Cá voi lưng gù

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá voi lưng gù[1]
Humpback Whale underwater shot.jpg
Humpback whale size.svg
Kích thước so với người trung bình
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Phân lớp (subclass) Eutheria
Bộ (ordo) Cetacea
Phân bộ (subordo) Mysticeti
Họ (familia) Balaenopteridae
Chi (genus) Megaptera
Gray, 1846
Loài (species) M. novaeangliae
Danh pháp hai phần
Megaptera novaeangliae
Borowski, 1781
Phạm vi phân bố cá voi lưng gù
Phạm vi phân bố cá voi lưng gù
Danh pháp đồng nghĩa
  • Balaena gibbosa Erxleben, 1777
  • B. boops Fabricius, 1780
  • B. nodosa Bonnaterre, 1789
  • B. longimana Rudolphi, 1832
  • Megaptera longimana Gray, 1846
  • Kyphobalaena longimana Van Beneden, 1861
  • Megaptera versabilis Cope, 1869

Cá voi lưng gù (danh pháp hai phần: Megaptera Novaeangliae) là một loài cá voi tấm sừng hàm. Là một loài cá voi lớn, nó có chiều dài từ 12–16 mét (39–52 ft) và cân nặng khoảng 30-36 tấn. Cá voi lưng gù có một hình dạng cơ thể đặc biệt, vây ngực dài khác thường và đầu có u. Nó là một con vật nhào lộn, thường trồi lên mặt nước. Con đực tạo ra bài hát phức tạp, kéo dài từ 10 đến 20 phút và được lặp đi lặp lại trong nhiều giờ tại một thời điểm. Mục đích của bài hát là chưa rõ ràng, mặc dù nó xuất hiện để có một vai trò quan trọng trong giao phối. Loài này được tìm thấy trong đại dươngbiển trên toàn thế giới, cá voi lưng gù thường di chuyển khoảng cách lên đến 25.000 kilômét (16.000 mi) mỗi năm. Cá voi lưng gù chỉ ăn ở vùng cực vào mùa hè và di cư đến các vùng nước nhiệt đới và cận nhiệt đới để giao phối và sinh sản vào mùa đông. Trong mùa đông, cá voi lưng gù nhịn ăn và tiêu dần số mỡ dự trữ. Chế độ ăn của cá voi lưng gù gồm có động vật thân mềm.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có liên quan đến những con cá voi khổng lồ của các chi Balaenoptera, cá voi lưng gù là thành viên duy nhất trong chi Megaptera của nó. Gần đây, việc phân tích trình tự ADN đã chỉ ra cá voi lưng gù có liên quan chặt chẽ với một số loài cá voi nhất định, đặc biệt là cá voi vây (B. physalus) và cả cá voi xám (Eschrichtius robustus).

Cá voi lưng gù lần đầu tiên được xác định bởi Mathurin Jacques Brisson vào năm 1756. Năm 1781, Georg Heinrich Borowski mô tả về loài này, chuyển tên gọi Brisson của nó sang tiếng Latinh, Balaena Novaeangliae. Năm 1804, Lacépède xếp cá voi lưng gù vào chi Balaenidae, đổi tên nó thành B.Jubartes. Năm 1846, John Edward công bố chi Megaptera, phân loại cá voi lưng gù vào chi này và đổi tên là Megaptera Longipinna, nhưng vào năm 1932, Remington Kellogg sửa tên loài thành Megaptera Novaeangliae. Tên gọi "cá voi lưng gù" thông thường của chúng có nguồn gốc từ cái lưng cong khi lặn. Tên chi Megaptera là từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "cánh khổng lồ" nhằm nói đến hai chân chèo lớn phía trước của nó.

Nghiên cứu di truyền vào giữa năm 2014 bởi các nhà khảo sát Nam Cực của Anh xác nhận rằng các quần thể cá voi lưng gù ở Bắc Đại Tây Dương, Bắc Thái Bình DươngNam Đại Dương có nhiều khác biệt so với suy nghĩ trước đây. Một số nhà sinh vật học tin rằng chúng chia thành các phân loài riêng biệt và đang phát triển một cách độc lập với nhau.

Tương tác với cá voi sát thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, nhà sinh thái biển Robert Pitman đã quan sát một hình ảnh tuyệt vời ở vùng biển ngoài khơi của Nam Cực, nơi mà một con cá voi lưng gù đã giải cứu chú hải cẩu Weddell bị một đoàn cá kình đuổi ra khỏi một tảng băng và sắp trở thành bữa ăn tối của chúng. Tuy nhiên, con cá voi lưng gù đã đặt hải cẩu lên chiếc bụng ngửa lên của chúng, và bảo vệ nó khỏi những kẻ tấn công cho đến khi nó an toàn ở một tảng băng trôi khác.

Sau khi chứng kiến hành động giải cứu tuyệt vời này, Pitman và một số đồng nghiệp của ông đã bắt đầu thu thập các dữ liệu về cá voi lưng gù tương tác với cá kình, được ghi bởi 54 nhà quan sát khác nhau trong giai đoạn từ 1951 đến 2012. Tổng cộng có 115 tương tác được báo cáo trong giai đoạn này, các chi tiết trong đó hiện nay được công bố trên tạp chí Marine Mammal Science.

Các loài động vật mà cá voi lưng gù thường giúp đỡ, bảo vệ là sư tử biển California, cá mặt trăng, hải cẩu cảngcá voi xám. Cá voi lưng gù đã sử dụng nhiều chiến thuật để chống đỡ lại cá kình như đập bằng chân chèo và đuôi của chúng, la hét và đuổi theo chúng.

Mặc dù các nhà nghiên cứu chưa hoàn toàn chắc chắn điều gì đã khiến cho cá voi lưng gù hành động như vậy, họ nghi ngờ rằng có thể là do chúng sợ cá voi sát thủ có thể tấn công con của chúng. Vì vậy, chúng sẽ tự động can thiệp bất cứ khi nào chúng nghe thấy cá kình đi săn mồi, thậm chí chúng còn biết trước loài nào là nạn nhân của chúng. Việc chúng vẫn tiếp tục đối đầu, ngay cả khi biết rằng cá voi sát thủ chưa tấn công cá voi lưng gù, vẫn còn là một bí ẩn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mead, James G.; Brownell, Robert L., Jr. (16 tháng 11 năm 2005). “Order Cetacea (pp. 723-743)”. Trong Wilson, Don E., and Reeder, DeeAnn M., eds. [http://google.com/books?id=JgAMbNSt8ikC&pg=PA723 Mammal Species of the World: A Taxonomic and Geographic Reference] (ấn bản 3). Baltimore: Johns Hopkins University Press, 2 tập (2 142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ Reilly, S.B., Bannister, J.L., Best, P.B., Brown, M., Brownell Jr., R.L., Butterworth, D.S., Clapham, P.J., Cooke, J., Donovan, G.P., Urbán, J. & Zerbini, A.N. (2008). Megaptera novaeangliae. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2008.