Đường đổi ngày quốc tế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Đường đổi ngày quốc tế

Đường đổi ngày quốc tế, hay đường thay đổi ngày quốc tế, là một đường tưởng tượng dùng để làm ranh giới giữa múi giờ UTC +12UTC -12, đi gần với kinh tuyến 180 độ kinh Đông từ Bắc Cực, qua eo biển Bering, Thái Bình dương, cho đến Nam Cực, được quy định bởi Hội nghị quốc tế về kinh tuyến họp tại Washington năm 1884. Thực tế, đường đổi ngày không phải là một đường thẳng đọc kinh tuyến 180 độ, mà là một đường gấp khúc, nhằm cố gắng bảo đảm trên cùng một quốc gia không có 2 ngày cùng được tính. Theo quy định, khi các phương tiện giao thông đi ngang qua đường này, ngày tháng sẽ phải thay đổi. Đi từ bán cầu Tây sang bán cầu Đông qua đường này, tức là đi từ bên phải sang bên trái đường đổi ngày (cũng có nghĩa là đi từ phía đông sang phía tây qua nó), thì phải tăng 1 ngày. Đi từ bán cầu Đông sang bán cầu Tây, tức là đi từ bên trái sang bên phải của đường này, thì phải giảm 1 ngày.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Minh họa đơn giản thể hiện mối tương quan giữa đường đổi ngày, ngày và giờ. Màu khác nhau thể hiện ngày khác nhau.
Tập tin:International date line.png
Ví dụ về trường hợp ngày thứ ba lúc 4:00 giờ GMT. (Số liệu giờ giấc chỉ là tương đối bởi ranh giới các múi giờ không hoàn toàn trùng khớp với kinh tuyến. Ngày và đêm thể hiện trong lược đồ chỉ mang tính chất minh họa; giờ ban ngày còn phụ thuộc vào vĩ độ và thời điểm trong năm.)

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

This description is based on the most common understanding of the de facto International Date Line. See § De facto and de jure date lines below, and map above at right.

Đường đổi ngày quốc tế về cơ bản dựa vào đường kinh tuyến 180°, cắt dọc Thái Bình Dương, và nửa đường vòng quanh thế giới tính từ kinh tuyến Greenwich. Tại nhiều địa điểm, đường đổi ngày quốc tế trùng hoàn toàn kinh tuyến 180°. Nhiều nơi khác, đường đổi ngày có chệch đi về hướng đông hoặc tây so với đường kinh tuyến. Sai khác này phần nhiều là để dung hòa các mối quan hệ kinh tế và/hoặc chính trị ở các vùng bị ảnh hưởng.

Đi từ bắc xuống nam, điểm lệch đầu tiên của đường đổi ngày so với kinh tuyến 180° là phía đông đảo Wrangelbán đảo Chukotka, vùng viễn đông Xibia của nước Nga. (Đảo Wrangel có tọa độ 71°32′B 180°0′Đ, và cũng là 71°32′B 180°0′T.)[1] Đường đổi ngày sau đó đi qua eo biển Bering, giữa quần đảo Diomede ở khoảng cách giữa các đảo ở tọa độ 168°58′37″ T. Sau đó, đường đổi ngày chuyển hướng đáng kể về phía tây kinh tuyến 180°, đi qua phía tây đảo St. Lawrence và đảo St. Matthew.

Đường đổi ngày đi qua giữa các quần đảo Aleut (có đảo Attu là cực tây) của Mỹ và quần đảo Komandorski thuộc Nga. Nó sau đó đổi hướng lần nữa về phía đông nam để quay về kinh tuyến 180°. Như vậy, toàn bộ lãnh thổ nước Nga nằm ở phía tây đường đối ngày quốc tế, còn toàn bộ lãnh thổ Hoa Kỳ nằm ở phía đông đường đổi ngày ngoại trừ các hải đảo Guam, quần đảo Bắc Mariana, và đảo Wake.

Đường đổi ngày quốc tế tiếp tục trùng với kinh tuyến 180° cho đến khi giao cắt với xích đạo. Các đảo san hô không người ở HowlandBaker của Mỹ, vừa qua hướng bắc đường xích đạo ở trung tâm Thái Bình Dương (có tọa độ giữa 172,5°T và 180°), có giờ muộn nhất trên Trái Đất (UTC−12 hours).

Gặp Kiribati, đường đổi ngày đánh vòng tròn bằng cách bẻ ngoặt lớn về phía đông, hầu như chạm với kinh tuyến 150°T. Quần đảo cực đông Kiribati, quần đảo Line về phía nam Hawaii, có giờ sớm nhất trên Trái Đất, UTC+14. Đến phía nam Kiribati, đường đổi ngày IDL quay về hướng tây nhưng vẫn ở phía đông kinh tuyến 180°, xuyên qua giữa SamoaSamoa thuộc Mỹ.[2]

Phần nhiều khu vực này, đường đổi ngày đi theo kinh tuyến 165°T. Tuần tự, Samoa, Tokelau, Wallis và Futuna, Fiji, Tonga, Tuvaluquần đảo Kermadecquần đảo Chatham của New Zealand đều nằm phía tây đường đổi ngày nên có ngày giống nhau. Samoa thuộc Mỹ, quần đảo Cook, Niue, và Polynésie thuộc Pháp nằm ở phía đông đường đổi ngày nên bị trễ hơn một ngày.

Đường đổi ngày sau đó hướng về phía tây nam để quay về kinh tuyến 180°. Nó tiếp tục trùng kinh tuyến 180° cho đến khi gặp châu Nam Cực, nơi các múi giờ gộp lại. Theo quy ước, đường đổi ngày không được vẽ lên hầu hết các bản đồ châu Nam Cực. (Xem § Cartographic practice and convention bên dưới.)

Vòng quanh thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Một người hành trình vòng quanh thế giới từ đông sang tây (theo y hướng hành hành của Magellan) cần phải gia giảm một giờ đồng hồ mỗi lần băng qua 15° kinh độ, and would gain 24 hours for one circuit of the globe from east to west if they did not compensate by setting their clock forward one day when they crossed the IDL. In contrast, a west-to-east circumnavigation of the globe loses an hour for every 15° of longitude crossed but gains back a day when crossing the IDL. The IDL must therefore be observed in conjunction with the Earth's time zones: on crossing it in either direction, the calendar date is adjusted by one day.

Facts dependent on the IDL[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khoảng thời gian từ 10:00 đến 11:59 UTC mỗi ngày, tại các địa điểm khác nhau trên Trái Đất, người ta ghi nhận được ba ngày tháng khác nhau. Thí dụ, lúc 10:15 UTC ngày thứ năm, tại Samoa thuộc Mỹ đồng hồ chỉ 23:15 ngày thứ tư (UTC−11), thứ năm ở hầu hết phần còn lại của thế giới, và 00:15 ngày thứ sáu tại Kiritimati (UTC+14).

Trong giờ đầu tiên của khoảng thời gian trên (10:00–10:59 UTC), 3 ngày tháng khác nhau được ghi nhận tại các địa điểm có cư dân. Ở giờ thứ hai (UTC 11:00–11:59) múi giờ hàng hải UTC−12 không có người ở nên khoảng thời gian này, chỉ có 2 ngày khác nhau được ghi nhận ở những vùng đất có cư dân.

Khoảnh khắc giao thừa đón năm mới diễn ra đầu tiên nơi các đảo nằm trên múi giờ UTC+14. Múi giờ UTC+14 bao gồm một phần của nước Cộng hòa Kiribati, gồm đảo Thiên Niên Kỷ thuộc quần đảo Line, và Samoa trong giai đoạn mùa hè. Thành phố lớn đón ngày mới đầu tiên là AucklandWellington, New Zealand (UTC+12; UTC+13 sử dụng giờ mùa hè).

Năm 1995, đường đổi ngày quốc tế được điều chỉnh khiến đảo Caroline trở thành một trong những nơi trên Trái Đất đón ngày 1 tháng 1 năm 2000 sớm nhất (UTC+14). Hệ quả là, rạn san hô vòng này được đổi tên thành đảo Thiên Niên Kỷ.[3]

Các khu vực đón ngày mới sớm nhất thay đổi theo mùa. Khoảng thời gian hạ chí, khu vực đó có thể là bất cứ nơi đâu trên múi giờ Kamchatka (UTC+12) đủ xa về hướng bắc để quan sát mặt trời nửa đêm. Tại các điểm phân, nơi đầu tiên bước qua ngày mới là đảo Thiên Nhiên Kỷ không có cư dân thuộc Kiribati, là vũng lãnh thổ cực đông nằm ở phía tây đường đổi ngày.

Khoảng thời gian đông chí, địa điểm đầu tiên sẽ là Các trạm nghiên cứu Nam Cực sử dụng múi giờ New Zealand (UTC+13) suốt mùa hè, các nhà nghiên cứu tại đây cũng có thể quan sát hiện tượng mặt trời nửa đêm. Các trạm này bao gồm Trạm Nam Cực Amundsen-Scott, Trạm McMurdo, Căn cứ ScottTrạm Mario Zucchelli.[4]

Đường đổi ngày de facto và đường đổi ngày de jure[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai cách tính múi giờ và từ đó xác định vị trí của Đường đổi ngày quốc tế, một là dựa trên đất liền và các vùng lãnh hải lân cận, cách còn lại là dựa trên các vùng biển khơi.

Mỗi nước đơn phương xác định múi giờ tiêu chuẩn của mình, múi giờ này chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ và lãnh hải của họ. Đường đổi ngày khi đó mang tính de facto bởi nó chỉ dựa trên luật pháp riêng của từng quốc gia chứ không phải luật quốc tế. Múi giờ quốc gia vì thế không có hiệu lực trên hải phận quốc tế.

Đường đổi ngày hàng hải, khác với Đường đổi ngày quốc tế, là đường đổi ngày de jure được thiết lập dựa trên hiệp định quốc tế. Đây là kết quả của Hội nghị Anh-Pháp về định giờ trên biển năm 1917, khuyến nghị tất cả tàu thủy, cả quân sự lẫn dân sự, áp dụng múi giờ tiêu chuẩn khi đi trên hải phận quốc tế. Mỹ đã thông qua hiệp định này đối với thương thuyền và các tàu thuộc lực lượng quân sự hồi năm 1920. This date line is implied but not explicitly drawn on time zone maps. Đường này theo dọc kinh tuyến 180° ngoại trừ những đoạn cắt ngang phần lãnh hải tiếp giáp lãnh thổ, tạo thành khoảng đứt—tức đường đứt đoạn. The 15° gore that is offset from UTC by 12 hours is bisected by the nautical date line into two 7.5° gores that differ from UTC by ±12 hours.

Tàu thuyền được khuyến nghị chuyển theo giờ tiêu chuẩn quốc gia nếu băng qua vùng hải phận 12 hải lý (14 mi; 22 km) của nước đó, sau đó, quay về múi giờ quốc tế (15° wide pole-to-pole gores) khi ra khỏi vùng hải phận này. Thực tế, giao thông hàng hải thường chỉ sử dụng các múi giờ này để truyền tải tín hiệu radio và cho các mục đích tương tự. Cho các mục đích nội bộ, như lên lịch làm việc và ăn uống, việc chọn múi giờ là tùy ý.

Cartographic practice and convention[sửa | sửa mã nguồn]

Đường đổi ngày quốc tế trên trang này cũng như trên tất cả các bản đồ còn lại được vẽ theo đường đổi ngày de facto và là sản phẩm nhân tạo của ngành bản đồ học, bởi tọa độ các phân đoạn của đường đổi ngày khá mơ hồ. Đường đổi ngày quốc tế không kéo dài lên Châu Nam Cực trên các bản đồ thể hiện múi giờ do Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) nước Mỹ và [5]Văn phòng Niên giám Hàng hải Bệ hạ (HMNAO) của Anh Quốc phát hành.[6] The IDL on modern CIA maps now reflects the most recent shifts in the IDL[5] (see § Historical alterations below). The current HMNAO map does not draw the IDL in conformity with recent shifts in the IDL; it draws a line virtually identical to that adopted by the UK's Hydrographic Office about 1900.[7] Instead, HMNAO labels island groups with their time zones, which do reflect the most recent IDL shifts.[6] This approach is consistent with the principle of national and nautical time zones: the islands of eastern Kiribati are actually "islands" of Asian date (west side of IDL) in a sea of American date (east side of IDL).

No international organization, nor any treaty between nations, has fixed the IDL drawn by cartographers: the 1884 International Meridian Conference explicitly refused to propose or agree to any time zones, stating that they were outside its purview. The conference resolved that the Universal Day, midnight-to-midnight Greenwich Mean Time (now known as Coordinated Universal Time, or UTC), which it did agree to, "shall not interfere with the use of local or standard time where desirable".[8] From this comes the utility and importance of UTC or "Z (Zulu)" time: it permits a single universal reference for time that is valid for all points on the globe at the same moment.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Arctic Expeditions Commanded by Americans”. The National Geographic Magazine 18: 459–468. 1907. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2017. 
  2. ^ Samoa confirms dateline switch Borneo Post online. Accessed 11 August 2011.
  3. ^ “Kiribati's Caroline Island renamed Millennium Island”. Pacific Islands Report. Tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2017. 
  4. ^ “The World Clock-Query Results”. Time and date.com. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016,  and click through to the individual stations' pages. With respect to Scott Base, see Ross Dependency.
  5. ^ a ă “Standard Time Zones of the World by the CIA” (PDF). Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2014. 
  6. ^ a ă “Standard Time Zones by HM Nautical Almanac Office” (PDF). HM Nautical Almanac Office and US Naval Observatory (jointly). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016.  Bản mẫu:Selfref inline
  7. ^ A. M. W. Downing, "Where the day changes", Journal of the British Astronomical Association, vol x, no 4, 1906, pp. 176–178.
  8. ^ “International Conference Held at Washington for the Purpose of Fixing a Prime Meridian and a Universal Day. October, 1884. Protocols of the proceedings.”. Project Gutenberg. 1884. tr. 134. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016.  Quote is from the session of 14 October.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]