Bravely Second: End Layer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bravely Second: End Layer
275px
Nhà phát triểnSilicon Studio
Nhà phát hànhSquare Enix
Đạo diễnKensuke Nakahara
Nhà sản xuấtTomoya Asano[1]
Minh họaAkihiko Yoshida[1]
Kịch bảnTomoya Asano
Shinji Takahashi
Souki Tsukishima
Âm nhạcRyo
Nền tảngNintendo 3DS
Ngày phát hành
  • JP April 23, 2015
  • EU February 26, 2016[2]
  • AUS February 27, 2016
  • NA April 15, 2016[3]
Thể loạiRole-playing
Chế độChơi đơn

Bravely Second: End Layer (Nhật: ブレイブリーセカンド エンドレイヤー Hepburn: Bureiburī Sekando: Endo Reiyā?) (Nhật: ブレイブリーセカンド エンドレイヤー Bureiburī Sekando: Endo Reiyā?)[4] là một trò chơi nhập vai phong cách Nhật Bản phát triển bởi Silicon Studio và phát hành bởi Square Enix cho hệ máy Nintendo 3DS, và là phần tiếp theo của Bravely Default. Square Enix phát hành tại Nhật Bản vào ngày 23, tháng 4 năm 2015, và Nintendo phát hành ở Bắc Mỹ, Châu Ây và ÚC năm 2016.[5][6]

Cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Bravely Second là một trò chơi nhập vai truyền thống với hành động theo lượt, và tái sử dụng hệ thống chiến đấu của Bravely Default.[7] Điều này cho phép người chơi xây dựng "điểm dũng cảm" (BP) hoặc số lượt đánh của mỗi thành viên tại bất kỳ thời điểm nào. Trên bất kỳ lượt nào, các nhân vật có thể "default", để bảo vệ và nhận thêm BP, hoặc "brave" nhiều lần, để sử dụng hết BP và hành động nhiều lần trên cùng một lượt.

Những tính năng mới gồm chiến đấu theo chuỗi trong trận đánh ngẫu nhiên có thể tiếp tục chiến đấu với kẻ địch liên tiếp đem lại nhiều rủi ro và phần thưởng hơn.[8] Người chơi có thể nhận được gấp ba lần số lượng điểm kinh nghiệm và tiền. Điều này cũng cho phép người chơi nâng cấp "Job Points" của mỗi nhân vật (JP). Mỗi nhân vật có quyền làm nhiều công việc khác nhau, (lên đến 30) bằng cách lấy dấu sao của công việc đó.[9] dấu sao thường được giữ bởi một nhân vật khác trong gameworld cùng cấp đó.

Các nhiệm vụ phụ của Bravely Default đã được cải tiến lại; nếu người chơi gặp phải hai Eyernian nắm giữ dấu sao trong một cuộc tranh luận về một tình huống khó xử, và người chơi phải giải quyết xung đột với phần thưởng là dấu sao của kẻ thua cuộc.[10]

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Hai năm rưỡi sau các sự kiện của Bravely Default,[11][12] Agnès Oblige đã được bầu làm Pope của Crystal Orthodoxy. Cô và Grand Marshal Braev Lee của Duchy of Eternia tìm cách chấm dứt sự thù địch giữa các nhóm của họ với một hiệp ước hòa bình chính thức tại thành phố Gathelatio. Buổi lễ bị gián đoạn bởi Kaiser Oblivion, thủ lĩnh của Glanz Empire, và người bạn đồng hành của mình, Anne, cả hai bắt cóc Agnès và giam giữ cô trong pháo đài Skyhold. Yew Geneolgia, thủ lĩnh của những người bảo vệ Crystal của Agnès, tỉnh dậy 1 tuần sau vụ tấn công và bắt đầu lên kế hoạch giải cứu cô, cùng với các thủ lĩnh Crystalguard là Janne Engarde và Nikolai Nikolanikov. Tuy nhiên, hóa ra 2 kẻ này là gián điệp của Empire. Agnès hướng dẫn cả nhóm qua một mảnh vỡ pha lê mà cô đã cố tình để lại khi bị bắt cóc, Yew triệu tập ba người bạn đồng hành: Công tước xứ Eternian, Edea Lee, con gái của Braev, người đã giúp đỡ Agnès trong cuộc phiêu lưu đầu tiên [13] Magnolia Arch đến từ mặt trăng là người sống sót duy nhất sau cuộc tàn sát nhắm vào ngôi làng thuộc chủng tộc Ba’al của cô, cô sở hữu một chiếc đồng hồ cát có khả năng xoay chuyển thời gian, và Tiz Arrior, một đồng đội cũ của Agnès và Edea, bị hôn mê trong suốt thời gian qua. Nhóm không thể ngăn Kaiser trốn thoát khỏi Skyhold.

Dưới sự hướng dẫn của cả Agnès và một "người đàn ông với cây bút màu tím" bí ẩn, cả nhóm theo đuổi Skyhold trên khắp thế giới. Trong chuyến đi của họ, Kaiser lấy được một la bàn không gian và thời gian. Cả nhóm cũng biết về Sword of the Brave, một thanh kiếm bị nguyền rủa đã lấy mất cánh tay phải của Denys, anh cùng cha khác mẹ với Yew, sau khi anh ta cố gắng thu phục nó; bị tước mất mọi quyền lực và biến mất ngay sau đó. Tại Fire Temple ở Eisenberg, sau cuộc gặp gỡ của họ với Kyubi bí ẩn, Fire Crystal đã bị quá tải và Kaiser đang triệu hồi Holy Pillar. Cả nhóm vội vã đến Florem để ngăn Empire tại Water Crystal, nơi người đàn ông với chiếc bút màu tím tiết lộ mình chính là Celestial Being tên là Altair, người đã ếm Tiz kể từ khi anh xém chết tại Great Chasm hai năm trước. Trong khi đó, Kaiser ép Agnès xóa chiếc khiên xung quanh Water Crystal và dồn năng lượng cho nó để triệu hồi Holy Pillar. Cả nhóm tấn công Skyhold, giết chết Janne và Nikolai, cả hai tiết lộ quá chán ghét sự suy đồi của Orthodoxy những năm qua. Kaiser tận dụng khoảng thời gian đó để sử dụng la bàn quay ngược thời gian, đem theo Agnès, nhưng Anne đã hủy la bàn để gửi cả hai đến tương lai xa xôi khi cô sử dụng sức mạnh của Holy Pillar để tiêu diệt Moon. Cả nhóm đánh bại Anne trong trận chiến, nhưng sự hủy diệt của Moon cũng chấm dứt dòng chảy thời gian và đẩy thế giới vào trạng thái diệt vong tất yếu.

Cả nhóm sử dụng đồng hồ cát của Magnolia để quay ngược thời gian lại buổi lễ hòa bình và ngăn chặn Kaiser bắt cóc Agnès, vô tình biết được danh tính thực sự của người anh trai đã mất tích của Yew, Denys. Denys trốn thoát với sự trợ giúp của Janne và Nikolai, nhưng nhóm sử dụng ký ức của họ về khoảng thời gian trước đó để ngăn chặn kế hoạch của Denys, trong khi thuyết phục 2 thuộc hạ không nên hi sinh vô ích. Yew dồn Denys đến hầm mộ Geneolgia, nhận ra ý định của anh trai mình khi sử dụng la bàn là nhằm đi ngược thời gian hòng giết tổ tiên của họ, để phủ nhận những sai phạm gây ra bởi dòng dõi này. Yew đánh bại Denys, sau đó Agnès và Braev thuyết phục anh hãy chấp nhận những sai lầm của mình và tạo ra một thế giới hòa bình. Tuy nhiên, Anne ép một Vestling kích hoạt Holy Pillar để tiêu diệt Moon 1 lần nữa trước khi Denys phá hủy chiếc trâm của cô. Anne đáp lại bằng cách thức tỉnh Diamante, tên Ba'al đã tàn sát quê hương của Magnolia và giấu mình là Skyhold, để tiêu diệt cả nhóm. Denys chấp nhận hy sinh khi sử dụng la bàn để gửi chính mình và Diamante vào không gian vô tận.

Cả nhóm thức tỉnh ở Caldisla, khi Kyubi đã bỏ đi, và đối đầu với Anne khi cô cố gắng sử dụng Great Chasm của Norende để triệu hồi Ba'als trực tiếp tới Luxendarc. Cô tiết lộ cô chính là chị gái của Tiz và là kẻ thù cũ của Edea, Airy; cô thao túng chúng để đánh bại Airy khi "đấng tối cao" Ouroboros đe dọa chủ nhân Providence của cô, "đấng tối cao" tự nhận của Celestial Realm. Anne giải thích rằng Providence đã tạo ra Ba'als bằng cách sử dụng ký ức về người yêu của Altair là Vega. Sau khi giết Anne, cả nhóm tiến vào Celestial Realm và giải thoát Vega khỏi sự kiểm soát của Providence. Sau khi Altair và Vega ra đi bình an, nhóm bị tấn công bởi Providence, hắn phá vỡ chiều không gian thứ tư và cố gắng xóa save của người chơi. Cả nhóm ngăn chặn Providence và tiêu diệt hắn..

Khi nhóm trở về Luxendarc, Tiz được tiết lộ sẽ bị chết một lần nữa vì linh hồn của Altair đã rời bỏ anh ta. Một Adventurer bí ẩn, người từng viện trợ cho Tiz sau khi Norende bị hủy diệt, xuất hiện cầm theo chiếc đồng hồ cát của Magnolia, kịp thời để đưa cho Tiz, đẩy tất cả quay về lúc bắt đầu cuộc phiêu lưu đầu tiên của mình. Adventurer tiết lộ mình là đồng nghiệp của Altair tên là Deneb, nay trở về và thông báo cho nhóm rằng chiếc đồng hồ cát, cùng với hai năm rưỡi hy vọng và ước mơ, sẽ có thể làm lại cuộc đời của anh. Agnès, với chiếc đồng hồ cát trong tay, mang nó đến bữa tiệc và hồi sinh Tiz. Trong phần kết của trò chơi, Agnès từ nhiệm, với tư cách là Pope, định cư tại Norende với Tiz, trong khi Edea thăng chức thành tân Grand Marshall giữ hòa bình cho Eternia và Orthodoxy. Magnolia quyết định ở lại Luxendarc với Yew, tình yêu của đời cô. Trong một cắt cảnh cuối, đồng đội cũ của Tiz và Edea, Ringabel được tiết lộ đã trở thành một đặc vụ của lực lượng cảnh sát liên bang gọi là Planeswardens. Anh xác nhận với Planeswardens rằng Sword of the Brave thực sự tồn tại.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 12 năm 2012, các cuộc đàm phán về phần tiếp theo của Bravely Default bắt đầu, nhà sản xuất Tomoya Asano yêu cầu áp dụng thu nhập các ý kiến từ người hâm mộ[14]. Tháng 6 năm 2013, khi nhà phát triển game Yasumi Matsuno thông báo rằng thiết kế nhân vật và họa sỹ chính Akihiko Yoshida đã đồng ý làm phần tiếp theo của Bravely Default[15] . Vào tháng 8 năm 2013, Square Enix công bố Bravely Default: For the Sequel, một phiên bản cập nhật của bản gốc dựa trên các ý tưởng gameplay mới được phát triển cho phần tiếp theo của bộ truyện[16][17] . Cái tên Bravely Second đã được đăng ký nhãn hiệu vào đầu tháng 9 năm 2013.[18] Chính thức công bố tên phần tiếp theo sẽ là Bravely Second trong số ra tháng 12 năm 2013 của tạp chí Jump being named after a gameplay mechanic from Bravely Default: For the Sequel.[19] Sau khi thông báo, nền tảng được công bố duy nhất của game là Nintendo 3DS.[20] Trò chơi đã hoàn thành khoảng 30% trong khoảng thời gian thông báo chính thức

Vào tháng 12 năm 2013, Yoshida rời Square Enix.[21] Mặc dù vậy, anh vẫn tiếp tục làm việc với dòng Bravely và Bravely Second vẫn sẽ giữ lại phong cách anime. Mặc dù các nhân vật sẽ có tỷ lệ thực tế hơn một chút, ít chibi hơn. Ví dụ như Magnolia mặc một bộ đồ không gian hoặc có tai thỏ, nhưng cuối cùng bị bác bỏ để "trông người lớn" hơn. Asano cũng xác nhận rằng trò chơi sẽ quay trở lại cốt truyện đầu trái ngược với thăm dò.[22] Vào tháng 4 năm 2014, nhà sản xuất Tomoya Asano công bố trên tờ Rumor Column của Famitsu rằng đã hoàn thành kịch bản.[23][24] Vào cuối tháng 7 năm 2014, tạp chí Famitsu tiết lộ Revo sẽ không trở lại để soạn nhạc cho trò chơi do xung đột lịch trình, thay vào đó là Ryo vẫn từ ban nhạc Supercell.[25]

Vào ngày 10 tháng 12 năm 2014, bản chơi thử được phát hành trên Nintendo eShop của Nhật Bản.[26] Bản demo, phát hành dưới tên Bravely Second: Ballad of the Three Cavaliers, cho phép người thử 10 cấp, cũng như hơn 10h chơi. Một số vật phẩm được thu thập trong bản demo có thể chuyển vào trò chơi chính.[27]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Bravely Second nhận được đánh giá tích cực. Khen ngợi đi sâu về cách chơi so với bản đầu, và những lời phê bình chủ yếu hướng tới cốt truyện và thiếu sự khác biệt so với bản tiền nhiệm.

Trong bài đánh giá, Siliconera khen ngợi về tính năng "Consecutive Chance" và chỉ trích về việc sử dụng quá nhiều memes và ngôn ngữ quá hiện đại như loạt game Hyperdimension Neptunia.[28] [29]

Janine Hawkins từ Polygon chỉ trích sự thiếu sáng tạo nhưng ca ngợi thế giới quan và câu chuyện của trò chơi [30]

Mike Mahardy từ Gamespot cho biết: "Nó giống như bản mở rộng đặc biệt hơn là một phần tiếp theo thực sự. Hệ thống chiến đấu, mặc dù thiết kế đẹp, không thực hiện bất kỳ cải tiến lớn nào." Ông nói thêm "Nhưng cuối cùng, ít ra Bravely Second cũng đã vượt qua những hạn chế về mặt hội thoại và nội dung thừa thãi."[31]

Doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Bravely Second là trò chơi video bán chạy nhất tại Nhật Bản trong tuần đầu tiên, với 100.047 bản được bán và 53.6% của lô hàng ban đầu được bán hết.[32] Nhưng vẫn thấp hơn so với Bravely Default; trong tuần ra mắt, 141.529 bản đã được bán, tương ứng với 85,68% lô hàng đầu tiên.[33] Vào tháng 4 năm 2017, 700.000 bản đã được bán trên toàn thế giới.[34]

Ở Bắc Mỹ, trò chơi là tựa game bán chạy nhất thứ 9 trong tháng 4 năm 2016, một kỳ công được coi là đặc biệt ấn tượng bởi VentureBeat, điều hiếm thấy với thể loại JRPG.[35] Trong tuần đầu tiên, nó là game bán chạy nhất trên nền tảng Nintendo.[36][37]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ishaan (10 tháng 12 năm 2013). “Bravely Second Will Have Larger Fields, More Things To Do”. Siliconera. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2013. 
  2. ^ “Return to Luxendarc for new adventures in Bravely Second: End Layer on Nintendo #3DS, coming to Europe on 26/02/2016”. NintendoUK. 10 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015. 
  3. ^ Makuzawa, Red (19 tháng 1 năm 2016). “Bravely Second coming to North America in April, Collector’s Edition announced”. Nova Crystallis. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2016. 
  4. ^ “『ブレイブリーセカンド』正式タイトルが『BSEL』に決定!"エンドレイヤー"に隠された謎とは”. インサイド. 
  5. ^ Ishaan (1 tháng 6 năm 2015). “Bravely Second Coming West In 2016”. Siliconera. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  6. ^ Nintendo (5 tháng 6 năm 2015). “Nintendo AU NZ on Twitter”. Twitter. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  7. ^ Tach, David (24 tháng 10 năm 2013). “Bravely Second is a 3DS sequel to Bravely Default”. Polygon. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  8. ^ “Levelling and Grinding Guide - IGN”. IGN. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 
  9. ^ “Job System - Bravely Second”. Nintendo. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 
  10. ^ “Bravely Seconds Job Options”. Silicon Era. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 
  11. ^ Ashcraft, Kevin (4 tháng 12 năm 2012). “First Look at Bravely Second, the Totally New Bravely Default Sequel”. Kotaku. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  12. ^ Romano, Sal (12 tháng 9 năm 2013). “Bravely Default sequel announced for 3DS”. Gematsu. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  13. ^ Sato (20 tháng 1 năm 2015). “Edea Will Be One Of The Main Characters In Bravely Second”. Siliconera. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  14. ^ Sato (17 tháng 12 năm 2012). “Bravely Default Sequel In The Works”. Siliconera. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  15. ^ Ishaan (5 tháng 6 năm 2013). “Akihiko Yoshida Working On Next Bravely Default Says Yasumi Matsuno”. Siliconera. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  16. ^ Hussain, Tamoor (4 tháng 12 năm 2012). “News: Bravely Default sequel announced for 3DS”. ComputerAndVideoGames. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  17. ^ North, Dale (28 tháng 8 năm 2013). “Bravely Default For the Sequel expansion announced”. Destructoid. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  18. ^ Ishaan (18 tháng 9 năm 2013). “Hey, These Trademarks Sound Like Future Bravely Default Games”. Siliconera. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  19. ^ Nunneley, Stephany (4 tháng 12 năm 2013). “Bravely Second announced as sequel to Bravely Default”. VG247. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  20. ^ Whitehead, Thomas (4 tháng 12 năm 2012). “Bravely Default Sequel Confirmed for 3DS in Japan”. Nintendolife. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  21. ^ Gera, Emily (5 tháng 12 năm 2013). “Bravely Default character designer leaves Square Enix”. Polygon. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2013.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  22. ^ Sato. “Bravely Second Producer Aims To Create A New Pillar Of Support For Square Enix”. Siliconera. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2013.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  23. ^ Ishaan (21 tháng 2 năm 2014). “Bravely Second Will Focus On Story Rather Than Exploration”. Siliconera. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  24. ^ Mauro Piccillo. “Bravely Second Scenario Compleato!”. EIR Games. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  25. ^ Sato. “Supercell’s ryo In Charge Of Music For Bravely Second”. Siliconera. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  26. ^ SQUARE ENIX CO., LTD. “無料で遊べる三銃士編|ブレイブリーセカンド|SQUARE ENIX”. ブレイブリーセカンド|SQUARE ENIX.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  27. ^ “Bravely Second: Demo will be essential playing”. Games Radar. 20 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 
  28. ^ Brian (14 tháng 4 năm 2015). “Famitsu review scores (4/14/15) – Bravely Second”. Nintendo Everything. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  29. ^ Sato (30 tháng 4 năm 2015). “Japanese Players Are Enjoying Bravely Second, But Point Out Some Of Its Flaws”. Siliconera. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2016.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  30. ^ Hawkins, Janine (25 tháng 4 năm 2016). “Bravely Second: End Layer review”. Polygon. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016. 
  31. ^ “Bravely Second: End Layer Review”. GameSpot. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016. 
  32. ^ Ishaan (29 tháng 4 năm 2015). “This Week In Sales: Bravely Second Is On The Job”. Siliconera. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  33. ^ Ishaan (1 tháng 5 năm 2015). “Bravely Second Sold Through 54% Of Its Shipment”. Siliconera. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2015.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  34. ^ “Bravely Second: End Layer has sold 700,000 copies worldwide”. Nintendo Everything. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  35. ^ https://venturebeat.com/2016/05/12/nintendos-star-fox-and-bravely-second-rank-among-aprils-best-selling-console-games/
  36. ^ Josh A. Stevens (29 tháng 2 năm 2016). “Bravely Second Has Strong UK Chart Debut”. Tanuki Bridge. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2016.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)
  37. ^ Thomas Whitehead (29 tháng 2 năm 2016). “Bravely Second: End Layer Secures a Decent Start in the UK Charts”. Nintendo Life. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2016.  Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |tác giả=|họ= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]