Bồn trũng đại dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đồ biểu mặt cắt ngang của bồn trũng đại dương, biểu thị các loại đặc trưng địa lí.

Bồn trũng đại dương (tiếng Anh: Oceanic basin, chữ Trung: 洋盆, Hán - Việt: Dương bồn) là phần đáy ở đại dương có rất nhiều khu vực đất thấp bằng phẳng, chung quanh là một ít mạch núi ngầm tương đối cao, cấu tạo của loại này tương tự như bồn địa trên lục địa được gọi là bồn trũng biển cả (chữ Trung: 海盆, Hán - Việt: Hải bồn) hoặc là bồn địa hải dương. Nó là bộ phận chủ thể của đáy đại dương. Thí dụ như bồn địa Vịnh Ba Tư (Persian Gulf Basin), bồn địa Biển Hoa Đông (East China Sea Basin), bồn địa Cửa Sông Châu Giang (Trung Quốc) (Pearl River Mouth Basin), v.v[1]

Giới thiệu giản lược[sửa | sửa mã nguồn]

Bồn trũng đại dương là phần đáy ở đại dương có rất nhiều khu vực đất thấp bằng phẳng. Thí dụ như bồn địa Vịnh Ba Tư (Persian Gulf Basin), bồn địa Biển Hoa Đông (East China Sea Basin), bồn địa Cửa Sông Châu Giang (Trung Quốc) (Pearl River Mouth Basin), v.v Nhưng nó lại gọi là bồn trũng biển cả, bồn trũng biển thẳm. Vùng đất trũng cực kì to lớn có hình tròn hoặc hình bầu dục, cơ bản phân bố ở trong đại dương biển thẳm. Phần đáy của nó vô cùng bằng phẳng, độ dốc nhỏ, khắp chung quanh thông thường bị dải núi dài dưới đáy biển vây quanh, cho nên phần đáy bồn trũng biển cả lại gọi là đồng bằng biển thẳm, thí dụ như đồng bằng biển thẳm Aleutian (Aleutian abyssal plain / Aleutian deep-sea plain)[2], đồng bằng biển thẳm Bering (Bering abyssal plain)[3], v.v

Đặc trưng chủ yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Bồn trũng đại dương là chỉ vùng đất trũng cực kì to lớn có hình tròn hoặc hình bầu dục. Nó thuộc về vỏ đại dương điển hình, thường bị nơi có dải núi dài dưới đáy biển hoặc núi dưới biển vây chung quanh, độ sâu ở khoảng 3000 đến 6000 mét, đa số sâu 4000 đến 5000 mét, diện tích thông thường cao ở 10 kilômét, tổng diện tích chiếm trên 70% diện tích đại dương, là chủ thể của đại dương[4][5]. Địa hình phần đáy của bồn trũng biển cả tương đối bằng phẳng, độ dốc bình quân khoảng 20 đến 40 phút.

Nguyên nhân hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thay đổi mức mặt biển do sông băng gây ra ý chỉ là do bởi biến đổi khí hậu, ấm lên toàn cầu dẫn đến ranh giới sông băng tiến đi lui lại, do đó gây nên thay đổi lên xuống của mức mặt biển. Ở thời kì địa chất thời kì băng hà, chung quanh địa cực hình thành dải băng, lượng nước biển trong đại dương tương đối giảm thiểu, mức mặt biển hạ thấp tức khắc; ngay khi biến đổi khí hậu, ấm lên toàn cầu, dải băng tan chảy, dòng nước đá trở lại biển lớn, mức mặt biển lại lên cao thêm. Liên quan đến biên độ lên xuống của mức mặt biển, chữ số mà nhà khoa học giữa các nước liệu tính không hoàn toàn giống nhau. Điều này chủ yếu là xét đoán thế nào để ước lượng độ dày dải băng của đại lục Nam Cực và tính toán ra lượng dự trữ băng của toàn thế giới. Nó được suy tính, 95% lượng dự trữ băng trên thế giới ở khu vực Nam Cực, khoảng chừng là 30 triệu kilômét khối. Nếu có một ngày nào đó, băng của khu vực Nam Cực và khu vực Greenland (chiếm chừng 99% tổng lượng dự trữ băng toàn cầu) đột nhiên tan chảy toàn bộ, vậy thì, mức mặt biển của đại dương trên thế giới có thể sẽ tăng lên 100 mét. Đương nhiên, tính khả năng mà phát sinh loại tình huống này là cực thấp. Tình huống có khả năng phát sinh nhất là, tất cả sông băng sẽ tan chảy dần dần vào khoảng vài nghìn năm, đồng thời, sự tan chảy của sông băng còn sẽ đi theo với sự tăng lên của một mảnh đại lục và sự lún xuống của bản chất đáy đại dương, nguyên nhân là trọng tải của diện tích lớn di chuyển từ lục địa hướng về đại dương nguyên do sông băng tan chảy.

Học thuyết lí luận[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thay đổi mức mặt biển do cấu tạo vỏ trái đất gây ra, ý chỉ là do một số loại vỏ trái đất nào đó vận động nên dẫn đến sự thay đổi mức mặt biển của khu vực cục bộ hoặc mang tính toàn cầu. Vỏ trái đất mang tính cục bộ vận động lên xuống, có thể dẫn đến sự thay đổi mức mặt biển mang tính khu vực. Xuất hiện loại tình huống này, là kết quả của sự phát sinh thay đổi khoảng cách giữa mặt biển tương đối so với mặt lục địa. Sự thay đổi lên xuống của mức mặt biển gây ra mang tính toàn cầu, là do dung tích của bồn trũng đại dương sinh ra một số loại thay đổi nào đó, vỏ trái đất của đáy đại dương xảy ra lún xuống hoặc hình thành bồn trũng đại dương mới. Tổng dung tích của bồn trũng đại dương trên thế giới to thêm sẽ dẫn đến mức mặt biển hạ thấp; trái lại, vỏ trái đất của đáy đại dương nâng lên, một vài bồn trũng đại dương nào đó tan biến, có thể khiến cho mức mặt biển lên cao. Học thuyết kiến tạo mảng cho rằng, sự thay đổi mức mặt biển có liên quan với vận tốc khuếch trương đáy biển. Vật chất mà sống núi giữa đại dương tăng sinh chính là nhiệt, trôi qua theo thời gian nên dần dần nguội lạnh đi, trở nên kín sát, do đó nham thạch quyển đáy đại dương tăng trưởng và lún xuống theo thời gian ở trong quá trình di động khuếch trương hướng về trục hoành (đường ngang). Nếu như vận tốc khuếch trương đáy đại dương rất mau lẹ, đáy đại dương cách đỉnh sống núi giữa đại dương một phần khoảng cách nhất định, không có đủ thời gian để nguội đến mức độ "bình thường", đáy đại dương đã cao hơn trong tình huống bình thường, do đó dù cho lượng nước biển toàn bộ không thay đổi (đa số học giả cho là, từ Đại Cổ sinh đến nay lượng nước biển cơ bản không có thay đổi), tại vì dung tích của bồn trũng đại dương giảm bớt, mức mặt biển cũng sẽ lên cao. Tương phản, khi vận tốc khuếch trương đáy biển rất chậm chạp, thì mức mặt biển sẽ hạ thấp. Trên thật tế, sự biến động mức mặt biển do vận tốc khuếch trương đáy biển gây ra, chu kì kéo dài đến nhiều triệu năm, biên độ biến đổi của nó có thể đạt đến khoảng 300 đến 500 mét.[1]

Tranh luận tương quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên vận động kiến tạo địa chất (geotectonic movement) mang tính toàn cầu đóng vai trò quyết định về toàn thể thay đổi mức mặt biển của thời kì lịch sử địa chất, nhưng mà các nhà khoa học cho biết là, từ Kỉ Đệ Tứ (hơn một triệu năm trong lịch sử địa chất), vai trò sông băng ảnh hưởng lớn nhất về thay đổi của mức mặt biển, từ gần hơn một triệu năm đến nay, theo sau thời kì băng hà một thời kì băng hà khác hẳn thay thế xuất hiện, mức mặt biển toàn cầu đã phát sinh nhịp đập lên xuống. Khoảng chừng 35.000 năm về trước, mức mặt biển đạt tới vị trí tiếp cận. Tác dụng của sông băng lần thứ nhất, thì đã gây ra sự lún xuống rộng khắp của mức mặt biển. Ở thời kì thịnh nhất của thời kì băng hà lần cuối (khoảng chừng 15.000 đến 20.000 năm trước), mức mặt biển thấp chừng 130 mét so với bây giờ. Khi mặt biển thấp ở thời kì băng hà, mảnh lớn thềm lục địa biển nông nhô ra thành lục địa, vậy thì, Nhật BảnTrung Quốc, châu Áchâu Bắc Mĩ (đi sát eo biển Bering), Anh Quốcđại lục Châu Âu, ÚcNew Guinea, v.v đều nối liền lẫn nhau (nhà địa chất học hải dương Trung Quốc nghiên cứu phát hiện, đường eo biển cổ xưa của biển Hoa Đông ở rìa ngoài thềm lục địa của dốc phía tây bồn trũng biển Okinawa). Sau này, do bởi biến đổi khí hậu, hâm nóng toàn cầu, dẫn đến sông băng tan chảy, kết quả là mức mặt biển dần dần lên cao. Mức mặt biển trên thế giới vì thế ở vào trong quá trình lên cao. Do bởi nhân tố gây ra sự thay đổi mức mặt biển rất phức tạp, lại đang tồn tại rất nhiều thiếu sót trong công nghệ điều tra và trắc lượng, cho nên, nhiều người nhận thức còn có tính hạn chế nhất định về lịch sử của mức mặt biển và tiền cảnh phát triển của nó. Mức mặt biển tăng lên, có khả năng là tạm thời, cũng có khả năng là một phần của tuần hoàn nước trường kì trên Trái đất, xu thế của quá trình này có sẽ dẫn đến vai trò sông băng mới không ? Tóm lại, vấn đề của nhiều người về mức mặt biển tăng lên, cũng không thể làm ra giải thích cuối cùng.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â 朱志澄,曾佐勋,樊光明.构造地质学:中国地质大学出版社,2009
  2. ^ Verzhbitsky, E. V.; M. V. Kononov; V. D. Kotelkin (5 tháng 2 năm 2007). “Plate Tectonics of the Northern Part of the Pacific Ocean”. Oceanology (in translation from Okeanologiya) 47 (5): 705–717. Bibcode:2007Ocgy...47..705V. doi:10.1134/S000143700705013X. 
  3. ^ “Bering Abyssal Plain: Undersea Features”. https://geographic.org. National Geospatial-Intelligence Agency, Bethesda, MD, USA. 
  4. ^ “Ocean Basins”. National Geographic Society. 
  5. ^ http://www.ifremer.fr/exploration/enjeux/relief/index.htm

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Global Solid Earth Topography