89 tuổi)
Bình Định, Liên bang Đông Dương
Dân tộcKinh
Đảng pháiĐảng Cộng sản Việt Nam
Học vấnGiáo sư

GS. Viện sĩ Đặng Hữu (sinh ngày 2 tháng 1 năm 1930) tại xã Mỹ Tài, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.[1][2] Ông được xem là một trong những người có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của công nghệ thông tin và khoa học công nghệ tại Việt Nam.[3]

Quá trình học tập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1958, ông giảng dạy tại Khoa Xây dựng, Trường đại học Bách khoa Hà Nội.[2]

Năm 1963, ông tu nghiệp tại Liên Xô học luận án tiến sĩ tại Trường đại học Quốc gia Giao thông - Vận tải Moskva.[2]

Những năm 1970, ông làm việc tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.[2]

Năm 1994, Viện Hàn lâm giao thông Liên Bang Nga bầu ông làm Viện sĩ chính thức.[1] Sau đó hai năm, năm 1996, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ giao thông vận tải tại trường Đại học Giao thông Đường bộ Moskva (MADI, Liên Xô).

Quá trình công tác[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 4 năm 1975 đến tháng 11 năm 1976, ông làm hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.[4]

Từ tháng 11 năm 1976 đến năm 1982, ông là Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

3/1990-10/1992. Chủ nhiệm Ủy ban Khoa Học Kỹ thuật Nhà nước

4/1982-3/1990. Chủ nhiệm Ủy ban Khoa Học Nhà nước

10/1992-11/1996. Bộ trưởng Bộ Khoa Học và Công nghệ Việt Nam

Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2002, ông là Trưởng ban Khoa giáo Trung ương Đảng. Ông được bầu làm ủy viên Trung ương Đảng các khóa V, VI, VII, VIII (từ 1982 đến 2001) và được bầu làm Đại biểu Quốc hội các khóa VIII, IX, X (từ 1987 đến 2002).[1]

Cống hiến[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2002, GS. Viện sĩ Đặng Hữu là Trưởng ban chỉ đạo chương trình quốc gia về công nghệ thông tin.[1] Ông được trao tặng Giải thưởng ASOCIO 2003 của Tổ chức công nghiệp Tin học châu Á và Thái Bình Dương dành cho người có đóng góp to lớn với sự phát triển công nghệ thông tin.

Đầu thế kỷ XXI, GS. Viện sĩ Đặng Hữu là người đặt nền móng trong việc xây dựng và đề xuất Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VIII ban hành Chỉ thị 58/CT-TW vào ngày 17/10/2000 với nội dung đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]