Bước tới nội dung

Eduard Shevardnadze

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Eduard Shevardnadze
ედუარდ შევარდნაძე
Eduard Shevardnadze, tháng 7 năm 1997
Chức vụ
Nhiệm kỳ26 tháng 11 năm 1995 – 23 tháng 11 năm 2003
7 năm, 362 ngày
Tiền nhiệmZviad Gamsakhurdia
Kế nhiệmNino Burjanadze (quyền)
Chủ tịch Quốc hội Gruzia
Nhiệm kỳ4 tháng 11 năm 1992 – 26 tháng 11 năm 1995
3 năm, 22 ngày
Tiền nhiệmchức vụ được thành lập
Kế nhiệmZurab Zhvania
Nhiệm kỳ6 tháng 8 năm 1993 – 20 tháng 8 năm 1993
14 ngày
Tiền nhiệmTengiz Sigua
Kế nhiệmOtar Patsatsia
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Gruzia
Nhiệm kỳ10 tháng 3 năm 1992 – 4 tháng 11 năm 1992
239 ngày
Tiền nhiệmchức vụ được thành lập
Kế nhiệmchức vụ bị giải thể
Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô (lần 2)
Nhiệm kỳ19 tháng 11 năm 1991 – 26 tháng 12 năm 1991
37 ngày
Tiền nhiệmBoris Pankin (quyền)
Kế nhiệmchức vụ bị giải thể
Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô (lần 1)
Nhiệm kỳ2 tháng 7 năm 1985 – 20 tháng 12 năm 1990
5 năm, 171 ngày
Tiền nhiệmAndrei Gromyko
Kế nhiệmAleksandr Bessmertnykh
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Gruzia
Nhiệm kỳ29 tháng 9 năm 1972 – 6 tháng 7 năm 1985
12 năm, 280 ngày
Tiền nhiệmVasil Mzhavanadze
Kế nhiệmJumber Patiashvili
Thông tin cá nhân
Quốc tịch
  • Liên Xô Liên Xô (cho đến năm 1991)
  • Gruzia Gruzia (từ năm 1991)
Sinh(1928-01-25)25 tháng 1, 1928
Liên Xô Mamati, Guria, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia, Liên Xô
Mất7 tháng 7, 2014(2014-07-07) (86 tuổi)
Tbilisi, Gruzia
Dân tộcGruzia
Tôn giáoChính thống giáo
Đảng chính trịĐảng Cộng sản Liên Xô (1948-1991) Đảng Cộng sản Gruzia (1948-1991)
VợNanuli Shevardnadze
ChaAmbrose Shevardnadze
Chữ ký

Eduard Shevardnadze (tiếng Gruzia: ედუარდ შევარდნაძე, tiếng Nga: Эдуа́рд Амвро́сьевич Шевардна́дзе, 25 tháng 1 năm 19287 tháng 7 năm 2014) là một chính trị gia người Gruzia. Ông từng giữ chức Tổng thống Gruzia từ năm 1995 đến khi từ chức vào năm 2003 trong một cuộc Cách mạng Hoa hồng, Chủ tịch Quốc hội Gruzia (1992–1995), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Gruzia trong năm 1992 sau khi Gruzia giành được độc lập, Liên Xô giải thể. Ông cũng từng giữ chức thủ tướng Gruzia trong một thời gian ngắn năm 1993. Trong thời gian Liên Xô còn tồn tại, ông từng giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô (1985–1990) dưới thời Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Gruzia (1972–1985).

Xuất thân và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 25 tháng 1 năm 1928 tại làng Mamati, thành phố Lanchkhuti, vùng Guria, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia. Cha của ông, Ambrose Shevardnadze là một giáo viên, một đảng viên cộng sản và là một cán bộ đảng tận tụy. Mẹ của ông không tôn trọng chính phủ cộng sản và phản đối sự nghiệp đảng của cả ông và cha ông. Ông là anh em họ của họa sĩtrí thức người Gruzia Dimitri Shevardnadze, người đã bị thanh trừng dưới thời Tổng Bí thư Joseph Stalin. Năm 1937, trong cuộc Đại thanh trừng, cha của ông bị bắt nhưng sau đó được thả tự do nhờ sự can thiệp của một sĩ quan Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô (NKVD) từng là học trò của cha ông.

Ông học hết lớp 8 tiểu học tại trường Mamati. Từ tháng 10 năm 1943 đến tháng 6 năm 1946, ông là sinh viên của Trường Sapershala Tbilisi thứ hai. Ông tốt nghiệp Cao đẳng Y khoa Tbilisi, ông sống ở Tbilisi trên phố Pasanauri cùng chị gái trong một ngôi nhà cũ. Khi còn nhỏ, ông mắc bệnh lao và được điều trị tại Bakhmaro trong vài tháng. Năm 1960, ông tốt nghiệp vắng mặt Học viện Sư phạm A. Tsulukidze Kutaisi chuyên ngành lịch sử.

Năm 1948, ông gia nhập Đảng Cộng sản Gruzia và Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông thăng tiến đều đặn qua các cấp bậc của Đoàn Thanh niên Cộng sản Gruzia, và sau khi phục vụ một nhiệm kỳ với tư cách là Bí thư thứ hai, ông trở thành Bí thư thứ nhất. Trong thời gian giữ chức Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên Cộng sản Gruzia, ông đã gặp Mikhail Gorbachev lần đầu tiên. Ông nói rằng ông đã trở nên vỡ mộng với hệ thống chính trị Liên Xô sau bài phát biểu bí mật của tổng bí thư Nikita Khrushchev tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20. Giống như nhiều người Liên Xô khác, ông kinh hoàng trước những tội ác do tổng bí thư Joseph Stalin gây ra, và phản ứng của chính phủ Liên Xô đối với các cuộc biểu tình ở Gruzia năm 1956 càng khiến ông sốc hơn. Ông bị Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Gruzia giáng chức vào năm 1961 sau khi xúc phạm một quan chức cấp cao.

Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1946, ông làm giảng viên tại Ủy ban huyện Ordzhonikidze của Đảng Cộng sản Gruzia, sau đó từ tháng 11 năm 1946 đến tháng 8 năm 1949 làm trưởng phòng nhân sự và tổ chức tại đó. Từ tháng 8 năm 1949 đến tháng 6 năm 1951, ông là sinh viên tại Trường Đảng. Từ tháng 7 năm 1951 đến tháng 2 năm 1952, ông làm giảng viên tại Bộ phận Cơ quan Komsomol của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Gruzia, từ tháng 2 năm 1952 đến tháng 6 năm 1953, ông là Bí thư thứ hai Ủy ban khu vực Kutaisi của Đảng Cộng sản Gruzia. Từ tháng 6 năm 1953 đến tháng 12 năm 1953, ông là Giảng viên tại Bộ phận Đảng, Công đoàn và Đoàn Thanh niên Cộng sản của Thành ủy Kutaisi thuộc Đảng Cộng sản Gruzia; từ tháng 12 năm 1953 đến tháng 5 năm 1956, ông là Bí thư thứ nhất của Ủy ban khu vực Kutaisi thuộc Đảng Cộng sản Gruzia.

Từ tháng 5 năm 1956 đến tháng 12 năm 1957, ông là Bí thư thứ hai của Đảng Cộng sản Gruzia. Tháng 8 năm 1961 đến tháng 2 năm 1963, ông là Bí thư thứ nhất của Ủy ban Quận Mtskheta của Đảng Cộng sản Gruzia, từ tháng 2 năm 1963 đến tháng 7 năm 1964 ông là Bí thư thứ nhất của Ủy ban Quận 1 tháng 5 của Đảng Cộng sản Gruzia, từ tháng 7 năm 1964 đến tháng 5 năm 1965 ông là Thứ trưởng Bộ Trật tự Công cộng của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia. Tháng 5 năm 1965 đến tháng 8 năm 1972 ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia. Ngay sau khi được bổ nhiệm vào vị trí này, một chiến dịch chống kinh tế ngầm và tham nhũng đã được phát động. Chiến dịch được quảng bá rầm rộ, nhưng không mang lại kết quả đáng kể. Ông được phong hàm Thiếu tướng vào tháng 4 năm 1967.

Sau khi bị giáng chức, ông đã phải chịu đựng nhiều năm chìm trong quên lãng trước khi trở lại với tư cách là Bí thư thứ nhất của một quận thành phố ở Tbilisi. Ông đã thách thức Bí thư thứ nhất của Tbilisi Otari Lolashvili, và sau đó buộc tội ông ta tham nhũng. Ông rời khỏi công việc đảng sau khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia vào năm 1964. Chính nỗ lực thành công của ông trong việc bỏ tù Otari Lolashvili đã dẫn đến việc ông được thăng chức Thứ trưởng. Năm 1965, ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia. Sau khi khởi xướng một chiến dịch chống tham nhũng thành công được chính phủ Liên Xô hỗ trợ, ông được bầu làm Bí thư thứ hai Đảng Cộng sản Gruzia. Chiến dịch chống tham nhũng của ông đã làm gia tăng sự thù hận của công chúng đối với ông, tuy nhiên những chiến dịch này đã thu hút sự quan tâm của chính phủ Liên Xô.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Gruzia (1972–1985)

[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được bầu là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Gruzia sau khi Vasil Mzhavanadze từ chức, ông được giao nhiệm vụ đàn áp chủ nghĩa tư bản chợ đen đã phát triển trên khắp Gruzia dưới thời Vasil Mzhavanadze.

Chiến dịch chống tham nhũng

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự thăng tiến nhanh chóng của ông trong hệ thống chính trị Gruzia là kết quả của chiến dịch chống tham nhũng của ông. Trong suốt thời gian ông lãnh đạo, các chiến dịch chống tham nhũng là trọng tâm trong quyền lựcchính sách của ông. Thời điểm ông trở thành lãnh đạo, Gruzia là nước cộng hòa Xô Viết bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tham nhũng. Sự cai trị của Vasil Mzhavanadze được đặc trưng bởi sự lãnh đạo yếu kém và hối lộ tràn lan ở các cấp cao của quyền lực. Ở Gruzia, tham nhũng đã phát triển mạnh, dẫn đến những biến dạng nghiêm trọng trong hệ thống. Ví dụ, chỉ có 68% hàng hóa của Gruzia được xuất khẩu hợp pháp, trong khi tỷ lệ hàng hóa được xuất khẩu hợp pháp từ các nước cộng hòa Xô Viết khác lên tới gần 100%. Ông đã tập hợp sự ủng hộ cho các chiến dịch chống tham nhũng của mình bằng cách thành lập Nghiên cứu dư luận. Để chống tham nhũng, ông đã tham gia vào các thủ đoạn, sau khi dừng mọi hoạt động xuất khẩu, ông cải trang thành một nông dân và lái một chiếc xe chở đầy cà chua qua biên giới. Sau thủ đoạn gian dối cá nhân của mình, toàn bộ lực lượng cảnh sát biên phòng Gruzia đã bị thanh trừng. Mặc dù chưa bao giờ được chứng minh, nhưng người ta nói rằng sau khi nhậm chức, ông đã yêu cầu tất cả các quan chức cấp cao cho xem tay trái và ra lệnh cho những người sử dụng đồng hồ do phương Tây sản xuất phải thay thế bằng đồng hồ của Liên Xô. Câu chuyện này miêu tả ông là một người tích cực đấu tranh chống tham nhũng. Chiến dịch chống tham nhũng của ông phần lớn không thành công, và khi ông trở về Gruzia vào năm 1992, tham nhũng vẫn tiếp tục là một vấn đề đáng kể.

Chính sách kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời lãnh đạo của ông, Gruzia là một trong số ít các nước cộng hòa Xô Viết không bị trì trệ kinh tế, mà ngược lại còn tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Đến năm 1974, sản lượng công nghiệp đã tăng 9,6% và sản lượng nông nghiệp tăng 18%. Nền kinh tế thiếu hụt vốn đã trở thành một vấn đề phổ biến ở các khu vực khác của Liên Xô, gần như đã biến mất ở Gruzia. Những hàng dài người xếp hàng mua thực phẩm ở Tbilisi đã được rút ngắn trong khi ở Moscow lại kéo dài. Một số chính sách kinh tế của ông đã được chính phủ Liên Xô áp dụng trên toàn quốc.

Năm 1973, ônh khởi xướng một cuộc cải cách nông nghiệp ở Abasha, thường được gọi là "thí nghiệm Abasha". Cuộc cải cách này được lấy cảm hứng từ chính sách nông nghiệp của János Kádár, chính sách này đã đưa quyền quyết định về nông nghiệp trở lại cấp chính quyền địa phương. Ông đã sáp nhập tất cả các tổ chức nông nghiệp Abasha thành một thực thể duy nhất và thiết lập một hệ thống thù lao mới. Nếu một nông dân hoàn thành sớm kế hoạch 5 năm, họ sẽ được thưởng một phần hoa màu. Chính sách này đã có tác động tích cực đến nền kinh tế Gruzia, dẫn đến sự gia tăng đáng kể sản lượng nông nghiệp ở Abasha, và sau đó cuộc cải cách này đã được áp dụng ở các nơi khác trong nước cộng hòa. Cuộc cải cách nông nghiệp ở Gruzia đã trở thành mô hình của các Tổ chức Công nghiệp - Nông nghiệp trên toàn quốc được thành lập theo sắc lệnh vào năm 1982.

Ông nhận phần lớn công lao về thành tích kinh tế của Gruzia dưới thời ông lãnh đạo. Bảy tháng trước khi được bầu làm Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô, ông tuyên bố rằng có hơn ba mươi cuộc thử nghiệm kinh tế đang diễn ra ở Gruzia, mà theo ông sẽ dân chủ hóa hơn nữa việc quản lý kinh tế.

Thử nghiệm chính trị và chủ nghĩa dân tộc

[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là người ủng hộ mạnh mẽ cải cách chính trị tại Gruzia. Ông đã thành lập các cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Gruzia, có nhiệm vụ chính là nghiên cứu, phân tích và định hình dư luận. Các cơ quan này phối hợp chặt chẽ với mạng lưới truyền thông và phương tiện truyền thông của Gruzia; các bộ trưởng chính phủ và ông thường xuyên được phỏng vấn trực tiếp trên truyền hình. Ông chỉ trích sự nịnh hót ở Gruzia và cho biết ông cùng các hoạt động của chính phủ cần phải bị chỉ trích thường xuyên hơn, đặc biệt là trong các kỳ đại hội đảng. Ông đã thể hiện mình, ngay cả trước khi Mikhail Gorbachev lên nắm quyền là một người ủng hộ mạnh mẽ nền dân chủ nhân dân.

Các nhà cầm quyền Gruzia trước đây đã nhượng bộ trước chủ nghĩa thiên vị dân tộc chủ nghĩa đối với người Gruzia, ông phản đối chính sách thiên vị này. Do đó, chính sách dân tộc chủ nghĩa của ông bị coi là gây tranh cãi ở Gruzia. Tại Đại hội lần thứ 25 của Đảng Cộng sản Gruzia, ông phát biểu trước đại hội rằng: "Đối với người Gruzia, mặt trời không mọc ở phía Đông mà ở phía Bắc - ở Nga." Ông coi "chủ nghĩa dân tộc cực đoan", cùng với tham nhũng và sự kém hiệu quả trong hệ thống, là một trong những trở ngại chính đối với tăng trưởng kinh tế. Trong thời gian cầm quyền, ông lên án những gì ông coi là "tư tưởng hẹp hòi và cô lập dân tộc" và các nhà văn xuất bản các tác phẩm mang âm hưởng dân tộc chủ nghĩa. Những năm 1970 chứng kiến sự gia tăng xu hướng dân tộc chủ nghĩa trong xã hội Gruzia. Các cuộc biểu tình ở Gruzia năm 1978 bùng phát sau quyết định của chính phủ Liên Xô sửa đổi hiến pháp Gruzia và loại bỏ tiếng Gruzia khỏi danh sách ngôn ngữ nhà nước duy nhất tại Gruzia. Mặc dù ban đầu kiên định với chính quyền Liên Xô, ông nhanh chóng khẳng định lại lập trường của mình và có thể thỏa hiệp với chính quyền Liên Xô và những người biểu tình. Tiếng Gruzia được giữ nguyên là ngôn ngữ chính thức duy nhất của nước cộng hòa và Xô Viết Tối cao Liên Xô đã thông qua luật kêu gọi tăng cường đào tạo tiếng Nga ở các nước cộng hòa không thuộc Nga.

Một vấn đề khác mà ông phải đối mặt trong các cuộc biểu tình năm 1978, một số trí thức người Abkhaz đã viết thư cho Tổng Bí thư Leonid Brezhnev hy vọng rằng ông sẽ cho phép Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Abkhaz tách khỏi Gruzia sáp nhập vào Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Để ngăn chặn điều này, chính phủ Gruzia đã nhượng bộ những yêu cầu của phe ly khai, bao gồm việc thành lập một trường đại học Abkhaz, mở rộng các ấn phẩm Abkhaz và thành lập một đài truyền hình Abkhaz. Ông tỏ ra là một người ủng hộ tích cực việc bảo vệ lợi ích của các nhóm thiểu số.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]

Tư liệu liên quan tới Eduard Shevardnadze tại Wikimedia Commons