Paramore

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Paramore
Paramore Hayley Williams03.jpg
Hát chính Hayley Williams (giữa), trống Zac Farro (trái) và bassist Jeremy Davis (phải) biểu diễn tại Vans Warped Tour vào tháng tám 2007
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Nashville, Tennessee, U.S.
Thể loại Emo,[1][2][3] alternative rock,[4] power pop,[5] pop punk[6]
Năm 2004-nay
Hãng đĩa Fueled by Ramen
Website Paramore.net
Thành viên hiện tại
Hayley Williams
Jeremy Davis
Taylor York
Thành viên cũ
Jason Bynum
John Hembree
Hunter Lamb
Josh Farro
Zac Farro

Paramore (phiên âm quốc tế: /ˈpærəmɔər/) là một ban nhạc rock của Mỹ, được thành lập tại Franklin, Tennessee vào năm 2004, gồm có Hayley Williams (hát chính/keyboard), Josh Farro (guitar chính/ hát đệm), Taylor York (guitar rhythm), Jeremy Davis (guitar bass), và Jack Farro (trống). Nhóm đã cho ra album đầu tiên All We Know is Falling vào năm 2005, và album thứ 2 Riot! vào năm 2007, album đã được chứng nhận đĩa Bạch Kim tại Mỹ, và đĩa Vàng tại Anh và Ailen. Album thứ 3 Brand New Eyes phát hành năm 2009 là album thành công nhất của nhóm với việc đứng đầu nhiều bảng xếp hạng cũng như nhận nhiều đĩa vàng và bạch kim ở nhiều nước.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

2002-2005: Thành lập và All we know is falling[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, khi 13 tuổi, giọng ca Hayley Williams rời quê hương Meridian, Lauderdale County, Mississippi đến Franklin, Williamson County, Tennessee, Mỹ, nơi cô đã gặp anh em Josh và Zac Farro trong khi đi học ở một trường tư. Không lâu sau khi đến, cô bắt đầu tập thanh nhạc với Brett Manning. Trước khi tham gia Paramore, Williams và tay bass Jeremy Davis tham gia vào một ban nhạc funk có tên gọi The Factory, trong khi anh em Farro luyện tập cùng nhau sau giờ học. Những thành viên khác sớm trở thành Paramore, đã "khó chịu về những thứ toàn phụ nữ" khi Williams tham gia với vai trò giọng ca chính/tambourine/accordion, nhưng, bởi vì họ thực sự là những người bạn tốt, cô bắt đầu sáng tác cho họ và thậm chí đã thành công. Ban nhạc chính thức được thành lập với Josh Farro (guitar chính/ hát đệm), Zac Farro (trống), Jeremy Davis (bass) và Hayley Williams (hát chính) vào năm 2004, và thêm vào sau đó là một người hàng xóm của Williams, Jason Bynum (guitar rhythm). Họ chọn cái tên Paramore, có nguồn gốc là tên thời con gái của một người mẹ của một tay bass thành lập nhóm trong suốt thời gian họ "vẫn còn chơi trong garage", cho đến khi nhóm được biết ý nghĩa của từ đồng âm paramour ("người tình bí mật"), họ quyết định chọn cái tên, sử dụng cách viết Paramore. Bài hát đồng sáng tác đầu tiên của ban nhạc là "Conspiracy", sau đó đã được sử dụng trong album đầu tay của nhóm.

Trong những năm tiếp theo, Paramore biểu diễn tại những địa điểm bên ngoài vùng Nashville rộng lớn, kể cả lễ hội hòa nhạc Purple Door và Warped Tour. John Janick, CEO và đồng sáng lập của nhãn hiệu âm nhạc Fueled by Ramen, nắm giữ những bản demo của Paramore, và tới buổi biểu diễn Taste of Chaos tại Orlando, Florida để xem ban nhạc biểu diễn. Sau một buổi biểu diễn riêng nhỏ tại một kho hàng, ban nhạc đã kí hợp đồng với nhãn hiệu vào tháng 4 - 2005.

Paramore trở lại Orlando để thu âm album đầu tay của họ, nhưng, không lâu sau khi tham gia, Davis đã rời khỏi ban nhạc vì một lý do cá nhân. Bốn thành viên còn lại của Paramore tiếp tục với album, sáng tác "All we know" về sự ra đi đó, và sau đó quyết định chọn All We Know is Falling làm nền tảng cho album. Bộ ảnh của album cũng phản chiếu lại nỗi đau của Paramore như lời giải thích của Williams, "Chiếc đi văng (trên bìa của All We Know is Falling) trống không và bóng tối ra đi; tât cả đều về Jeremy đã rời bỏ chúng tôi, và chúng tôi cảm thấy như có một khoảng trống." Qua trình ghi âm All we know is falling tốn 3 tuần, và thành phần quảng bá cho album chỉ gồm 4 thành viên còn lại. Trước chuyến lưu diễn, ban nhạc đã bổ sung John Hembree (bass) vào nhóm để thay thế cho Davis. Trong suốt mùa hè, Paramore đã được giới thiệu trên Shira Girl Stage của 2005 Warped Tour. Sau khi được ban nhạc đề nghị, Davis trở lại Paramore, sau 5 tháng, đúng lúc Hembrey ra đi. All We Know is Falling được phát hành vào 24-7-2005 và đạt vị trí thứ 30 trên Billboard's Heatseekers Chart. Paramore phát hành "Pressure" làm single đầu tiên cho album, video được đạo diễn bởi Shane Drake, nhưng ca khúc đã không lọt được vào các bảng xếp hạng. Video mô tả ban nhạc đang biểu diễn trong một nhà kho, thậm chí bị phun bởi bình tưới nước trong khi mạch truyện xảy ra hai sự xung đột. Vào tháng 7, "Emergency" được phát hành làm single thứ hai, video là sự tái hợp của ban nhạc và đạo diễn Shane Drake và có sự tham gia của Hunter Lamb, người thay thế Bynum chơi guitar. Video "Emergency" là một buổi biểu diễn khác của Paramore, lần này hóa trang những vết máu và thay đổi trang phục cho các thành viên. Single thứ ba "All we know", được phát hành với thời lượng giới hạn, và video là tập hợp của những buổi biển diễn và những cảnh hậu trường.

Vào tháng 1 - 2006, họ tham gia vào the Winter Go West Tour, ở đó, họ đã chơi bên cạnh các ban nhạc của Seattle như Amber Pacific và The Lashes, và trong tháng 1, hát chính Wiliams đã hát chung ca khúc "Keep Dreaming Upside Down" với October Fall. Trong mùa xuân 2006, Paramore tham gia vào tuor quảng bá cho cả Bayside và sau đó, The Rocket Summer. Họ lưu diễn tại Anh từ 5 - 15 tháng 10, 2006, và kết thúc ở London, tại The Mean Fiddler. Ban nhạc sau đó đã cover lại ca khúc "My Hero" của Foo Fighters cho album nhạc phim Sound of Superman, album được phát hành vào 26-6-2006. Trong suốt mùa hè 2006, Paramore đã chơi cho Warped Tour, chủ yếu trên sân khấu Volcom và Hurley, và đêm đầu tiên trên sân khấu chính của họ là vào một ngày tại quê nhà ở Nashville. Tour lưu diễn quảng bá đầu tiên tại Mỹ của Paramore bắt đầu vào 2-8-2006, với sự hỗ trợ từ This Providence, Cute Is What We Aim For, và Hit the Lights trong show cuối cùng ở Nashville. Năm đó họ được bình chọn là "Ban nhạc mới xuất sắc nhất", và Williams đứng thứ 2 trong hạng mục "Nữ nghệ sỹ quyến rũ nhất" bởi độc giả của tạp chí Kerrang! của Anh.

Năm 2007, Paramore được tạp chí NME của Anh nêu tên như là 1 trong 10 ban nhạc được chú ý trong "New noise 2007". Vào tháng 1, ban nhạc đã chơi acoustic cho lễ mở màn của Warped Tour tại Rock and Roll Hall of Fame, và bộ váy Williams mặc trong video "Emergency" cũng được mặc vào dịp này. Paramore cũng được giới thiệu trên tạp chí Kerrang! một lần nữa, tuy vậy, Williams tin rằng bài viết là một miêu tả không đúng về ban nhạc. đặc biệt vì nó tập trung vào cô như là nhân tố chính. Sau đó, Williams đã viết một bài phản hồi trên trang LiveJournal của nhóm, với một đoạn nói rằng, "chúng tôi có thể làm được mà không cần một trang bìa. Xin lỗi, nếu tôi có xúc phạm đến bất cứ ai ở Kerrang! nhưng tôi không nghĩ rằng có một chút sự thật nào trong bài viết này." Trong tháng 4, Williams đã hát chung với The Chariot trong ca khúc "Then Came To Kill". Họ có một tour quảng bá vào đầu năm 2007 với This Providence, The Almost và Love Arcade.

2007-2008: Riot! và các dự án khác[sửa | sửa mã nguồn]

Album thứ 2 Riot! được bắt đầu thu âm vào tháng 1 năm 2007 và được phát hành ngày 21 tháng 6 năm 2007. Album đã bán được 44000 bản ở tuần đầu tiên và xếp vị trí 20 trên Billboard 200, xếp thứ 24 tại UK.

Năm 2008 ca khúc mới của Paramore, "Decode", là single chính của bộ phim chuyển thể Chạng vạng. Một ca khúc khác có tên "I Caught Myselt" cũng có trong nhạc phim. Ban nhạc bắt đầu phát hành video vào 13 tháng 10 và Hayley Williams post bộ ảnh cua video lên trang web của ban nhạc. "Decode" được phát hành vào 1-10-2008 trên trang web Fanclub của Paramore cũng như trang web của Stephenie Meyer. Video đã đứng đầu vào 3-11. Hot Topic đã lưu trữ nhạc phim trên máy chủ vào 24-10-2008, và album được phát hành vào 4-11-2008. Border đã phát hành một phiên bản nhạc phim độc quyền, trong đó giới thiệu một phiên bản acoustic của "Decode".

Ban nhạc đã phát hành một live album có tên The Final Riot! vào 25-11-2008. Album bao gồm một bonus DVD ghi hình đầy đủ một buổi biểu diễn tại Chicago, IL cũng như một bộ phim tài liệu độc quyền về những hình ảnh hậu trường-40 days of RIOT!.

2009- 2010 :Brand New Eyes và đi tour[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 29/9/2009,Paramore phát hành album studio thứ 3 mang tên "Brand new eyes",với nhà sản xuất Rob Cavalo, người đã từng sản xuất cho nhiều album của Green Day và album đình đám "The Black Parade" của My Chemical Romance.Ngày 13/8/2009,single đầu tiên nằm trong album Brand new eyes "Ignorance" được ra mắt và công chiếu trên các kênh của MTV.Video clip của single thứ 2 "Brick By Boring Brick" được chiếu lần đầu trên website chính thức của band vào ngày 23/11/2009. Video clip được quay ở Los Angeles vào ngày 8/10/2009, đạo diễn bởi Meiert Avis. Đây cũng là album cuối cùng nhóm thu âm cùng 2 thành viên Josh và Zac Farro.

Josh and Zac Farro's rời nhóm[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm 2010 sau 1 loạt tranh cãi lùm xùm kéo dài 2 thành viên là Josh và Zac đã rời khỏi nhóm. Nguyên nhân được cho là có những bất đồng giữa các thành viên. Paramore hiện tại chỉ còn 3 thành viên là Hayley, Taylor và Jeremy hoạt động. Nhóm cũng đã chiêu mộ 2 thành viên tạm thời là Justin York và Josh Freese cho Tuor lưu diễn Nam Mỹ. Josh và Zac Farror cũng thành lập ban nhạc mới của riêng họ Novel American.

2011-nay : Paramore với 3 thành viên và album thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 3 năm 2011 Paramore viết trên 1 số mạng xã hội rằng họ đang bắt đầu cộng tác với nhà sản xuất Rob Cavallo để thu âm album tiếp theo của nhóm.[7][8]

Ngày 3 tháng 6 năm 2011, Paramore phát hành đĩa đơn Monster, nằm trong album Transformers: Dark of the Moon soundtrack, trên YouTube. Đây là ca khúc đầu tiên của paramore sau khi 2 anh em nhà Farro rời band.[9]

Ngày 9 tháng 6 năm 2011, Hayley Williams thông báo rằng ban nhạc đang bắt đầu viết các ca khúc cho album thứ tư, và họ hi vọng sẽ bắt đầu ghi âm vào cuối năm để tới đầu năm 2012 album sẽ được phát hành.[10]

Ngày 11 tháng 10 năm 2011, Paramore thông báo sẽ ra mắt mỗi tháng một đĩa đơn mới cho đến hết năm 2011. Nhóm cho lập trang "Singles Club" trên trang chủ chính thức để fan có thể mua ngay khi đĩa đơn ra mắt vì chúng không được bày bán trên iTunes hay các chỗ khác. 3 bài hát lần lượt là "Renegade" (tháng 10), "Hello Cold World" (tháng 11) và "In the Mourning" (tháng 12).[11]

Ngày 18 tháng 4 năm 2012, Williams thông báo trên trang chủ rằng nhà sản xuất cho album mới của họ sẽ là Justin Meldal-Johnsen.[12] Ngày 2 tháng 7 năm 2012, trên Twitter, nhóm thông báo rằng Ilan Rubin, tay trống từng làm việc cho nhóm Lostprophets, hiện đang làm cho Angels & AirwavesNine Inch Nails sẽ chơi trống cho album thứ tư của nhóm.[13]

Ngày 6 tháng 12 năm 2012, Paramore thông báo album thứ tư mang tên nhóm sẽ ra mắt vào ngày 9 tháng 4 năm 2013. Đĩa đơn đầu tiên từ album, Now, sẽ được ra mắt trên mạng vào ngày 22 tháng 1 năm 2013.[14]

Các thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc cụ Năm
2002–2004 2004–2005 2005 2005 2005–2007 2007–2010 2010– nay
Hát chính, keyboard, piano Hayley Williams
Ghita chính, hát đệm Josh Farro
Bass, hát đệm Jeremy Davis John Hembree Jeremy Davis
Trống Zac Farro
Ghita rhythm   Jason Bynum Hunter Lamb Taylor York
Thành Viên hiện tại
Thành viên đi Tour (Tạm thời)
  • Justin York – rhythm and lead guitar, backing vocals (2010-nay)[17]
  • Josh Freese – drums (2010-nay)[18]
  • Jon Howard – rhythm guitar, keyboards, backing vocals (2010-nay)
Thành viên cũ
  • John Hembree – bass guitar (2005)
  • Jason Bynum – rhythm guitar/backing vocals (2004–2005)
  • Hunter Lamb – rhythm guitar (2005–2007)
  • Josh Farro – lead guitar, backing vocals[16] (2004–2010)
  • Zac Farro – drums, percussion[16] (2004–2010)

Các album[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album live[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa đơn, vị trí tại các bảng xếp hạng và chứng nhận
Tên Năm Vị trí các nước Chứng nhận Album
US
[19]
US
Alt.

[19]
AUS
AUT
CAN
[20]
FIN
[21]
GER
[22]
NZ
[23]
IRL
UK
[24]
"Pressure" 2005 All We Know Is Falling
"Emergency" 2006
"All We Know"
"Misery Business" 2007 26 3 65 67 79 17
  • US: Platinum
Riot!
"Hallelujah"[25] 139[26]
"Crushcrushcrush" 54 4 4 32 61
  • US: Gold
"That's What You Get" 2008 66 36 92 35 55
  • US: Gold
"Decode" 33 5 12 59 48 9 47 15 52
  • US: Platinum
  • AUS: Platinum[27]
  • NZ: Gold[28]
Twilight OST
"Ignorance" 2009 67 7 35 17 96 42 32 49 14 Brand New Eyes
"Brick by Boring Brick" 9 85 29 85
"The Only Exception" 2010 24 17 25 29 13 28 31
"Careful" 78 37 89 124
"Playing God" 103
"—" không được thống kê hoặc không được phát hành.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng mục Giải thưởng Đề cử Kết quả
Grammy Awards Best New Artist Paramore Nominated
2008 MTV Video Music Awards Best Rock Video "Crushcrushcrush" Nominated
MTV Video Music Brasil International Artist Paramore Won
MTV European Music Awards Rock Out Paramore Third
Los Premios MTV Latinoamérica Best New Artist — International Paramore Nominated
Los Premios MTV Latinoamérica Best Rock Artist — International Paramore Nominated
Los Premios MTV Latinoamérica Premio Fashionista 2008 Hayley Williams Nominated
Woodie Awards Woodie of the Year Paramore Won
American Music Awards T-Mobile Breakthrough Artist Paramore Nominated
Fuse.tv Best Video of 2008 "That's What You Get" Second
Teen Choice Awards 2008 Breakout Group Paramore Nominated
Teen Choice Awards 2008 Rock Track Crushcrushcrush Won
Teen Choice Awards 2008 Rock Group Paramore Won
The Kerrang 2008 Readers Poll Sexiest Female Hayley Williams Won
Shockwaves NME Awards 2009 Sexiest Female Hayley Williams Won
MTV Australia Awards 2009 Best Rock Video "Decode" Nominated
MTV Movie Awards 2009 Best Song from a Movie "Decode" Nominated
Teen Choice Awards 2009 Rock Group Paramore Won
Teen Choice Awards 2009 Rock Track "Decode" Won
Scream Award 2009 Scream Song of the Year "Decode" Nominated
MTV Video Music Awards 2009 Best Rock Video "Decode" Nominated
Spike TV's Scream Award 2009 Scream song of the year "Decode" Nominated
MTV Europe Music Awards 2009 Best Alternative Paramore Nominated
Fuse TV Best video of 2009 "Ignorance" Nominated
52nd Grammy Awards Best Song Written For Motion Picture, Television Or Other Visual Media "Decode" Nominated

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Elan, Priya. “Paramore: RIOT!”. NME. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2007. 
  2. ^ “Familiar With Emo, Intimate With Upbeat”. New York Times. 30 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2008. 
  3. ^ Eliscu, Jenny (6 tháng 3 năm 2008). “Q&A: Paramore's Hayley Williams”. Rolling Stone. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2008. 
  4. ^ “Biography”. All Music. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2009. 
  5. ^ “Reviews”. Rhapsody.com. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007. 
  6. ^ “Paramore Bio”. MTV.com. 
  7. ^ http://twitter.com/#!/yelyahwilliams/status/49935092436582400
  8. ^ Paramore In Studio For New Album | News at Ultimate-Guitare.Com
  9. ^ “'Monster' World Premiere! - Blog Detail”. Paramore.net. 3 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2011. 
  10. ^ “Paramore to release new album in early 2012 | News”. Nme.Com. 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2011. 
  11. ^ “Paramore To Release Three New Singles | News”. Ultimate-guitar.com. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2011. 
  12. ^ “Finally, an update from Paramore”. Paramore. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  13. ^ “Paramore Recruit Ex-NIN Drummer | News @”. Ultimate-guitar.com. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2012. 
  14. ^ “4th Album Announcement - Paramore Official Blog”. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2012. 
  15. ^ Caldwell, Patrick (26 tháng 5 năm 2010). “Music Picks: Adrian Conner of Adrian and the Sickness”. Austin American-Statesman. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2010. 
  16. ^ a ă â b Iwasaki, Scott (6 tháng 5 năm 2010). “Paramore is ready for first 'official' tour”. Deseret News. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2010. 
  17. ^ “Nashville Dress Rehearsal Party – Blog Detail”. Paramore.net. 19 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2010. 
  18. ^ Common, Tyler. “Paramore announce guitarist and drummer replacements for upcoming tour”. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ a ă “Artist Chart History (Singles) – Paramore”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2008. 
  20. ^ Peak chart positions for singles in Canada:
  21. ^ “Finnish Album/Singles Chart”. finnishcharts.com. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2008. 
  22. ^ “German Charts: Paramore” (bằng tiếng Đức). Media Control GfK International. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2010. 
  23. ^ “New Zealand Album/Singles Chart”. charts.org.nz. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2008. 
  24. ^ Peak chart positions for singles in the United Kingdom:
    • All except "The Only Exception", "Brick By Boring Brick", "Careful" and "Playing God": “Paramore”. The Official Charts Company. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
    • "The Only Exception": “Archive Chart: 24th April 2010”. The Official Charts Company. 10 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2010. 
    • "Brick By Boring Brick": “The Official UK Singles Chart for the week ending 2009-12-19”. ChartsPlus (Milton Keynes: IQ Ware Ltd) (434): 2. 
    • "Careful": “The Official UK Singles Chart for the week ending 2009-10-10”. ChartsPlus (Milton Keynes: IQ Ware Ltd) (424): 4. 
    • "Playing God": “The Official UK Singles Chart for the week ending 2010-12-04”. ChartsPlus (Milton Keynes: IQ Ware Ltd) (484): 4. 
  25. ^ “Paramore - Hallelujah”. ILikeMusic. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2011.  Đã bỏ qua văn bản “ rock ” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “ ilikemusic.com” (trợ giúp)
  26. ^ “The Official UK Singles Chart for the week ending 2007-09-15”. ChartsPlus (Milton Keynes: IQ Ware Ltd) (316): 3. 
  27. ^ a ă “ARIA Charts - Accreditations - 2010 Singles”. Australian Recording Industry Association. 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  28. ^ a ă “Latest Gold & Platinum Singles > New Zealand”. Recording Industry Association of New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.