America's Next Top Model, Mùa thi 14

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
America's Next Top Model, Mùa thi 14
Tập tin:Theme.jpg
Ảnh tạm thời chưa phải chính thức
Định dạng Truyền hình thực tế
Sáng lập Tyra Banks
Phát triển Ken Mok
Kenya Barris
Quốc gia  Hoa Kỳ
Số tập 13
Sản xuất
Giám đốc sản xuất Tyra Banks
Ken Mok
Daniel Soiseth
Thời lượng 60 phút
Trình chiếu
Kênh trình chiếu The CW
Phát sóng 10/03/2010
Thông tin khác
Phần trước/
Phim trước
Mùa 13
Phần sau/
Phim sau
Mùa 15
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

America's Next Top Model, Mùa thi 14 là chương trình thứ mười bốn của loạt chương trình truyền hình thực tế tìm kiếm và đào tạo người mẫu America's Next Top Model, là chương trình thứ tám được phát sóng trên hệ cáp The CW. Chương trình dự kiến phát sóng vào ngày 03 tháng 03, 2010; tuy nhiên, ngày khởi chiếu đã được dời lại vào 10 tháng 03, 2010 với một chương trình kéo dài 90 phút, đồng thời ở tuần phát sóng kế cũng có một chương trình dài tương tự. Bài hát quảng bá cho mùa thi là "Watch Me Move" của Fefe Dobson.

Người chiến thắng của mùa thi sẽ nhận được giải thưởng như các chương trình trước bao gồm: một hợp đồng với công ty quản lý người mẫu Wilhelmina Models, hợp đồng quảng cáo trị giá $100.000 với thương hiệu mỹ phẩm CoverGirl cùng sáu trang bài viết và chụp ảnh bìa tạp chí Seventeen. Đây là mùa thi một lần nữa quy tụ các thí sinh đủ chuẩn của ngành công nghiệp người mẫu (cao từ 1m70 trở lên) của mùa thi trước. Buổi tuyển chọn được ghi hình tại Thành phố New York. Auckland, New Zealand được thông báo sẽ là điểm đến quốc tế lần này.[1][2]

Hội đồng giám khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thay đổi lớn trong mùa thi này tại bàn các giám khảo là bậc thầy sàn diễn J. Alexander bị thay thế bởi tổng biên tập nội dung của tạp chí Vogue André Leon Talley,[3], nhưng Miss J vẫn đảm nhận vai trò huấn luyện trên sàn diễn cho các người mẫu trẻ. Cựu giám khảo mùa thi đầu tiên Kimora Lee Simmons được mời tham gia vào hội đồng giám khảo nhưng đã từ chối.[4] Các giám khảo còn lại tiếp tục xuất hiện trong mùa thi này.

Các thí sinh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gabrielle Kniery, 18, St. Louis, Missouri
  • Naduah Rugely, 22, San Diego, California
  • Ren Vokes, 22, Grand Prairie, Texas
  • Simone Lewis, 19, Lenexa, Kansas
  • Tatianna Kern, 21, Ewa Beach, Hawaii
  • Brenda Arens, 23, Houston, Texas
  • Anslee Payne-Franklin, 23, Dacula, Georgia
  • Alasia Ballard, 18, Marietta, Georgia
  • Jessica Serfaty, 18, Conway, Arkansas
  • Angelea Preston, 23, Buffalo, New York
  • Alexandra Underwood, 21, Kerrville, Texas
  • Raina Hein, 22, Minnetonka, Minnesota
  • Krista White, 25, Pine Bluff, Arkansas

Tổng kết[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự gọi tên[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Tuần thi
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
1 Naduah Jessica Raina Alasia Alasia Jessica Angelea Krista Krista Krista Krista Krista
2 Jessica Angelea Krista Angelea Raina Angelea Krista Angelea Alexandra Alexandra Raina Raina
3 Simone Ren Anslee Jessica Tatianna Krista Raina Raina Raina Angelea Alexandra
Angelea
4 Raina Brenda Tatianna Alexandra Brenda Alasia Alexandra Jessica Angelea Raina
5 Tatianna Simone Simone Krista Alexandra Anslee Anslee Alasia Jessica Jessica
6 Alexandra Tatianna Alexandra Raina Angelea Brenda Jessica Alexandra Alasia
7 Krista Anslee Angelea Tatianna Jessica Raina Alasia Anslee
8 Brenda Raina Alasia Simone Krista Alexandra Brenda
9 Alasia Naduah Brenda Anslee Anslee Tatianna
10 Anslee Alexandra Jessica Brenda Simone
11 Gabrielle Krista Ren Ren
12 Angelea Alasia Naduah
13 Gabrielle
     Thí sinh bị loại
     Thí sinh chiến thắng chung cuộc
  • Tập 1, 20 cô gái vượt qua vào tuyển chọn địa phương tụ họp lại, sau đó 12 được chọn vào cuộc thi chính. Thứ tự gọi tên không phản ánh độ xuất sắc. Ren, thí sinh thứ 13 vượt qua vòng tuyển chọn riêng được tiết lộ ở cuối chương trình

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 'America's Next Top Model' filming in NZ”. The New Zealand Herald. Ngày 1 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  2. ^ Lewis, Rebecca (ngày 6 tháng 12 năm 2009). “Top Model hunt successful”. The New Zealand Herald. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009. 
  3. ^ “André Leon Talley's On Top... A YSL Red Alert... Everyday People...”. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2010. 
  4. ^ “Kimora Lee Simmons Won't Judge America's Next Top Model”. New York. Ngày 16 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]