Emma Blackery

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Emma Blackery
Emma Blackery 2016 (9).jpg
Blackery biểu diễn tại Sân vận động Manchester, 2016
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhEmma Louise Blackery
Sinh11 tháng 11, 1991 (28 tuổi)
Basildon, Essex, Anh
Websiteemmablackery.com
Thông tin YouTube
Giáo dụcTrường Trung học Bromfords
Kênh
Năm hoạt động2010–nay
Thể loại
  • âm nhạc
  • hài kịch
  • vlog
Lượt đăng ký1,2 triệu
Tổng lượt xem128 triệu
Mạng lướiRevelmode (Maker Studios)
YouTube Silver Play Button 2.svg 100.000 lượt đăng ký 2013
YouTube Gold Play Button 2.svg 1.000.000 lượt đăng ký 2015
Lượt đăng ký và lượt xem được cập nhật tính đến 18 tháng 8 năm 2016.

Emma Louise Blackery[1] (sinh ngày 11 tháng 11 năm 1991)[2] là một ca sĩ-nhạc sĩ và vlogger YouTube người Anh.[2][3] Kênh YouTube chính của cô đã có hơn 1,2 triệu lượt đăng ký và hơn 128 triệu lượt xem video.[4]

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Emma Louise Blackery sinh tại Basildon, Essex. Cô là con gái duy nhất của Sheila và Michael Blackery, hai người sau đó đã chia tay khi cô 13 tuổi. Trong suốt thời thơ ấu và những năm thiếu niên của cô, Emma được nuôi nấng phần lớn bởi bố cô. Sau khi bố mẹ cô chia tay, mẹ của Blackery bước tiếp với hai đứa con nữa, Febe và Travis.[3]

Blackery lớn lên nghe nhạc của Michael Jackson và Madonna[3] và tự học chơi đàn guitar lúc 12 tuổi sau khi khám phá âm nhạc bởi Busted, McFlyGreen Day.[5] Sau đó cô nhắc tới Good Charlotte, blink-182, The White Stripes, Placebo, ParamoreTwenty One Pilots như những nguồn cảm hứng cho âm nhạc của cô.[6]

Blackery học tại Trường Bromfords[7][8] và Đại học SEEVIC nơi cô học về chính trị.[9]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

EP đầu tiên của Emma Blackery, Human Behaviour, được phát hành vào đầu năm 2012.[10] Blackery ban đầu tạo kênh YouTube emmablackery để quảng bá cho âm nhạc của mình. Vào tháng 7 năm 2013, Blackery phát hành EP thứ hai của mình, Distance, cùng với một video âm nhạc cho bài hát mở đầu EP, "Go The Distance". Video âm nhạc được tải lên kênh YouTube chính của cô và hiện đã có hơn 1.000.000 lượt xem.[11] EP đã đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng iTunes Rock trong tuần đầu tiên phát hành.[12][13] Blackery phát hành EP thứ ba, Perfect, vào ngày 11 tháng 11 năm 2014, đúng vào sinh nhật thứ 23 của cô,[14] và bài hát "Perfect" lọt vào bảng xếp hạng UK Rock & Metal Singles Chart tại vị trí thứ 8.[15]

Vào tháng 10 năm 2015, Blackery thông báo cô đang trong quá trình sáng tác và thu âm EP thứ tư của mình, có tựa đề là Sucks To Be You,[16] được phát hành tháng 5 năm 2016.[17] Vào ngày 9 tháng 4 năm 2016, cô đăng tải một teaser của bài hát trên trang web của mình.[18] Đĩa đơn và video âm nhạc được phát hành ngày 13 tháng 5 năm 2016. "Sucks to be You" là đĩa đơn đầu tiên từ EP thứ tư cùng tên.[19] Đĩa mở rộng được phát hành ngày 27 tháng 5 năm ngày 27 tháng 5 năm 2016.

Vào ngày 4 tháng 4 năm 2016, Blackery thông báo cô sẽ tham gia cùng ban nhạc pop punk Busted trong chuyến lưu diễn Pigs Can Fly Tour 2016 của họ với tư cách là khách mời.[20] Vào ngày 27 tháng 5 năm 2016, cùng ngày phát hành EP thứ tư của cô, Blackery công bố một chuyến lưu diễn tại Anh Quốc vào tháng 10 năm 2016 và từ tháng 5 tới tháng 7 năm 2017.[21] Cô cũng có chuyến lưu diễn châu Âu vào tháng 3 năm 2018, sau đó được dời sang tháng 10 năm 2018.[22][23] Cô cũng biểu diễn tại một số sự kiện của YouTube.[24]

Vào tháng 4 năm 2017, cô mở kênh Vevo của mình, với các video cho "Nothing Without You, "Don't Come Home", và "Magnetised".[25] Vào ngày 26 tháng 5, Blackery phát hành EP thứ năm của cô, Magnetised.[26] Vào ngày 2 tháng 6, EP khởi đầu tại vị trí thứ 63 trên bảng xếp hạng UK Albums Chart, trở thành EP đầu tiên của cô lọt vào bảng xếp hạng Official Album Chart.[27] EP đã đạt cao nhất tại vị trí thứ 5 trên bảng xếp hạng UK Independent Album Chart và thứ 2 trên bảng xếp hạng Official Independent Album Breakers Chart.[28][29] Vào ngày 6 tháng 8, Blackery được Summer in the City trao giải Bài hát của năm cho "Nothing Without You".[30] Video âm nhạc cho "Nothing Without You" cũng nhận được hơn 1.000.000 lượt xem trên YouTube. Bìa đĩa của Magnetised cũng được xuất hiện trong sự kiện Apple Keynote ra mắt chiếc iPhone X vào tháng 9 năm 2017.[31]

Vào ngày 16 tháng 3 năm 2018 Emma phát hành đĩa đơn "Dirt". Bài hát đã lọt vào bảng xếp hạng iTunes Anh Quốc tại vị trí thứ 28 và sau đó còn vươn lên tới vị trí thứ 15. ‘Dirt’ đã nhận được khoảng 948 nghìn lượt stream trên Spotify cho tới nay. Ngoài ra, video âm nhạc của "Dirt" được phát hành cùng ngày trên kênh Vevo của cô tới nay đã thu hút được hơn 800 nghìn lượt xem.[32][33]

Vào ngày 30 tháng 4 năm 2018, qua Twitter, Blackery thông báo đĩa đơn tiếp theo "Agenda" sẽ được phát hành ngày 4 tháng 5 năm 2018.[34] Một video lời bài hát được phát hành cùng ngày phát hành đĩa đơn trên tài khoản Vevo của Blackery.[35] Video âm nhạc chính thức được phát hành ngày 22 tháng 5.[36]

Vào ngày 22 tháng 5 năm 2018, Blackery thông báo album đầu tay của cô, Villains, sẽ được phát hành ngày 31 tháng 8 năm 2018.[37][38]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Blackery đã cho phát hành cuốn sách do chính cô viết có tên là Feel Good 101: The Outsiders' Guide to a Happier Life, dựa trên một series trên kênh chính của cô. Vào tháng 9 năm 2017, cuốn sách được phát hành và trở thành cuốn sách bán chạy nhất.[39][40][41][42]

YouTube[sửa | sửa mã nguồn]

Blackery hiện tại có ba kênh YouTube đang hoạt động:

  • emmablackery - Kênh chính của Blackery, được tạo tháng 5 năm 2012, trong đó cô đăng tải các nội dung chính của mình bao gồm các vlog, video âm nhạc, vở kịch hài và các nội dung khác. Cô bắt đầu nhận một lượng người theo dõi lớn từ những video đọc các trích đoạn của Fifty Shades of Grey trên kênh của mình, nhưng những video này sau đó đã được xóa đi vì lý do bản quyền.[43] Trong series các video Fifty Shades of Grey của mình, Blackery cũng bắt đầu tải lên các vlog hài kịch, được lấy cảm hứng từ Shane DawsonDan Howell.[44] Một trong những video có lượt xem nhiều nhất của cô đến bây giờ là "My Thoughts on Google+", một video nhạc than phiền về một trang web hợp tác với YouTube.[45][46]
  • BirdyBoots - Kênh trò chơi hiện tại, tạo tháng 1 năm 2015.
  • Vloggery - Kênh vlog và phong cách sống hiện tại, tạo tháng 8 năm 2016.

Blackery cũng đã có một số kênh YouTube khác cho tới nay đã không còn hoạt động:

  • Pink Fluffy Hat Time - kênh YouTube đầu tiên của Blackery tới nay đã bị ngừng.
  • These Silent Seas - Kênh âm nhạc tạo tháng 7 năm 2011 đã không còn hoạt động từ tháng 11 năm 2011.
  • emmaforthewin - Kênh vlog và âm nhạc từ tháng 3 năm 2012, không còn hoạt động từ tháng 8 năm 2013.
  • BlackeryTV - Ban đầu được dùng cho các nội dung bổ sung cho kênh chính emmablackery, nay đã bị ngừng.
  • LazyLittleMe - Kênh làm đẹp hợp tác cùng Cherry Wallis tới nay đã bị ngừng.
  • EmmaFailsAtGaming - Kênh trò chơi tạo năm 2013, nay đã bị ngừng.
  • boxesoffoxes - Kênh làm đẹp và phong cách sống tạo tháng 8 năm 2014 đã không còn hoạt động từ tháng 2 năm 2016. Nó đã từng được đổi tên thành "emmablackery vlogs" trong thời gian ngắn vào tháng 6 năm 2016 nhưng cuối cùng lại bị bỏ lại sau khi tạo kênh Vloggery.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Blackery sống theo phong cách thuần chay và được chẩn đoán mắc hội chứng mệt mỏi mạn tính.[47]

Năm 2014, cô bắt đầu gây quỹ cho nhiều tổ chức từ thiện, cạo đầu sau khi gây quỹ được tổng cộng 26.101 bảng Anh.[48] Vào tháng 12 năm 2015, cô vận động thành công cho Liberty in North Korea để nhận 25.000 đôla gây quỹ từ dự án thường niên Project for Awesome.[49]

Giữa năm 2013 và 2016, Emma từng hẹn hò với YouTuber Luke Cutforth. Sau đó họ tiếp tục trở thành bạn thân của nhau.[50]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Chi tiết Vị trí xếp hạng cao nhất
Anh Quốc
[51]
Villains
Ký hiệu "—" chỉ bản thu không được xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực đó.

Đĩa mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Vị trí xếp hạng cao nhất Chi tiết
Anh Quốc
[52]
Human Behavior EP
  • Phát hành: 17 tháng 5 năm 2012
  • Nhãn đĩa: Độc lập
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
Distance EP
  • Phát hành: 16 tháng 7 năm 2013
  • Nhãn đĩa: Độc lập
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
Perfect EP
  • Phát hành: 11 tháng 11 năm 2014
  • Nhãn đĩa: Fireflight
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
Sucks to Be You
  • Phát hành: 27 tháng 5 năm 2016
  • Nhãn đĩa: Độc lập
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số
Magnetised 63
  • Phát hành: 26 tháng 5 năm 2017
  • Nhãn đĩa: Độc lập
  • Định dạng: Tải kỹ thuật số, CD, đĩa than
Ký hiệu "—" chỉ bản thu không được xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực đó.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Album
Anh Quốc
Sales

[53]
Scotland
[54]
"F**k You Google+" 2014 Đĩa đơn không album
"I've Been Worse" 2015
"Your Own Shoes"
"Sucks to Be You" 2016 85 Sucks to Be You
"Nothing Without You" 2017 Magnetised
"Magnetised"
"Don't Come Home"
"Dirt" 2018 47 Villains
"Agenda"
"Icarus"
Ký hiệu "—" chỉ bản thu không được xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực đó.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Blackery, Emma (ngày 4 tháng 3 năm 2014). “My middle name is Louise. LOUISE. LIKE EVERY OTHER EMMA ON THIS PLANET”. Twitter. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  2. ^ a ă “Emma Blackery FAQ - Web Archive”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  3. ^ a ă â "DRAW MY LIFE - Emma Blackery" trên YouTube
  4. ^ “Youtube profile page”. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014. 
  5. ^ “PIGS CAN FLY”. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016. 
  6. ^ “Albums That Changed My Life”. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016. 
  7. ^ Howeson, Louise (ngày 19 tháng 2 năm 2015). “Emma Blackery YouTube blog has grossed 57 million views so far and helped launch her music career”. Echo News. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  8. ^ “bromfords was....”. Twitter. Ngày 15 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  9. ^ “ISSUU - Seevic College 16-19 Prospectus 2011/12 by Seevic College”. Seevic College. tr. 58. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  10. ^ “Human Behaviour EP - Emma Blackery”. Emma Blackery. Ngày 17 tháng 5 năm 2012. 
  11. ^ “Go The Distance - Music Video”. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  12. ^ “TuneCore Artists Score Big on iTunes July Charts”. PRWeb. Ngày 25 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ “THE UPLOAD TOUR 3 – Emma Blackery, BriBry and Dave Giles”. The Academy. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  14. ^ “Perfect EP by Emma Blackery”. iTunes. Ngày 20 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2014. 
  15. ^ “Official Rock & Metal Singles Chart Top 40”. iTunes. 
  16. ^ “LISTENING TO MY OLD BANDS (+MUSIC NEWS!!) - Emma Blackery”. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2015. 
  17. ^ “YouNow show, April 2016”. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  18. ^ “emma blackery on Twitter”. Twitter. 
  19. ^ “Emma Blackery”. Truy cập 31 tháng 12 năm 2016. 
  20. ^ “Busted reveal Emma Blackery and Wheatus will join their UK tour”. Newsbeat (BTCN Online). Ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  21. ^ “Emma Blackery Concert Setlists & Tour Dates”. setlist.fm. 
  22. ^ “Emma Blackery Postpones European Tour”. teneightymagazine.com. 
  23. ^ “Emma Blackery Announces European Tour”. teneightymagazine.com. 
  24. ^ “Emma Blackery at Summer in the City 2017: Headline Recap”. teneightymagazine.com. 
  25. ^ “Musical Discovery: ‘Nothing Without You’ by Emma Blackery”. The Life of a Thinker. 12 tháng 4 năm 2017. 
  26. ^ “Emma Blackery Announces New EP ‘Magnetised’”. Celeb Mix. 15 tháng 3 năm 2017. 
  27. ^ “Official Albums Chart Top 100 02 June 2017 - 08 June 2017”. Official Charts. 
  28. ^ “Official Independent Albums Chart Top 50 02 June 2017 - 08 June 2017”. Official Charts. 
  29. ^ “Official Independent Album Breakers Chart Top 20 02 June 2017 - 08 June 2017”. Official Charts. 
  30. ^ “.@emmablackery won song of the year with her absolute BOP 'Nothing Without You' and we are all too emotional #sitc2017”. Twitter. 6 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2017. 
  31. ^ “DIY artist Emma Blackery reacts to album being featured during iPhone launch”. NME. 13 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2018. 
  32. ^ http://teneightymagazine.com/2018/03/22/emma-blackery-releases-new-single-dirt/
  33. ^ https://celebmix.com/emma-blackery-returns-with-sassy-new-single-dirt/
  34. ^ https://twitter.com/emmablackery/status/990989152756862976
  35. ^ https://www.youtube.com/watch?v=DZZzaVllIuQ
  36. ^ https://www.youtube.com/watch?v=cNaFG4JT8AY
  37. ^ https://twitter.com/emmablackery/status/998971790830469121
  38. ^ https://itunes.apple.com/album/villains/1387446309
  39. ^ “EXCLUSIVE: Emma Blackery Tells Us All You Need To Know About Her New Book”. 
  40. ^ “Emma Blackery Discusses Feel Good 101 Book”. teneightymagazine.com. 
  41. ^ “Review: Feel Good 101 by Emma Blackery”. www.amysbookishlife.co.uk. 
  42. ^ “Emma Blackery Announces 'Feel Good 101' Book”. 10 tháng 2 năm 2017. 
  43. ^ Tim Lewis, Killian Fox and Lizzi Michael (ngày 7 tháng 4 năm 2013). “YouTube UK: 20 of Britain's most popular online video bloggers”. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  44. ^ Teoh Lander-Boyce. “EMMA BLACKERY: THE JEKYLL AND HYDE WITHIN”. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016. 
  45. ^ STEPHANIE MLOT (ngày 11 tháng 11 năm 2013). “Google+, YouTube Comment Integration Sparks User Outrage”. PC Mag. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  46. ^ CAROLINE MOSS. “One Woman's Expletive-Filled Rant About Google+ Will End Up Making Money For Google”. Business Insider. tr. ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  47. ^ "I Have Chronic Fatigue Syndrome" trên YouTube
  48. ^ “The Day I Shaved My Head”. YouTube. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016. 
  49. ^ “How To Give Away Over a Million Dollars”. YouTube. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2016. 
  50. ^ “We Broke Up...”. Truy cập 31 tháng 12 năm 2016. 
  51. ^ “EMMA BLACKERY Full Official Charts History”. Official Charts. 
  52. ^ “EMMA BLACKERY Full Official Charts History”. Official Charts. 
  53. ^ “Official Singles Sales Chart Top 100 23 March 2018 - 29 March 2018”. Official Charts. 
  54. ^ “Official Scottish Singles Sales Chart Top 100 03 June 2016 - 09 June 2016”. Official Charts. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]