Gangwon FC

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Gangwon FC
강원 FC
200px
Tên đầy đủGangwon Football Club
강원도민프로축구단
Thành lập, 2008; 11 năm trước
Sân vận độngAlpensia Ski Jumping Stadium
Sức chứa sân11,000
Chủ sở hữuGangwon Province Government
Chủ tịch điều hànhGovernor of Gangwon Province
Người quản lýChoi Yun-kyum
Giải đấuK League 1
20188th
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo sân khách
Mùa giải hiện nay

Gangwon FC (Hàn Quốc:강원 FC, Hanja: 江原 FC) là một câu lạc bộ bóng đá của Hàn Quốc. Có trụ sở tại tỉnh Gangwon, Gangwon FC được thành lập vào năm 2008 và chính thức tham dự K League vào năm 2009. Nhà tài trợ chính của câu lạc bộ là Kangwon Land, một công ty nhà nước sở hữu những sòng bạc và khu nghỉ dưỡng có trụ sở tại tỉnh Gangwon.

Lịch sử [sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Thống đốc của tỉnh Gangwon Kim Jin-Sun công bố một lịch trình cho nền tảng phát triển bóng đá chuyên nghiệp của câu lạc bộ vào ngày 28 tháng 4 năm 2008.  Theo đó, một Ủy ban phát triển bóng đá đã được lập ra vào ngày 18 tháng 6 năm 2008 giúp xây dựng và hiện thực những điều đó.  Ngày 17 tháng 11 năm 2008, 14 cầu thủ của Gangwon FC ra mắt. Ngày 20 tháng 11 năm 2008, Gangwon FC đã xây dựng đội hình chính thức đầu tiên của mình, với tổng cộng 23 cầu thủ, trong đó có 9 cầu thủ từ K-League

Mùa giải 2009[sửa | sửa mã nguồn]

Gangwon chơi trận K-League đầu tiên của mình khi thi đấu với Jeju United vào ngày 8 tháng 3 năm 2009, tại Sân vận động Gangneung. Tại trấn đấu đầu tiên, câu lạc bộ đã giành chiến thắng 1-0 với bàn thắng quyết định của Yoon Jun-Ha. Với trận thắng này, họ trở thành đội đầu tiên giành chiến thắng trận mở màn tại K-League với tư cách là đội mới tham dự. Gangwon FC tiếp tục thi đấu ấn tượng khi họ giành liên tiếp bốn chiến thắng nữa, tạo ra một hiện tượng tại mùa giải K League 2009. Tuy nhiên, thật đáng tiếc khi Gangwon đã không thể duy trì sự thành công ban đầu đó, và sau vòng 19 thì đội bóng đã rơi xuống nửa dưới của bảng xếp hạng. Kết thúc mùa giải đầu tiên, Gangwon FC chỉ giành vị trí thứ 13 trên tổng số 15 đội tham dự K-League 2009. Kim Young-Hoo là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho các câu lạc bộ với 13 bàn thắng (vị trí thứ 3 tại giải). Gangwon FC đã được trao giải thưởng "đội bóng Fair Play" cho mùa giải 2009.

Còn tại FA Cup Hàn Quốc 2009, Gangwon chỉ lọt được vào đến vòng 32 đội, sau khi họ đánh bại Incheon Koreail FC trong loạt đá luân lưu sau hai lượt trận hòa. Sau đó, họ phải đối mặt với Chunnam Dragons và đã chịu thất bại với tỉ số 0-1. Tại League Cup 2009, kết quả thi đấu của đội bóng cũng không khả quan hơn khi họ nằm bét bảng với chỉ một chiến thắng duy nhất (trận thắng trước Daejeon).

Thời kỳ khó khăn và Giai đoạn xuống hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Gangwon FC đã có một mùa giải khó khăn trong năm 2010, mặc dù tiền đạo mũi nhọn Kim Young-Hoo ghi được 13 bàn thắng tại K League nhưng câu lạc bộ chỉ kết thúc mùa giải tại vị trí 12 trong số 15 câu lạc bộ. Mùa giải 2011 là mùa tồi tệ nhất nhất kể từ khi thành lập. Gangwon đứng chót bảng và toàn bộ đội chỉ ghi được 14 bàn thắng trong tổng số 30 trận tại giải.

Trong mùa giải 2012, K-League áp đặt một điều lệ trụ hạng mới. Theo đó, theo đó, hai đội đứng cuối bảng sẽ phải thi đấu tại giải hạng hai. Ở vòng 43, Gangwon có được bàn thắng bàn thắng duy nhất của  Baek Jong-Hwan giúp đội bóng giành chiến thắng với tỉ số tối thiểu trước Seongnam Ilhwa Chunma và tránh khỏi vị trí xuống hạng.[1]

Trong mùa giải năm 2013 là mùa giải K League đổi thành K League Classic, và giải hạng 2 được biết đến với tên gọi K League Challenge. Đây cũng là mùa giải đầu tiên K-League áp đặt điều lệ trụ hạng mới. Theo đó hai đội đứng cuối bảng sẽ phải chơi ở giải hạng 2, còn đội đứng thứ 3 từ dưới lên sẽ phải đá trận play-offs với đội vô địch của K League Challenge để giành suất lên chơi ở giải K League Classic. Mùa giải 2013, Gangwon kết thúc ở vị trí thứ ba từ dưới lên, và họ phải chơi trận play-offs với Sangju Sangmu Phoenix. Sau trận thua, Gangwon đã bị xuống hạng và phải chơi ở K-League Challenge 2014.[2]

Mùa giải 2016-2017

Gangwon đạt thỏa thuận chiêu mộ Xuân Trường từ Incheon United FC với thời hạn 1 năm

Mùa giải này sau chuỗi trận thua đáng xấu hổ HLV Choi Yun-kyum đã từ chức và thay vào đó CLB đã bổ nhiệm Park Hyo-jin vào vị trí này

Danh sách cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 29 tháng 1 năm 2017

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Hàn Quốc TM Song Yoo-geol
4 Hàn Quốc TV Oh Seung-bum
5 Cộng hòa Síp HV Valentinos Sielis
6 Hàn Quốc HV Ahn Hyun-sik
7 Hàn Quốc TV Moon Chang-jin
8 Hàn Quốc TV Hwang Jin-sung
9 Hàn Quốc Jung Jo-gook
10 Brasil Diego Maurício
11 Hàn Quốc TV Lee Keun-ho
12 Hàn Quốc Lim Chan-wool
13 Hàn Quốc TV Kim Min-joon
14 Hàn Quốc HV Oh Beom-seok
15 Hàn Quốc HV Park Chun-ho
16 Hàn Quốc TV Ahn Soo-min
17 Hàn Quốc TV Kim Kyung-jung
18 Hàn Quốc TV Kim Seung-yong
19 Hàn Quốc HV Lee Yong
20 Hàn Quốc HV Kang Ji-yong
22 Hàn Quốc HV Jung Seung-yong
23 Hàn Quốc TM Lee Bum-young
26 Hàn Quốc TV Park Yo-han
28 Việt Nam TV Cầm Văn Cường (cho mượn từ PVF)
40 Hàn Quốc An Joong-keun
55 Hàn Quốc TV Yoo Cheong-in
77 Hàn Quốc TV Baek Jong-Hwan
81 Hàn Quốc HV Park Sun-ju
35 Brasil TV Serginho

Cho mượn [sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Flags cho đội tuyển quốc gia được xác định theo quy định đủ điều kiện FIFA. Người chơi có thể nắm giữ hơn một không có quốc tịch FIFA. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
15 Hàn Quốc Shin Young-jun (to Sangju Sangmu for military service)
Số áo Vị trí Cầu thủ
Hàn Quốc HV Kim Oh-gyu (to Sangju Sangmu for military service)
Hàn Quốc Choi Jin-ho (to Sangju Sangmu for military service)

Đội trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa Đội trưởng
2009 Lee Eul-yong
2010-11 Chung Kyung-ho
2011 Seo Dong-hyeon
2011 Lee Eul-yong
2012 Kim Eun-jung
2013 Jeon Jae-ho
2014 Kim Oh-gyu
2015 Hwang Kyo-chung
2016- Baek Jong-hwan

Youth Club[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 13 tháng 9 năm 2010, Gangwon FC U-12 đội đã được tạo ra ở Gangneung.

Ngày 02 Tháng 11 năm 2011, Gangwon FC đã thực hiện một thỏa thuận với Gangneung High School Jeil (dưới 18 đội) và Trường trung học Jumunjin (dưới 15 đội).

Huấn luyện và y tế Nhân viên [sửa | sửa mã nguồn]

huấn luyện viên

  • Manager: Choi Yun-kyum
  • Trợ lý giám đốc: Park Hyo-jin
  • HLV thủ môn: Jung Kil-yong
  • 1 đội ngũ huấn luyện viên: Ahn Seung-in

Văn phòng điều hành

  • Chủ tịch tỉnh Gangwon đốc
  • chủ tịch
    • Kim Won-dong  (11 tháng 11 năm 2008 - 22 tháng 7 năm 2011)
    • Nam Jong-hyun  (ngày 22 tháng 8 năm 2011 - 19 tháng 9 năm 2012)
    • Kim Deok-rae (người chăm sóc)  (14 Tháng Mười Hai 2012 - 28 Tháng 5 2013)
    • Lim Eun-ju  (29 tháng 5 năm 2013 - nay)

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Từ Đến Mùa Ghi chú
1
Choi Soon-ho 2008/11/16 2011/04/06 2009-2011 quản lý đầu tiên
2
Kim Sang-ho 2011/04/07 2012/07/01 2011-2012
3
Kim Hak-bum 2012/07/09 2013/08/11 2012-2013
4
Kim Yong-kab 2013/08/14 2013/12/10 2013
5
Arthur Bernardes 2013/12/23 2014/09/18 2014 quản lý nước ngoài đầu tiên
C
Park Hyo-jin 2014/09/18 2014/12/24 2014 chăm sóc quản lý đầu tiên
6
Choi Yun-kyum 2014/12/25 2015-hiện tại

Cổ động viên [sửa | sửa mã nguồn]

Ngay cả với một lịch sử ngắn, Gangwon FC có một lượng fan mạnh mẽ có biệt danh là Narcia.

Thống kê [sửa | sửa mã nguồn]

Mùa phân công Đội liên đoàn KFA Cup League Cup ChampionsGiải đấu Vua phá lưới Giám đốc
P W D L GF GA GD Đ Chức vụ
2009 1 15 28 7 7 14 42 57 -15 28 13 Vòng 16 Vòng nhóm - Kim Young-Hoo (13) Choi Soon-Ho
2010 1 15 28 số 8 6 14 36 50 -14 30 12 Vòng 32 Vòng nhóm - Kim Young-Hoo (14) Choi Soon-Ho
2011 1 16 30 3 6 21 14 45 -31 15 16 Tứ kết Vòng nhóm - Kim Young-Hoo (6) Choi Soon-Ho (cho đến ngày 6 tháng 4)Kim Sang-ho (kể từ tháng 7)
2012 1 16 44 14 7 23 57 68 -11 49 14 Vòng 16 N / A - Kim Eun-Jung (16) Kim Sang-ho (cho đến ngày 01 tháng 7)Kim Hak-Beom (từ tháng 9)
2013 1 14 38 số 8 12 18 37 64 -27 36 12 Vòng 16 N / A - Ianis Zicu(8) Kim Hak-Beom (đến tháng 11) Kim Yong-Kab (kể từ ngày 14 tháng 8)
playoff 2 2 1 0 1 2 4 -2 3 xuống hạng
2014 2 10 36 16 6 14 48 50 -2 54 thứ 3 Tứ kết N / A - Choi Jin-ho (14) Arthur Bernardes (cho đến tháng 18)Park Hyo-jin (từ tháng 19)
playoff 4 1 0 0 1 0 1 -1 0 lần thứ 4
2015 2 11 40 13 12 15 64 56 số 8 51 thứ 7 Vòng 32 N / A - Jonatas Belusso (15) Choi Yun-kyum
2016 2 N / A -

Nhà cung cấp áo đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “강원FC 1부리그 잔류 확정”. Gangwon Ilbo (bằng tiếng Triều Tiên) (Naver). Ngày 29 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  2. ^ 강제강등에서 첫 승격까지, 역사가 된 상주상무 (bằng tiếng Triều Tiên). MK Sports. Ngày 7 tháng 12 năm 2013. 

Liên kết ngoài [sửa | sửa mã nguồn]