Danh sách đĩa nhạc của One Direction

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của One Direction
One Direction 2015.jpg
One Direction biểu diễn tại Glasgow trong On the Road Again Tour vào tháng 10 năm 2015.
Album phòng thu 5
Album video 1
Video âm nhạc 15
EP 6
Đĩa đơn 17

Danh sách đĩa nhạc của nhóm nhạc nam Anh-Ireland One Direction bao gồm 5 album phòng thu, một đĩa mở rộng, 17 đĩa đơn (gồm 2 đĩa đơn từ thiện), 2 video album và 15 video âm nhạc. Họ kí hợp đồng với Simon Cowell của hãng thu âm Syco Records sau khi được hình thành và giành hạng ba trong cuộc thi The X Factor (mùa giải thứ 7).[1] Sau đó, nhóm đã ký hợp đồng với hãng Columbia Records và có hoạt động rộng rãi tại Bắc Mỹ.[2]

Album đầu tay của nhóm, Up All Night, phát hành vào tháng 11 năm 2011. Album đạt vị trí quán quân tại 16 quốc gia và đây cũng là album đầu tiên ra mắt tại vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ bởi một nhóm nhạc Anh,[3][4] và kỷ lục này đã được ghi nhận vào Sách kỷ lục Guinness.[5] Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "What Makes You Beautiful", trở thành một hit lớn toàn thế giới, quán quân tại bảng xếp hạng UK Singles Chart của Liên hiệp Anh và đạt vị trí thứ tư trên Billboard Hot 100 của Mỹ. Hai đĩa đơn tiếp theo, "Gotta Be You" và "One Thing" đều lọt vào tốp 10 bảng xếp hạng của Liên hiệp Anh. Album thứ hai, Take Me Home được phát hành tháng 11 năm 2012.[6] Album tiêu thụ 540.000 bản trong tuần đầu tiên tại Mỹ cũng như quán quân bảng xếp hạng của 35 quốc gia.[7][8] Đĩa đơn đầu từ album, "Live While We're Young" là đĩa đơn xếp hạng cao nhất của nhóm tại Mỹ và trở thành bài hát có lượng tiêu thụ trong tuần đầu tiên cao nhất mà không phải bởi một nghệ sĩ người Mỹ.[9] "Little Things" và "Kiss You", hai đĩa đơn tiếp theo, cũng đạt nhiều thành công thương mại.

Album phòng thu thứ ba của nhóm, Midnight Memories, được phát hành vào ngày 25 tháng 11 năm 2013. Hai đĩa đơn đã phát hành từ album là "Best Song Ever" và "Story of My Life". Album tiếp tục trở thành một album thành công của One Direction khi nó có mặt ở vị trí quán quân ngay tuần đầu tiên tại UK Albums Chart và Billboard 200; và điều này đã giúp cho One Direction trở thành nhóm nhạc đầu tiên trong lịch sử có cả ba album đều đạt vị trí cao nhất tại Billboard 200. Với album phòng thu thứ 4, Four họ mở rộng kỷ lục bằng 4 album quán quân liên tiếp. Album Made in the A.M. phát hành đĩa đơn đầu tiên "Drag Me Down".[10] Tháng 10 năm 2015, ban nhạc thông báo đĩa đơn thứ hai từ album: "Perfect". Tính đến tháng 11 năm 2015, ban nhạc đã bán được tổng cộng 20 triệu album trên toàn cầu.[11]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Chi tiết Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Doanh số Chứng nhận
L.H. Anh
[12]
Úc
[13]
Bỉ
[14]
Canada
[15]
Đan Mạch
[16]
Ireland
[17]
Hà Lan
[18]
New Zealand
[19]
Thụy Điển
[20]
Mỹ
[21]
Up All Night
  • Phát hành: 18 tháng 11, 2011[22]
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
2 1 7 1 4 1 7 1 1 1
Take Me Home
  • Phát hành: 9 tháng 11, 2012[6]
  • Hãng đĩa: Syco, Colombia
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
  • L.H. Anh: 960,255[23]
  • Mỹ: 2,000,000[32]
  • Thế giới: 5,000,000[25]
  • L.H. Anh: 2× Bạch kim[26]
  • Úc: 2× Bạch kim[33]
  • Thụy Sĩ:  Bạch kim[34]
  • Canada: 2× Bạch kim[35]
  • Hà Lan: Vàng Vàng[36]
  • New Zealand: 2×  Bạch kim[37]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
Midnight Memories
  • Phát hành: Ngày 25 tháng 11 năm 2013
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
1 1 1 1 1 1 2 2 1 1
  • L.H. Anh: 828,840[23]
  • Mỹ: 1,490,000[32]
  • Thế giới: 4,000,000[38]
  • L.H Anh: 2× Bạch kim[26]
  • Úc: 2× Bạch kim[39]
  • Thụy Điển: Vàng Vàng[40]
  • Ireland: 3× Bạch kim[41]
  • Canada: 2× Bạch kim[42]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
  • New Zealand:  Bạch kim[43]
Four
  • Phát hành: 17 tháng 11, 2014
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: CD, LP, tải nhạc số
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
  • Canada: 398,000[44]
  • Mỹ: 954,000[24]
  • Thế giới: 3,200,000[45]
  • L.H. Anh: 2× Bạch kim[26]
  • Úc: 2× Bạch kim[27]
  • Thụy Điển:  Bạch kim[46]
  • Canada:  Bạch kim[29]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
  • New Zealand:  Bạch kim[47]
Made in the A.M.
  • Phát hành: 13 tháng 11, 2015
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: CD, LP, tải nhạc số
1 2 1 2 4 1 3 2 2 2
  • Thế giới: 2,400,000[48]
  • L.H.Anh: 362,000[49]
  • Mỹ: 402,000[50]
  • L.H. Anh:  Bạch kim[26]
  • Úc:  Bạch kim[51]
  • Canada:  Bạch kim[29]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
  • New Zealand: Vàng Vàng[52]

Đĩa mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các đĩa mở rộng, với các vị trí xếp hạng chọn lọc
Tên Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất
Mỹ
[21]
Pháp
[53]
iTunes Festival: London 2012
  • Phát hành: 20 tháng 9, 2012[54]
  • Hãng đĩa: Syco Records
  • Định dạng: Tải nhạc số
140

Live While We're Young EP

  • Phát hành: 28 tháng 9, 2012[55]
  • Hãng đĩa: Syco Records
  • Định dạng: Tải nhạc số
73

Best Song Ever (from "This Is Us") EP

  • Phát hành: 19 tháng 7, 2013[56]
  • Hãng đĩa: Syco Records
  • Định dạng: Tải nhạc số

Midnight Memories EP

  • Phát hành: 7 tháng 3 2014[57]
  • Hãng đĩa: Syco Records
  • Định dạng: Tải nhạc số

You & I EP

  • Phát hành: 23 tháng 5, 2014[58]
  • Hãng đĩa: Syco Records
  • Định dạng: Tải nhạc số

Perfect EP

  • Phát hành: 22 tháng 10, 2015[59]
  • Hãng đĩa: Syco Records
  • Định dạng: Tải nhạc số

Album video[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các album video, với vị trí xếp hạng chọn lọc, doanh số bán và chứng nhận
Tên Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận
L.H. Anh
[60]
Úc
[61]
Canada
[62]
Mỹ
[63]
Up All Night: The Live Tour
  • Phát hành: 28 tháng 5, 2012[64]
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: DVD
6 1 1 1
  • L.H. Anh: 61.000[60]
  • Thế giới: 1.000.000[60]
Where We Are: Live From San Siro Stadium
  • Phát hành: 1 tháng 12, 2014
  • Hãng đĩa: Syco, Columbia
  • Định dạng: DVD, BD
1 1 1
  • L.H.Anh: 2× Bạch kim[26]
  • Úc: 4x  Bạch kim[65]
  • Mexico: Vàng Vàng[66]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn, với vị trí trên bảng xếp hạng và doanh số
Tựa đề Năm Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Chứng nhận Album
L.H. Anh
[67]
Úc
[13]
Bỉ
[14]
Canada
[68]
Đan Mạch
[16]
Ireland
[17]
Hà Lan
[18]
New Zealand
[19]
Thụy Điển
[20]
Mỹ
[69]
"What Makes You Beautiful" 2011 1 7 8 7 26 1 63 2 29 4
  • L.H. Anh:  Bạch kim[26]
  • Úc: 7×  Bạch kim[70]
  • Bỉ: Vàng Vàng[71]
  • Thụy Điển: 4×  Bạch kim[72]
  • Canada: 5×  Bạch kim[73]
  • Mỹ: 4×  Bạch kim[30]
  • New Zealand: 2× Bạch kim[74]
Up All Night
"Gotta Be You" 3  —  —  —  — 3  —  —  —  —A
"One Thing" 2012 9 3 37 17 6 72 16  — 39
  • L.H. Anh:  Bạc[26]
  • Úc: 4×  Bạch kim[70]
  • Canada: 2× Bạch kim
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
  • New Zealand: Vàng Vàng[74]
"More than This" 86 49  —  —  — 39  —  —  —  —
"Live While We're Young" 3 2 7 2 4 1 3 1 23 3
  • L.H. Anh:  Bạc[26]
  • Úc: 2× Bạch kim[70]
  • Canada:  Bạch kim[77]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
  • New Zealand:  Bạch kim[78]
Take Me Home
"Little Things" 1 9 30 20 23 2  — 2 27 33
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[26]
  • Úc: 3× Bạch kim[70]
  • Canada: Bạch kim[79]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
  • New Zealand: Vàng Vàng[80]
"Kiss You" 2013 9 13 30 30 24 7 30 13 50 46
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[26]
  • Úc:  Bạch kim[70]
  • Canada: Bạch kim[81]
  • Mỹ: Vàng Vàng[30]
  • New Zealand: Vàng Vàng[82]
"One Way or Another (Teenage Kicks)" 1 3 5 9 1 1 1 3 28 13
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[26]
  • Úc: 2× Bạch kim[83]
  • Bỉ: Vàng Vàng[71]
  • Mỹ: Vàng Vàng[30]
  • New Zealand: Vàng Vàng[84]
Không thuộc album nào
"Best Song Ever" 2 4 12 2 2 2 5 3 22 2
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[26]
  • Úc:  Bạch kim[85]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
  • New Zealand: Vàng Vàng[86]
Midnight Memories
"Story of My Life" 2 3 3 3 1 1 3 1 8 6
  • L.H. Anh:  Bạch kim[26]
  • Úc: 2× Bạch kim[83]
  • Canada: 2× Bạch kim[29]
  • Mỹ: 3× Bạch kim[30]
  • New Zealand:  Bạch kim[87]
"Midnight Memories"[88] 2014 39 45 4 35 2 3 5 3 12
"You & I" 19 23 17 78 38 7 32 22 21 68
"Steal My Girl" 3 9 15 16 1 3 31 9 18 13
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[26]
  • Úc:  Bạch kim[83]
  • Canada:  Bạch kim[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[89]
  • Mỹ: Vàng Vàng[30]
Four
"Night Changes" 7 33 51 20 13 76 11 40 31
  • L.H. Anh:  Bạc[26]
  • Úc: Vàng Vàng[90]
  • Canada: Vàng Vàng[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[91]
  • Mỹ:  Bạch kim[30]
"Drag Me Down" 2015 1 1 5 4 5 1 5 1 6 3
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[26]
  • Úc:  Bạch kim[92]
  • Canada: Vàng Vàng[29]
  • New Zealand: Vàng Vàng[93]
Made in the A.M.
"Perfect" 2 4 9 13 25 1 28 7 12 10
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[26]
  • Úc: 2× Bạch kim[94]
  • New Zealand:  Bạch kim[95]
"History" 6 25 44 46 8 72 14 63 65
  • L.H. Anh: Vàng Vàng[26]
  • Úc:  Bạch kim[96]
  • New Zealand:  Bạch kim[97]
"—" bài hát không lọt được vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại đó.

Đĩa đơn từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Ghi chú
L.H. Anh
[98]
Úc
[99]
Bỉ
[100]
Canada
Đan Mạch
[101]
Ireland
[102]
Hà Lan
[18]
New Zealand
[103]
Mỹ
[104]
"Heroes"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2010)
2010 1 1
  • Giúp đỡ cho tổ chức từ thiện Help for Heroes để cứu giúp quân nhân bị thương.[105]
"Wishing on a Star"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2011 và JLS)[106]
2011 1 1
  • Giúp đỡ cho tổ chức từ thiện giúp đỡ trẻ em Together for Short Lives.[107]
"God Only Knows"
(với BBC Music and Friends)
2014 20 77
"Do They Know It's Christmas?"
(với Band Aid 30)
1 3 1 8 35 1 4 2 63
"—" bài hát không lọt được vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại đó.

Đĩa đơn quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các bài hát được xếp hạng khác, với vị trí xếp hạng cao nhất
Tên Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Album
L.H. Anh
[110]
Úc
[111]
Bỉ
[14]
Canada
[68]
Đan Mạch
[16]
Ireland
[17]
Hà Lan
[18]
New Zealand
[19]
Thụy Điển
[20]
Mỹ
[69]
"Diana" 2013 58 [L] 3 23 1 2 3 2 55 11 Midnight Memories
"Strong" 48 6 44 3 22 4 1 58 87
"Ready to Run"[112] 2014 44 60 10 29 58 77 Four
"Where Do Broken Hearts Go"[113] 47 90 69 88
"18"[114] 45 84 84 46 87
"Girl Almighty"[115] 65
"Fool's Gold"[116] 74
"Infinity" 2015 36 22 40 38 59 28 42 54 Made in the A.M.
"Home" 96 48 37 84 74 Perfect EP
"End of the Day" 73 58 67 41 96 [B] 59 [O] Made in the A.M.
"Love You Goodbye" 78 75 80 45 71 [P]
"What a Feeling" 90 77 59 94 74 [Q]
"—" bài hát không lọt được vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại đó.

Bài hát xếp hạng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các bài hát được xếp hạng khác, với vị trí xếp hạng cao nhất
Tên Năm Vị trí xếp hạng Album
L.H. Anh
[110]
Úc
[111]
Bỉ
[14]
Canada
[68]
Ireland
[17]
Hà Lan
[18]
New Zealand
[19]
Thụy Điển
[20]
Mỹ
[69]
"Na Na Na" 2011 86 27 Up All Night
"Another World" 85 66
"Moments" 118 60 87
"Stand Up" 80
"Up All Night" [C]
"I Should Have Kissed You" 2012 55 71 27
"Nobody Compares" 174 79 [D] Take Me Home
"She's Not Afraid" 171 89 [E]
"Still the One" 197 97 [F]
"Heart Attack" 100 [G]
"Rock Me" 98
"They Don't Know About Us" [H]
"Last First Kiss" [I]
"Loved You First" [J]
"I Would" [K]
"C'mon, C'mon" [L]
"Don't Forget Where You Belong" 2013 21 26 51 31 Midnight Memories
"Half a Heart" 108 82
"Alive" 150
"Better Than Words" 185
"Does He Know?" 130
"Happily" 120 35
"Little Black Dress" 177
"Little White Lies" 149
"Right Now" 173
"Through the Dark" 175
"Why Don't We Go There" 156
"Fireproof" 2014 92 Four
"Stockholm Syndrome" 107 31 99
"Change Your Ticket" 149
"Clouds" 183
"Illusion" 181
"No Control" 135
"Once in a Lifetime" 170
"Spaces" 160
"Act My Age" 140
"If I Could Fly" 2015 79 70 53 89 58 83 Made in the A.M.
"Olivia" 72 84 55 76 87
"A.M." 83 81 62 78 94
"Never Enough" 89 100 65 89 100
"Temporary Fix" 86 69 96 96
"Hey Angel" 96 98 76 99 [R]
"I Want to Write You a Song" 103 97 77 94 [S]
"Wolves" 99 78 [T]
"Walking in the Wind" 104 79 [U]
"Long Way Down" 106 99 [V]
"—" Bài hát không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không phát hành ở quốc gia đó.

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách video âm nhạc cùng đạo diễn
Tên Năm Đạo diễn
"Heroes"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2010)
2010 Không biết
"What Makes You Beautiful" 2011 John Urbano[117]
"Gotta Be You"
"Wishing on a Star"
(với các nghệ sĩ chung kết The X Factor 2010 và JLS)
Không biết
"One Thing" 2012 Declan Whitebloom[118]
"Live While We're Young" Vaughan Arnell[119]
"Little Things"
"Kiss You" 2013
"One Way or Another (Teenage Kicks)" One Direction[120]
"Best Song Ever" Ben Winston[121]
"Story of My Life"
"Midnight Memories" 2014
"You & I"
"Steal My Girl" Ben và Gabe Turner[cần dẫn nguồn]
"Night Changes" Ben Winston[cần dẫn nguồn]
"Drag Me Down" 2015 Ben và Gabe Turner[cần dẫn nguồn]
"Perfect" Sophie Müller[cần dẫn nguồn]
"History" 2016 Ben Winston

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
Tham khảo
  1. ^ Victoria Nash (13 tháng 12, 2010). “X Factor's One Direction sign £1m deal”. Express & Star (Liên hiệp Anh: Midland News Association). Truy cập 20 tháng 10, 2012. 
  2. ^ James C. McKinley Jr (23 tháng 3, 2012). “Boy Bands Are Back, Wholesome or Sexy”. The New York Times (Hoa Kỳ: The New York Times Company). Truy cập 3 tháng 10, 2012. 
  3. ^ a ă “One Direction to hold global Twitter viewing party for new concert DVD”. Music Week (Liên hiệp Anh: Intent Media). 30 tháng 5, 2012. Truy cập 11 tháng 6, 2012. 
  4. ^ Keith Caulfield (20 tháng 3, 2012). “One Direction Makes History With No. 1 Debut on Billboard 200”. Billboard (Hoa Kỳ: Prometheus Global Media). Truy cập 21 tháng 3, 2012. 
  5. ^ Colin Daniels (7 tháng 9, 2012). “Adele, One Direction enter 'Guinness World Records'. Digital Spy (Liên hiệp Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập 8 tháng 9, 2012. 
  6. ^ a ă “Take Me Home”. iTunes Store (bằng tiếng Hà Lan). Hà Lan: Apple Inc. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ Keith Caufied (ngày 20 tháng 11 năm 2012). “One Direction's 'Take Me Home' Debuts at No. 1 With Year's Third-Biggest Opening”. Billboard (Mỹ: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2012. 
  8. ^ Tina Hart (ngày 29 tháng 11 năm 2012). “Imagem Music signs One Direction hit-writer Fiona Bevan”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  9. ^ Tina Hart (ngày 21 tháng 10 năm 2012). “One Direction achieve fastest-selling single by a UK act in the US”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2012. 
  10. ^ “One Direction Shares First Track Without Zayn Malik, 'Drag Me Down'. Billboard. U.S. 31 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2015. 
  11. ^ Corner, Lewis (9 tháng 11 năm 2015). “One Direction's new album Made In The AM - world first track-by-track review”. Digital Spy. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2016. 
  12. ^ “UK Charts > One Direction”. Official Charts Company. 
  13. ^ a ă “One Direction”. Australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  14. ^ a ă â b “One Direction - Belgium (Flanders) Charts”. www.ultratop.be/nl/ Hung Medien. 
  15. ^ “Canadian Hot 100”. Billboard.com. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  16. ^ a ă â “Discography One Direction”. danishcharts.com. Switzerland: Hung Medien. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  17. ^ a ă â b “One Direction - Irish Charts”. irish-charts.com/ Hung Medien. 
  18. ^ a ă â b c “Dutch Album Charts > One Direction” (bằng tiếng Hà Lan). dutchcharts.nl Hung Medien. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  19. ^ a ă â b “One Direction - New Zealand Charts”. charts.org.nz/ Hung Medien. 
  20. ^ a ă â b “Discography - One Direction”. Sverigetopplistan. 
  21. ^ a ă “Building Album Sales Chart”. HITS Daily Double. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  22. ^ “iTunes - Music - Up All Night (Yearbook Edition) by One Direction”. iTunes Store. Ireland: Apple Inc. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2012. 
  23. ^ a ă â Jones, Alan (ngày 24 tháng 11 năm 2013). “Official Charts analysis: 1D land fourth consecutive No.1 LP as Four sells 141,780”. Music Week (Intent Media). Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015.  Bản mẫu:Subscription needed
  24. ^ a ă “Billboard 200 Chart Moves: One Direction's 'Four' Reaches 1 Million Sold in U.S.”. United States: Keith Caulfield. 13 tháng 8 năm 2015. 
  25. ^ a ă “One direction - Syco Music”. Modest! Management. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015. 
  26. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p “Certified Awards Search” (To access, enter the search parameter "One Direction" and select "Search"). British Phonographic Industry. Ngày 13 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2013. 
  27. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2015 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2015. 
  28. ^ “Veckolista Album - Vecka 36, ngày 7 tháng 9 năm 2012 [Weekly List Album - Week 36, ngày 7 tháng 9 năm 2012]”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Thụy Điển). Thụy Điển: Swedish Recording Industry Association (GLF). Ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  29. ^ a ă â b c d đ e “Canada certifications – One Direction”. Music Canada. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2015. 
  30. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô “Gold and Platinum > Searchable Database > One Direction”. United States: Recording Industry Association of America (RIAA). Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2012. 
  31. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). Ngày 1 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  32. ^ a ă Caulfield, Keith (ngày 10 tháng 4 năm 2015). “Billboard 200 Chart Moves: Ed Sheeran Scores His Second Million-Selling Album”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2015. 
  33. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Albums”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Ngày 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  34. ^ “Veckolista Album - Vecka 46, ngày 16 tháng 11 năm 2012 [Weekly List Album - Week 46, ngày 16 tháng 11 năm 2012]”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Thụy Điển). Thụy Điển: Swedish Recording Industry Association. Ngày 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  35. ^ “Canada album certifications – One Direction – Take Me Home”. Music Canada. Ngày 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  36. ^ “Gouden plaat voor One Direction [Golden plate for One Direction]”. NU.nl (bằng tiếng Hà Lan) (Hà Lan: Sanoma Media). Ngày 9 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  37. ^ “NZ Top 40 Albums Chart”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand. Ngày 19 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  38. ^ “IFPI Digital Music Report 2014: Top selling global albums of 2013” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. tr. 12. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2015. 
  39. ^ “ARIA Charts - Accreditations - 2013 Albums”. Australian Recording Industry Association. Tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013. 
  40. ^ “Sverigetopplistan - Sveriges Officiella Topplista”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  41. ^ “2013 Certification Awards — Multi platinum”. Irish Recorded Music Association (IRMA). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014. 
  42. ^ http://musiccanada.com/GPSearchResult.aspx?st=&ica=False&sa=One%20Direction&sl=&smt=0&sat=-1&ssb=Artist
  43. ^ “NZ Top 40 Albums Chart | The Official New Zealand Music Chart”. Nztop40.co.nz. Ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  44. ^ Bliss, Karen (27 tháng 1 năm 2015). “Nielsen: Canada Loved Taylor Swift, Streaming Music and, Yep, Vinyl in 2014”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2015. 
  45. ^ “IFPI Digital Music Report 2015: Charting the Path to Sustainable Growth” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2015. 
  46. ^ “Veckolista Album – Vecka 5, ngày 29 tháng 1 năm 2015”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Swedish). Sweden: Swedish Recording Industry Association (GLF). Ngày 31 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  47. ^ “New Zealand album certifications – One Direction – Four”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2015. 
  48. ^ “Global Music Report” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. 12 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. 
  49. ^ Copsey, Rob (18 tháng 1 năm 2016). “Little Mix achieve a personal best with their latest album Get Weird”. Official Charts Company. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  50. ^ Caulfield, Keith. “Justin Bieber Scores Sixth No. 1 Album On Billboard 200 Chart”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2015. 
  51. ^ http://www.ariacharts.com.au/chart/albums
  52. ^ “New Zealand single certifications”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2015. 
  53. ^ Steffen Hung. “One Direction - Live While We're Young EP”. lescharts.com. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2014. 
  54. ^ “iTunes Festival: London 2012 - EP”. iTunes Store (bằng tiếng Hà Lan). Hà Lan: Apple Inc. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2012. 
  55. ^ “iTunes - Música - Live While We're Young - EP de One Direction”. Itunes.apple.com. Ngày 28 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2014. 
  56. ^ “iTunes: Best Song Ever (from "This Is Us") - EP”. iTunes Store. Apple Inc. Ngày 19 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  57. ^ “iTunes: Midnight Memories - EP”. iTunes Store. Apple Inc. Ngày 7 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  58. ^ “iTunes: You & I - EP”. iTunes Store. Apple Inc. Ngày 23 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  59. ^ “iTunes: Perfect - EP”. iTunes Store. Apple Inc. 22 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2015. 
  60. ^ a ă â Dan Lane (2 tháng 8 năm 2012). “One Direction sell 12 million singles, albums and DVD and Blu-rays worldwide”. United Kingdom: Official Charts Company. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2012. 
  61. ^ “One Direction's live DVD reaches 6x platinum after one week”. Nova FM (Australia: DMG Radio Australia). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  62. ^ Rhian Jones (ngày 8 tháng 6 năm 2012). “One Direction live DVD hits No.1 in 25 countries”. Music Week (L.H. Anh: Intent Media). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  63. ^ Keith Caufield (ngày 6 tháng 6 năm 2012). “One Direction's 'Up All Night: The Live Tour' Debuts at No. 1”. Billboard (Mỹ: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  64. ^ Lewis Corner (ngày 12 tháng 4 năm 2012). “One Direction perform 'Moments' on tour – video”. Digital Spy (L.H. Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012. 
  65. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 2015 DVDs”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  66. ^ a ă “Certificaciones-Amprofon - One Direction”. Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2016. 
  67. ^ Vị trí xếp hạng cao nhất của các đĩa đơn tại L.H. Anh:
  68. ^ a ă â “One Direction - Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  69. ^ a ă â Vị trí xếp hạng cao nhất của các đĩa đơn và các bài hát có xếp hạng khác ở Hoa Kỳ:
  70. ^ a ă â b c “ARIA Charts – Accreditations – 2013 Singles”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013. 
  71. ^ a ă ultratop.be - ULTRATOP BELGIAN CHARTS
  72. ^ “Veckolista Singlar – Vecka 3, 20 januari 2012 [Weekly List Album – Week 3, ngày 20 tháng 1 năm 2012]”. Sverigetopplistan (bằng tiếng Swedish). Sweden: Swedish Recording Industry Association (GLF). Ngày 20 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2012. 
  73. ^ “Canada digital download certifications – One Direction – What Makes You Beautiful”. Music Canada. Ngày 27 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  74. ^ a ă “NZ Top 40 Singles”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). Ngày 7 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  75. ^ ARIA Charts - Accreditations, ARIA
  76. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 Singles”. Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2014. 
  77. ^ “Canada digital certifications – One Direction – Live While We're Young”. Music Canada. 
  78. ^ “NZ Top 40 Singles”. Nztop40.co.nz. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). Ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  79. ^ “Canada digital certifications – One Direction – Little Things”. Music Canada. 
  80. ^ “NZ Top 40 Singles”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). Ngày 31 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  81. ^ “Canada digital certifications – One Direction – Kiss You”. Music Canada. 
  82. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). Ngày 11 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  83. ^ a ă â “ARIA Charts – Accreditations – 2014 Singles”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2014. 
  84. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). Ngày 18 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013. 
  85. ^ ARIA Australian Top 50 Singles Chart| Australia's Official Top 50 Songs - ARIA Charts
  86. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recording Industry Association of New Zealand (RIANZ). Ngày 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2013. 
  87. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recorded Music NZ (RMNZ). Ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2014. 
  88. ^ “Liam Payne ‘I Wrote Midnight Memories’ | OCEANUP TEEN GOSSIP”. Oceanup.com. Ngày 24 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2014. 
  89. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recorded Music NZ (RMNZ). Ngày 15 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  90. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2015 Singles”. Australia: Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  91. ^ “NZ Top 40 Singles Chart”. New Zealand: Recorded Music NZ (RMNZ). Ngày 9 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015. 
  92. ^ Ryan, Gavin (26 tháng 9 năm 2015). “ARIA Singles: Justin Bieber Maintains Top Spot After Four Weeks”. Noise11. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2015. 
  93. ^ “New Zealand single certifications”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  94. ^ Ryan, Gavin (19 tháng 3 năm 2016). “ARIA Singles: Lukas Graham '7 Years' No 1 for 5th Week”. Noise11. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016. 
  95. ^ “New Zealand single certifications”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2016. 
  96. ^ Ryan, Gavin (30 tháng 4 năm 2016). “ARIA Singles: Pink Tops Chart But Prince Dominates”. Noise11. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2016. 
  97. ^ “New Zealand single certifications”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016. 
  98. ^ Thứ hạng cao nhất của các đĩa đơn từ thiện tại Liên hiệp Anh:
  99. ^ http://www.charts.org.nz/showitem.asp?interpret=Band+Aid+30&titel=Do+They+Know+It%27s+Christmas%3F+%282014%29&cat=s
  100. ^ http://www.ultratop.be/nl/song/14b33b/Band-Aid-30-Do-They-Know-It's-Christmas-(2014)
  101. ^ http://www.danishcharts.com/showitem.asp?interpret=Band+Aid+30&titel=Do+They+Know+It%27s+Christmas%3F+%282014%29&cat=s
  102. ^ Thứ hạng cao nhất của các đĩa đơn từ thiện tại Ireland:
  103. ^ http://charts.org.nz/showitem.asp?interpret=Band+Aid+30&titel=Do+They+Know+It%27s+Christmas%3F+%282014%29&cat=s
  104. ^ Band Aid 30: “Band Aid 30 - Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2015. 
  105. ^ “X Factor: finalists cover David Bowie for charity”. Newsbeat (L.H. Anh: BBC). Ngày 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2010. 
  106. ^ One Direction and JLS join X Factor Charity Single DigitalSpy, Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011.
  107. ^ Colin Daniels (ngày 5 tháng 11 năm 2010). “One Direction and JLS join X Factor Charity Single”. Digital Spy (L.H. Anh: Hearst Magazines UK). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  108. ^ “BBC - BBC Children in Need - BBC Music’s God Only Knows in aid of BBC Children in Need”. BBC. 
  109. ^ “Do they know it's 2014? Geldof puts Band Aid back together 30 years after it first topped the chart”. Daily Mail. 10 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2014. 
  110. ^ a ă Thứ hạng cao nhất của các đĩa đơn khác tại Liên hiệp Anh:
  111. ^ a ă Peak positions for other charted songs in Australia:
  112. ^ “iTunes - Music - FOUR (Deluxe Version) by One Direction”. iTunes. 
  113. ^ “iTunes - Music - FOUR (Deluxe Version) by One Direction”. iTunes.  (Promotional track is highlighted)
  114. ^ “iTunes - Music - FOUR (Deluxe Version) by One Direction”. iTunes.  (Promotional track is highlighted)
  115. ^ “iTunes - Music - FOUR (Deluxe Version) by One Direction”. iTunes.  (Promotional track is highlighted)
  116. ^ “iTunes - Music - FOUR (Deluxe Version) by One Direction”. iTunes.  (Promotional track is highlighted)
  117. ^
  118. ^ “One Direction One Thing (Behind the Scenes)”. YouTube. United States: Google, Inc. Ngày 26 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  119. ^ * For "Live While We're Young": Jason Lipshutz (ngày 20 tháng 9 năm 2012). “One Direction Releases 'Live While We're Young' Single, Video: Watch”. Billboard (United States: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  120. ^ Julia Carey and Ali Bauersfeld. “Watch 1D's "One Way Or Another" video”. Seventeen. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2013. The boys saved money by making this video themselves 
  121. ^
  122. ^ a ă â b c d đ e ê g h "One Direction - Chart History - Bubbling Under Hot 100 Singles". Billboard. Truy cập 28 tháng 2 năm 2013.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]