Bão Lekima (2013)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Bão Lekima
Siêu bão Tây Bắc Thái Bình Dương cấp 5 (SSHS)
Lekima Oct 23 2013 0020Z.jpg
Siêu bão Lekima lúc mạnh nhất trong ngày 23 tháng 10
Thông tin chung
Hình thành19 tháng 10 năm 2013
Tan24 tháng 10 năm 2013
Sức gió260 km/giờ (160 dặm/giờ) (1 phút)
215 km/giờ (130 dặm/giờ) (10 phút)
Áp suất905 mbar (hPa); 26,72 inHg
Thiệt hại
Tổn thất0
Tổng số người chết0
Khu vực chịu ảnh hưởngQuần đảo Bắc Mariana, Nhật Bản
Một phần của Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2013

Bão Lekimaxoáy thuận nhiệt đới mạnh thứ hai trên Trái Đất trong năm 2013, đồng thời là cơn bão thứ 19 được đặt tên và bão cuồng phong thứ 11 của mùa bão.[1] Lekima mạnh lên thành một cơn bão nhiệt đới vào cuối ngày 20 tháng 10. Tiếp theo, sau khi Lekima mạnh lên thành bão cuồng phong và trải qua quá trình tăng cường độ nhanh chóng nhờ điều kiện môi trường rất thuận lợi trong ngày 22, nó đã đạt đỉnh vào ngày hôm sau. Cơn bão duy trì cường độ tối đa trong vòng hơn một ngày, sau đó bắt đầu suy yếu từ ngày 24 khi chịu sự tác động của độ đứt gió theo chiều thẳng đứng lớn và gió Tây ở vĩ độ trung. Vào ngày 26 tháng 10, Lekima chuyển đổi thành một xoáy thuận ngoại nhiệt đới trên vùng biển phía Đông Nhật Bản.

Lịch sử khí tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ thể hiện đường đi của bão; những dấu chấm màu đại diện cho vị trí bão và cường độ của nó trong thời gian sáu tiếng.
Thang bão Saffir-Simpson
ATNĐ BNĐ C1 C2 C3 C4 C5

Vào sáng sớm ngày 19 tháng 10, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) đã báo cáo về một áp thấp nhiệt đới đang phát triển trên khu vực có độ đứt gió theo chiều thẳng đứng mạnh, cách Pohnpei khoảng 730 km (455 dặm) về phía Đông Bắc.[2][3] Trong ngày hôm đó, khi mà hệ thống di chuyển chậm về phía Tây, phân kỳ gió trên tầng cao đã giúp bù đắp cho độ đứt gió không phù hợp và làm tăng cường đối lưu xung quanh.[3] Với việc đối lưu tăng lên cùng hoàn lưu mực thấp được củng cố, Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) đã ban hành "Cảnh báo về sự hình thành của xoáy thuận nhiệt đới" vào cuối ngày.[4] Sang ngày 20, hệ thống tiếp tục phát triển khi nó di chuyển quanh rìa phía ngoài của áp cao cận nhiệt.[5] Và đến cuối ngày JTWC đã ban hành những thông báo về hệ thống và họ chỉ định nó là áp thấp nhiệt đới 22W, trước khi JMA đặt tên cho hệ thống là Lekima vào thời điểm 1800 UTC khi họ nhận định nó đã phát triển thành một cơn bão nhiệt đới.[2][5] Vào sáng sớm ngày 21, JMA nâng cấp Lekima lên thành bão nhiệt đới dữ dội.[6] Mặc dù một rãnh thấp yếu ở phía Đông cơn bão gây ra một sự tác động, nhưng dòng thổi ra mạnh mẽ ở phần phía Đông và Nam đã giúp duy trì đối lưu.[7] Đến cuối ngày hôm đó, JTWC nâng cấp Lekima lên thành bão cuồng phong.[8]

Sau khi JMA nâng cấp Lekima lên thành bão cuồng phong vào sáng sớm ngày 22, hệ thống bắt đầu trải qua quá trình tăng cường độ nhanh chóng, phát triển ra một mắt bão sắc nét cùng thành mắt bão đối xứng và cải thiện hơn nữa những dải đối lưu sâu.[9][10] Đến cuối ngày, JTWC nâng cấp Lekima lên thành siêu bão cấp 5, khi mà một xoáy nghịch cung cấp đôi kênh dòng thổi ra rất thuận lợi.[11] Sang sáng sớm ngày 23, JMA thông báo Lekima đạt đỉnh với vận tốc gió duy trì 10 phút tối đa 115 knot (130 dặm/giờ; 215 km/giờ) cùng áp suất khí quyển 905 hPa (26,72 inHg).[12] Kể từ đó, cơn bão đã duy trì cường độ tối đa trong hơn một ngày, với một con mắt rộng sắc nét bao quanh bởi thành mắt bão dày đặc đối lưu.[13] Tuy nhiên, những hình ảnh sóng ngắn tích hợp biến đổi tại CIMSS (MIMIC) mô tả rằng Lekima đã trải qua một chu trình thay thế thành mắt bão vào cuối ngày 23 và hoàn thành chu trình này một ngày sau.[14]

Lekima tăng cường nhanh chóng trong ngày 22 tháng 10
Lekima trở thành hệ thống ngoại nhiệt đới trong ngày 26 tháng 10

Khi Lekima bắt đầu tiếp cận đới gió Tây ở vĩ độ trung và độ đứt gió mạnh hơn, JMA báo cáo cơn bão bắt đầu duy yếu chậm vào buổi trưa ngày 24 trên vùng biển phía Bắc quần đảo Bắc Mariana, nhưng JTWC phân tích rằng Lekima đã suy yếu từ sớm hơn.[15][16] Dữ liệu theo dõi chuẩn xác nhất của JTWC chỉ ra Lekima đã suy yếu thành bão cuồng phong vào buổi trưa.[17] Vào ngày 25, khi Lekima nằm trên khu vực phía Tây quần đảo Ogasawara, nó đã vượt qua rìa phía Tây của áp cao cận nhiệt và sẵn sàng tăng tốc về phía Đông Bắc. Trong khi đó, tuy xoáy nghịch vẫn tiếp tục cung cấp dòng thổi ra tỏa tròn thuận lợi, nhưng đối lưu ngày một trở nên giảm cấp.[18] Vào buổi chiều, Lekima bắt đầu trải qua quá trình chuyển đổi thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới; do đó cấu trúc thành mắt bão biến mất nhưng nó vẫn duy trì được những dải mây cong chặt chẽ bao bọc lấy một trung tâm được xác định rõ.[19]

Sang sáng sớm ngày 26, tâm hoàn lưu mực thấp của Lekima trở nên bị lộ ra một phần, vị trí ở rìa phía Tây của đối lưu sâu.[20] JMA sau đó mô tả một front nóng đã hình thành trên phần phía Đông cơn bão, còn JTWC thì ban hành một cảnh báo cuối cùng về hệ thống.[21][22] Đến trưa, Lekima hoàn tất quá trình chuyển đổi trên vùng biển phía Đông Nhật Bản và suy yếu thành một vùng thấp.[23] Sau khi vượt đường đổi ngày quốc tế trong ngày 28, hệ thống cuối cùng bị hấp thụ bởi một vùng thấp đang phát triển khác vào ngày 30 tháng 10.[24]

Tác động[sửa | sửa mã nguồn]

Những dải mây mưa phía Tây cơn bão đã di chuyển qua phần phía Bắc của Quần đảo Bắc Mariana trong ngày 24 tháng 10 và sau đó là quần đảo Ogasawara trong ngày 25. Mặc dù JMA đã ban hành những cảnh báo về gió mạnh và nước biển dâng tại quần đảo Ogasawara, tuy nhiên không có thiệt hại nào được ghi nhận tại đây.[25]

Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) nhận định vận tốc gió duy trì liên tục trong 10 phút tối đa của bão Lekima năm 2013 là 115 knot (>130 dặm/giờ, gần 220 km/giờ), giúp nó trở thành siêu bão Tây Bắc Thái Bình Dương thứ 4 tính từ đầu thế kỷ 21 đạt được sức gió như vậy sau các cơn bão Jangmi 2008, Nida 2009 và Megi 2010. Vào thời điểm Lekima đang hoạt động, nó là cơn bão mạnh nhất trong năm 2013; tuy nhiên Lekima đã bị bão Haiyan vượt qua hai tuần sau.[26]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Typhoon List (2013)”. Digital Typhoon. National Institute of Informatics. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.
  2. ^ a b RSMC Tokyo — Typhoon Center (ngày 20 tháng 11 năm 2013). Typhoon Lekima (RSMC Tropical Cyclone Best Track). Japan Meteorological Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013.
  3. ^ a b Joint Typhoon Warning Center (ngày 19 tháng 10 năm 2013). “Significant Tropical Weather Outlook for the Western and South Pacific Ocean ngày 19 tháng 10 năm 2013 06z”. United States Navy, United States Airforce. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  4. ^ Joint Typhoon Warning Center (ngày 19 tháng 10 năm 2013). “Tropical Cyclone Formation Alert ngày 19 tháng 10 năm 2013 22z”. United States Navy, United States Airforce. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  5. ^ a b Joint Typhoon Warning Center (ngày 20 tháng 10 năm 2013). “Prognostic Reasoning for Tropical Depression 28W warning Nr 1”. United States Navy, United States Airforce. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  6. ^ “WTPQ21 RJTD 210600 RSMC Tropical Cyclone Advisory”. Japan Meteorological Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
  7. ^ “Prognostic Reasoning for Tropical Storm 28W (Lekima) Warning NR 04”. Joint Typhoon Warning Center. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
  8. ^ “Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 006”. Joint Typhoon Warning Center. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2013.
  9. ^ “WTPQ21 RJTD 220300 RSMC Tropical Cyclone Advisory”. Japan Meteorological Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
  10. ^ “Prognostic Reasoning for Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 08”. Joint Typhoon Warning Center. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
  11. ^ “Prognostic Reasoning for Super Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 10”. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
  12. ^ “WTPQ21 RJTD 230000 RSMC Tropical Cyclone Advisory”. Japan Meteorological Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013.
  13. ^ “Prognostic Reasoning for Super Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 15”. Joint Typhoon Warning Center. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  14. ^ “Morphed Integrated Microwave Imagery at CIMSS (MIMIC) 28W”. Cooperative Institute for Meteorological Satellite Studies. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  15. ^ “WTPQ21 RJTD 241200 RSMC Tropical Cyclone Advisory”. Japan Meteorological Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  16. ^ “Prognostic Reasoning for Super Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 17”. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  17. ^ “Prognostic Reasoning for Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 18”. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  18. ^ “Prognostic Reasoning for Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 22”. Joint Typhoon Warning Center. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  19. ^ “Prognostic Reasoning for Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 22”. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  20. ^ “Prognostic Reasoning for Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 23”. Joint Typhoon Warning Center. Lưu trữ bản gốc 26 Tháng 10 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  21. ^ “Marine Weather Warning for GMDSS Metarea XI 2013-10-26T06:00:00Z”. WIS Portal – GISC Tokyo. Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013. WARM FRONT FROM 38N 154E TO 34N 158E 30N 162E.
  22. ^ “Typhoon 28W (Lekima) Warning NR 024”. Joint Typhoon Warning Center. Lưu trữ bản gốc 26 Tháng 10 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  23. ^ “Marine Weather Warning for GMDSS Metarea XI 2013-10-26T12:00:00Z”. WIS Portal – GISC Tokyo. Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  24. ^ “Pacific Surface Analysis at 00Z on October 30”. Ocean Prediction Center. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2014.[liên kết hỏng]
  25. ^ “台風第28号に関する東京都(小笠原諸島)気象情報 第4号”. Japan Meteorological Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2013.
  26. ^ “List of typhoons with sustained winds at 115 knots or stronger in the 21st century”. Digital Typhoon. National Institute of Informatics. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]