Guy Fawkes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Guy Fawkes
Guy Fawkes (cropped).jpg
Fawkes theo một bản khắc đương thời của Crispijn van de Passe
Nghề nghiệpBinh sĩ
Cáo buộc hình sựÂm mưu ám sát Vua James I của Anh (James VI của Scotland) và các thành viên của tòa nhà Quốc hội Anh
Mức phạt hình sựTreo cổ, kéo và cắt thành tư
Cha mẹEdward Fawkes, Edith Blake

Guy Fawkes (/fɔːks/; ngày 13 tháng 4 năm 1570 đến 31 tháng 1 năm 1606),[a] cũng được biết đến với cái tên Guido Fawkes khi đang chiến đấu cùng với người Tây Ban Nha, là một thành viên của Công giáo Anh địa phương và là người đã lên kế hoạch Âm mưu thuốc súng thất bại của năm 1605. Ông ấy sinh ra và được giáo dục tại York; ba ông ấy đã chết khi Fawkes mới tám tuổi, sau đó mẹ ông kết hôn với một người Công giáo chống lại Anh giáo.

Fawkes đã chuyển thành đạo Công giáo và đi đến Châu Âu đại lục, nơi mà ông chiến đấu cho Công giáo Tây Ban Nha trong cuộc Chiến tranh Tám Mươi Năm chống lại nhóm cải cách Tin lành Hà Lan trong miền đất Hạ. Ông ấy đi Tây Ban Nha để tìm kiếm sự hỗ trợ cho cuộc phản động ủng hộ Công giáo ở Anh nhưng không thành công. Sau này ông ấy gặp Thomas Wintour và cùng họ trở về lại nước Anh. Ông Wintour đã giới thiệu Fawkes cho Robert Catesby, người đã lên kế hoạch ám sát Vua James I để khôi phục quốc vương theo Công giáo. Các kẻ lập mưu đã thuê một hầm dưới Thượng Nghị viện Vương quốc liên Hiệp Anh và Bắc Ireland; nơi mà Fawkes được giao để bảo vệ thuốc súng. Chính quyền được tiết lộ bởi một lá thư nặc danh để lục soát Cung điện Westminster vào rạng sáng ngày 5 tháng 11, và họ phát hiện Fawkes đang bảo vệ chất nổ. Ông ấy đã bị thẩm vấn và tra tấn trong vài ngày tới. Sau đó, ông ấy thú nhận là muốn làm nổ tung Thượng Nghị viện.

Ngay trước khi ông bị hành hình vào ngày 31 tháng 1, Fawkes nhảy từ giàn giáo nơi ông ấy bị treo cổ và gãy cổ, như vậy sẽ tránh được sự đau đớn khi bị treo cổ, kéo và cắt thành bốn mảnh. Fawkes trở thành biểu tượng của âm mưu thuốc súng, sự thất bại của âm mưu này được tưởng niệm ở Anh trong đêm Guy Fawkes kể từ ngày 5 tháng 11 năm 1605, với truyền thống khi hình nộm của Fawkes bị hỏa thiêu và thường đi kèm với pháo hoa.

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Photo
Fawkes đã rửa tội tại nhà thờ của St Michael le Belfrey, York ngay bên York Minster (ở bên trái).

Guy Fawkes được sinh ra vào năm 1570 ở Stonegate, York. Ông là người con thứ hai trong bốn người con của Edward Fawkes, là giám thị và luật sư của tòa án tôn giáo tại York,[b] và vợ ông ấy, Edith.[c] Cha mẹ của Guy Fawkes là tín đồ của giáo hội Anh, cũng như ông bà nội của ông ấy; bà nội ông, Ellen Harrington, là con gái của một thương gia buôn nổi tiếng và Tổng thị trưởng của York vào năm 1536.[4] Gia đình mẹ của Fawkes là tín đồ Công giáo bất phục Anh giáo, và anh em họ của ông ấy, Richard Cowling, đã trở thành cha thuộc Dòng Tên.[5] Guy là một cái tên ít phổ biến ở nước Anh, nhưng nó có thể được phổ biến ở York bởi vì một người địa phương nổi tiếng, Ngài Guy Fairfax của Steeton.[6]

Không ai biết ngày tháng năm sinh của Fawkes, nhưng ông được rửa tội trong nhà thờ của St Michael le Belfrey, York vào ngày 16 tháng 4. Theo tục lệ ngày sinh và ngày rửa tội cách nhau ba ngày cho nên có lẽ ông được sinh vào ngày 13 tháng 4.[5] Vào năm 1568, Edith sinh ra một cô con gái tên là Anne, nhưng đứa trẻ ấy đã chết sau bảy tuần, vào tháng 11 cùng năm. Cô ấy đã sinh ra hai đứa nữa sau Guy: Anne (1572) và Elizabeth (1575). Cả hai đều kết hôn vào năm 1599 và năm 1594.[6][7]

Năm 1579, khi Guy được tám tuổi, ba của ông ấy chết. Mẹ ông tái hôn lại vài năm sau với người Công giáo Dionis Baynbrigge (hoặc Denis Bainbridge) của Scotton, Harrogate. Fawkes có thể đã trở thành một người Công giáo thông qua xu hướng tín đồ Công giáo bất phục Anh giáo của gia đình Baynbrigge và các hội nhánh Công giáo của các gia đình Pulleyn và Percy ở Scotton.[8] Fawkes cũng bị ảnh hưởng tôn giáo trong thời gian khi học tại trường của Thánh Peter, York trong York. Một quản lý của trường học bị vô tù 20 năm vì tội bất phục Anh giáo, và hiệu trưởng của trường, John Pulleyn, xuất thân từ một gia đình bất phục Anh giáo có tiếng ở Yorkshire, gia tộc Pulleyns của Blubberhouses. Trong tác phẩm The Pulleynes of Yorkshire xuất bản vào năm 1915, tác giả Catharine Pullein nói rằng tín ngưỡng Công giáo của Fawkes đến từ những người họ hàng Harrington của ông, những người được biết đến với việc chứa chấp các linh mục, một linh mục sau này đã đi cùng Fawkes đến Flanders vào năm 1592-1593.[9] Những người bạn học cũ của Fawkes bao gồm John Wright và anh trai ông Christopher Wright (cả hai người cùng Fawkes lập âm mưu thuốc súng) và Oswald Tesimond, Edward Oldcorne, và Robert Middleton, họ trở thành linh mục.[10]

Sau khi rời khỏi trường Fawkes làm lính cho Tử tước Anthony Browne, 1st Viscount Montagu.[d] Tử tước không có thiện cảm với Fawkes và sau một thời gian ngắn đuổi việc ông ta; sau đó Fawkes được thuê làm việc cho Anthony-Maria Browne, Tử tước Montagu, người kế vị chức Tử tước của ông nội mình ở tuổi 18.[11] Ít nhất một nguồn tin cho rằng Fawkes đã kết hôn và có một đứa con trai, nhưng không có tài liệu đương đại nào xác nhận điều này.[12][e]

Sự nghiệp quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1591 Fawkes bán tài sản của mình ở Clifton tại York nơi mà ông được kế thừa bởi cha mình.[f]. Ông ấy đến lục địa Châu Âu để chiến đấu trong Chiến tranh Tám Mươi Năm cùng với đạo Công giáo Tây Ban Nha chống lại Cộng hòa Hà Lan mới thành lập và Pháp từ năm 1595 cho đến khi Hiệp ước Hòa Bình của Vervins được ký kết năm 1598. Mặc dù nước Anh không tham gia vào các chiến dịch chống lại Tây Ban Nha trên đất liền, hai đất nước vẫn trong tình trạng xung độtHạm đội Tây Ban Nha của năm 1588 xảy ra năm năm trước. Ông gia nhập Sir William Stanley, một người nước Anh theo đạo Công giáo và chỉ huy kỳ cựu ở tuổi 55, người đã huấn luyện một đội quân ở Ireland để chiến đấu trong cuộc viễn chinh của Leicester đến Hà Lan. Stanley được đề cao bởi Elizabeth I của Anh, nhưng sau khi ông đầu hàng Tây Ban Nha trong Deventer vào năm 1587, ông và hầu hết quân đội của mình đã chuyển sang phục vụ Tây Ban Nha. Fawkes trở thành một alférez hoặc sĩ quan cấp dưới, đã chiến đấu anh dũng tại trận chiến Bao vây Calais vào năm 1596, và vào năm 1603 được thăng chức thành Đại úy.[3] Năm đó, ông đi Tây Ban Nha để tìm kiếm sự hỗ trợ cho một cuộc nổi loạn Công giáo ở Anh. Ông đã sử dụng cơ hội này để đổi tên mình thành phiên bản Ý, Guido, và trong nhật ký ông đã mô tả Jame I (người trở thành vua của nước Anh năm đó) là "một kẻ dị giáo", người có ý định "trục xuất Công giáo ra khỏi nước Anh." Ông ấy lên án Scotland và những người thân cận của nhà vua trong số các quý tộc Scotland, viết "sẽ không thể hòa giải hai quốc gia này trong thời gian dài."[13] Mặc dù ông nhận được sự kính trọng, tòa án Felipe III của Tây Ban Nha không bằng lòng cung cấp cho ông bất kỳ sự hỗ trợ nào.

Âm mưu thuốc súng[sửa | sửa mã nguồn]

Một bức điêu khắc đương thời của tám người trong mười ba người tham gia âm mưu thuốc súng, bởi Crispijn van de Passe. Fawkes đứng thứ ba từ bên phải qua.

Năm 1604, Fawkes tham gia vào một nhóm nhỏ thuộc Công giáo Anh, do Robert Catesby chỉ huy, người đã ra kế hoạch ám sát Vua James theo Tin lành để thay thế ngôi vua bằng con gái của ông, đứng thứ ba trong thứ tự nối ngôi, Công chúa Elizabeth.[14][15] Fawkes được miêu tả bởi linh mục Dòng tên và người bạn cũ Oswald Tesimond là "dễ tiếp xúc và cư xử vui vẻ, không thích những cãi nhau và xung đột… người tình nghĩa với bạn ông". Tesimond cũng xác nhận Fawkes là "một người đàn ông có kỹ năng cao trong các vấn đề chiến tranh," và do sự pha trộn giữa lòng trung thành và sự chuyên nghiệp đã khiến những người trong âm mưu thuốc súng nể ông.[3] Tác giả Antonia Fraser miêu tả Fawkes là "một người đàn ông cao lớn, đầy sức mạnh, với mái tóc nâu đỏ dày, bộ râu mép theo truyền thống thời đó và bộ râu nâu đỏ rậm rạp," và cho rằng ông là "một người đàn ông của hành động… có khả năng lập luận thông minh cũng như sức chịu đựng về thể chất, phần nào gây bất ngờ cho kẻ thù của mình."[5]

Cuộc gặp mặt lần đầu của năm tên đồng phạm chính nhằm ngày chủ nhật ngày 20 tháng 5 năm 1604, tại một phòng trọ nhỏ có tên Duck và Drake ở quận thời trang Strand của Luân Đôn.[g] Catesby đã đề nghị một cuộc gặp mặt sớm hơn với Thomas Wintour và John Wright để bàn cách giết nhà Vua và chính phủ của ông ấy bằng cách cho nổ "Nghị viện với thuốc súng." Wintour, ban đầu phản đối kế hoạch này, được Catesby thuyết phục đi đến lục địa để tìm kiếm sự giúp đỡ. Wintour đã gặp cảnh sát trưởng của Castile, gián điệp người Wales bị lưu đày Hugh Owen,[17] và ngài William Stanley, người nói rằng Catesby sẽ không được nhận sự hỗ trợ nào từ Tây Ban Nha. Tuy nhiên, Owen đã giới thiệu Wintour cho Fawkes, người đã rời khỏi nước Anh trong nhiều năm và do đó hầu như không có tiếng tăm ở nước Anh. Wintour and Fawkes là những người đương thời; mỗi người đều đã đi lính và hiểu rõ rằng nước Tây Ban Nha sẽ không giúp họ. Wintour nói với Fawkes về kế hoạch của họ là "phải lên kế hoạch ở Anh nếu như Tây Ban Nha không chịu giúp chúng ta",[3] và do đó trong tháng 4 năm 1604 hai người họ đã trở lại nước Anh.[16] Tin tức từ Wintour không làm cho Catesby ngạc nhiên; mặc dù có những tín hiệu tốt từ chính quyền Tây Ban Nha, ông ấy vẫn sợ rằng "Tây Ban Nha vẫn sẽ không giúp họ."[h]

Một trong những đồng phạm, Thomas Percy, được thăng cấp vào tháng 6 năm 1604 và được phép vào nhà của John Whynniard ở London, là quản gia tủ quần áo của vua. Fawkes trở thành người làm và bắt đầu sử dụng biệt danh là John Johnson, người giúp việc cho Percy.[19] Tài liệu đương thời của công tố (lấy từ lời thú tội của Thomas Wintour)[20] cho rằng những đồng phạm đã cố đào một đường hầm từ dưới căn nhà Whynniard đến Nghị viện, mặc dù câu chuyện này có thể đã bị chính phủ dựng lên; công tố không đưa ra được bằng chứng về sự tồn tại của đường hầm đó và không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào về đường hầm đó; bản thân Fawkes cũng không thú nhận sự tồn tại của đường hầm cho đến khi bị tra khảo lần thứ năm, nhưng ngay cả khi đã thú nhận ông cũng không thể xác nhận được vị trí của đường hầm.[21] Nếu câu chuyện là đúng thì vào tháng 12 năm 1604 khi những tên đồng phạm đang bận rộn đào đường hầm từ ngôi nhà thuê của họ đến Thượng viện, họ đã dừng kế hoạch đó khi nghe thấy một tiếng ồn ở trên. Fawkes được gửi ra để điều tra và trở về báo là có người đàn bà góa phụ đang dọn dẹp ở hầm mộ gần đó, ngay bên dưới Thượng viện.[3][22]

Những kẻ âm mưu mua hợp đồng thuê phòng, thuộc quyền sở hữa của John Whynniard. Không được sử dụng và bẩn thỉu, nó được cho là một nơi lý tưởng để cất giữ thuốc súng.[23] Dựa vào Fawkes, 20 thùng thuốc súng được đưa vào trước tiên, sau đó chuyển thêm 16 thùng nữa vào ngày 20 tháng 7.[24] Tuy nhiên vào ngày 28 tháng 7, do có nguy cơ bùng phát bệnh dịch hạch nên đã hoãn mở Nghị viên đến thứ ba ngày 5 tháng 11.[25]

Hoạt động ở nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Để lấy sự giúp đỡ ngoại quốc, vào tháng 5 năm 1605 Fawkes đi nước ngoài và báo tin cho Hugh Owen về âm mưu thuốc súng.[26] Một lúc nào đó trong chuyến đi này tên của ông đã đi vào hồ sơ của Robert Cecil, Bá tước thứ nhất của Salisbury, người có mạng lưới gián điệp khắp Châu Âu. Một trong những gián điệp, Captain William Turner, có thể đã bỏ tên Fawkes vô hồ sơ. Mặc dù thông tin cung cấp cho Salisbury thường không có gì ngoài những kế hoạch xâm lược mơ hồ, và không bao gồm bất cứ điều gì liên quan tới âm mưu thuốc súng, ngày 21 tháng 6 ông ấy đã báo cáo Tesimond đưa Fawkes tới Anh bằng cách nào. Fawkes nổi tiếng là một người lính đánh thuê Flander và sẽ được giới thiệu cho "Mr Catesby" và "những người bạn quý tộc danh giá và những người có vũ khí và ngựa sẵn sàng".[27] Tuy nhiên, báo cáo của Turner không hề nhắc tới biệt danh của Fawkes ở Anh, John Johnson, và không đến được Cecil cho đến cuối tháng 11, sau khi âm mưu bị phát hiện.[3][28]

Không rõ khi nào Fawkes quay lại Anh, nhưng ông ấy đã trở về London vào cuối tháng 8 năm 1605, khi ông ấy và Wintour phát hiện thuốc súng trong hầm mộ bị phân hủy. Thuốc súng được mang thêm vào trong phòng, cùng với gỗ để che đậy nó.[29] Vài cuộc họp trong tháng 10 đã quyết định vai trò cuối cùng của Fawkes trong âm mưu. Ông ấy đã đốt mòi nổ và lúc đó trốn thoát qua sông Thames. Đồng thời, một cuộc nổi loạn ở Midlands sẽ giúp bảo đảm bắt giữ được Công chúa Elizabeth. Những hành động giết vua thường không được chấp thuận, và Fawkes sẽ đi đến lục địa, nơi ông sẽ giải thích cho các thế lực Công giáo nghĩa vụ thiêng liêng của mình là giết nhà vua và thân cận của ông ấy.[30]

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

In a stone-walled room, several armed men physically restrain another man, who is drawing his sword.
Âm mưu thuốc súng bị phát hiện (c. 1823), Henry Perronet Briggs

Một số tên đồng phạm lo ngại về những người Công giáo sẽ có mặt tại Nghị viện trong buổi khai mạc.[31] Buổi chiều ngày 26 tháng 10, Lord Monteagle nhận được bức thư vô danh cảnh báo ông tránh xa, và "ở nhà để cho an toàn… nghị viện sẽ bị nổ tung".[32] Mặc dù nhanh chóng nhận ra sự tồn tại của bức thư, được báo tin bởi một trong những người giúp việc của Monteagle, những tên đồng phạm vẫn quyết tâm tiếp tục với những kế hoạch của chúng vì cho rằng bức thư "rõ ràng là một trò đùa".[33] Fawkes kiểm tra hầm vào ngày 30 tháng 10 và báo cáo rằng không có chuyện gi hết.[34] Những nghi ngờ của Monteagle đã làm đứt dây động rừng, và bức thư được trình bày với Vua James. Nhà vua đã gọi Ngài Thomas Knyvet đi lục soát những cái hầm dưới Nghị viên, nơi mà ông đã lục soát vào đầu giờ ngày 5 tháng 11. Ca gác của Fawkes là tối hôm trước, Percy đưa một ngòi thuốc và một cái đồng hồ cho Fawkes "bởi vì ông cần theo dõi thời gian".[3] Ông ấy bị phát hiện rời khỏi hầm, ngay sau giữa đêm và bị bắt. Bên trong, các thùng thuốc súng được giấu bị phát hiện dưới những khúc củi và than đá.[35]

Tra tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Fawkes khai tên ông là John Johnson và trước tiên bị các thành viên phòng Privy của nhà vua thẩm vấn, nơi ông vẫn tỏ ra bất phục.[36] Khi lãnh chúa hỏi ông định làm gì khi sở hữu số lượng lớn thuốc súng, Fawkes đáp trả rằng ông dự tính "làm nổ tung bọn ăn xin Scotland trở về vùng núi quê hương của chúng mày."[37] Ông tự nhận mình là người Công giáo 36 tuổi đến từ Netherdale ở Yorkshire, và khai cha ông ấy là Thomas và mẹ ông ấy là Edith Jackson. Những vết thương trên cơ thể ông ấy được nhận thấy bởi những người thẩm vấn, ông giải thích đó là do di chứng của viêm màng phổi. Fawkes thừa nhận ý định của ông ấy là cho Thượng Nghị viện nổ tung và bày tỏ sự hối tiếc về việc ông không làm được như vậy. Cách ứng xử của ông khiến ông nhận được sự ngưỡng mộ của Vua James, người mô tả Fawkes là sở hữu "một sự nghị quyết của người La Mã".[38]

Tuy nhà vua ngưỡng mộ Fawkes, vào ngày 6 tháng 11 James ra lệnh cho "John Johnson" bị tra tấn để tiết lộ tên của những kẻ đồng mưu.[39] Nhà vua ra lệnh rằng ban đầu tra tấn nhẹ nhàng, đề cập sử dụng đến còng tay, nhưng có thể nặng hơn nếu cần thiết, cho phép sử dụng đến cái trăn: "Tra tấn ông ấy nhẹ nhàng trước tiên và từ từ tiến tới biện pháp nặng nhất".[36][40] Sau đó, Fawkes được chuyển đến Tháp Luân Đôn. Nhà vua đã soạn ra một danh sách các câu hỏi dành cho "Johnson", chẳng hạn như "ông ấy là ai, vì ta chưa bao giờ nghe thấy ai biết đến ông ấy", "Ông ấy học tiếng Pháp khi nào và ở đâu?", và "Nếu ông ấy theo đạo Công giáo, ai đã hướng dẫn ông theo đạo?"[41] Căn phòng nơi Fawkes bị thẩm vấn sau này biết đến là Phòng Guy Fawkes.[42]

Two signatures
Chữ ký "Guido" của Fawkes, được ký ngay sau khi ông ấy bị tra tấn, nhìn ngoằn ngèo được so sánh với chữ ký sau đó.

Sir William Waad, là Trung úy của tòa tháp, đã giám sát và lấy được lời thú tội của Fawkes sau khi tra tấn.[36] Ông ấy đã tìm kiếm trên người Fawkes và tìm thấy một bức thư được gửi tới Guy Fawkes. Waad thật bất ngờ khi "Johnson" vẫn im lặng, không tiết lộ về âm mưu hoặc người viết bức thư.[43] Vào đêm ngày 6 tháng 11 ông nói với Waad, người đã báo cáo cho Salisbury rằng "Ông [Johnson] nói với chúng tôi rằng từ khi ông thực hiện hành động đó, ông đã cầu nguyện mỗi ngày với Chúa rằng hành động của ông là để củng cố cho đức tin đạo Công giáo và cứu rỗi linh hồn của ông ấy ". Dựa theo Waad, Fawkes nghỉ ngơi được suốt đêm, mặc dù ông ấy bị cảnh báo rằng ông sẽ bị tra khảo cho đến khi "Ông tiết lộ bí mật bên trong cho Waad và tất cả kẻ đồng phạm của ông".[44] Fawkes mất đi sự điềm tĩnh của ông tại một lúc nào đó trong ngày hôm sau.[45]

Người quan sát Sir Edward Hoby báo "Từ khi Johnson ở trong tháp, ông ấy bắt đầu nói tiếng Anh". Fawkes đã tiết lộ danh tính thật trong ngày 7 tháng 11 và khai với người tra hỏi ông ấy rằng có năm người liên quan đến âm mưu giết nhà Vua. Ông bắt đầu tiết lộ tên của họ vào ngày 8 tháng 11 và nói họ có ý định đưa Công chúa Elizabeth lên ngôi vương như thế nào. Ngày 9 tháng 11, lời thú tội lần thứ ba của ông ấy đã tố cáo Francis Tresham. Sau vụ âm mưu Ridolfi năm 1571, những tù nhân bị ép để thú tội trước khi sao chép và ký tên, nếu họ vẫn còn có thể.[46] Mặc dù không chắc chắn rằng nếu ông bị tra tấn trên cái trăn, chữ ký ngoằn ngèo của Fawkes cho thấy sự đau đớn mà ông phải chịu đựng trong khi bị thẩm vấn.[47]

Phiên tòa và sự hành hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên tòa của tám người trong âm mưu bắt đầu vào thứ hai ngày 27 tháng 1 năm 1606. Fawkes đứng chung xà lan từ Tháp Luân Đôn đến Cung điện Westminster cùng với bảy tên đồng phạm.[i] Bọn họ bị giam giữ trong Tòa án Star trước khi bị đưa đến Cung điện Westminster, nơi bọn họ bị đưa ra giàn giáo. Vua và gia đình ruột của ông, theo dõi trong bí mật, là một trong số những người đến xem khi các Uỷ viên Thượng sĩ đọc các danh sách cáo buộc. Fawkes được xác định danh tính là Guido Fawkes, "còn được gọi là Guido Johnson". Ông không nhận tội mặc dù tội của ông đã được xác định ngay lúc mà ông bị bắt.[49]

Etching
Bản điêu khắc năm 1606 được khắc bởi Claes (Nicolaes) Jansz Visscher, miêu tả sự hành hình của Fawkes

Ban hội thẩm kết tội tất cả những bị cáo, và Thẩm phán tối cao Sir John Popham tuyên bố họ có tội phản quốc.[50] Tổng trưởng lý Sir Edward Coke tuyên bố với tòa án rằng mỗi bản án sẽ là bị ngựa kéo cho tới chết. Chúng sẽ bị "đưa đến cái chết giữa thiên đàng và trần gian vì chúng không xứng đáng với cả hai". Bộ phận vùng kín của chúng sẽ bị cắt và đốt trước mắt chúng, và ruột tim của chúng sẽ bị móc ra. Chúng sẽ bị chặt đầu, và các bộ phận bị đứt của chúng sẽ được trưng bày để trở thành "mồi cho những con chim trời".[51] Lời khai của Fawkes và Tresham liên quan đến tội phản quốc với sự giúp đỡ của người Tây Ban Nha được đọc to, cũng như những lời thú tội liên quan cụ thể đến Âm mưu thuốc súng. Phần cuối cùng của bằng chứng được đưa ra là một cuộc trò chuyện giữa Fawkes và Wintour, người được giữ trong phòng giam kế bên. Hai người đàn ông tưởng họ được nói chuyện riêng tư, nhưng cuộc trò chuyện của họ đã bị một điệp viên của chính phủ nghe trộm. Khi các tử tù được phép nói, Fawkes giải thích rằng ông ấy không nhận tội khi ông bỏ qua một số khía cạnh nhất định của bản cáo trạng.[52]

Ngày 31 tháng 1 năm 1606, Fawkes và ba người khác; – Thomas Wintour, Ambrose Rookwood, và Robert Keyes;– bị kéo (i.e., "drawn") từ Tháp Luân Đôn trên miếng ván đến Old Palace Yard tại Westminster, đối diện tòa nhà mà họ đã định cho nổ.[53] Sau đó, những kẻ đồng phạm của ông bị treo cổ và bị cắt thành bốn mảnh. Fawkes là người cuối cùng đứng trên giàn. Ông cầu xin sự tha thứ của nhà Vua và chính quyền khi vẫn giữ "cây thánh giá và nghi lễ Công giáo". Bị suy yếu bởi sự tra tấn và được kẻ tự hình dìu lên, Fawkes bắt đầu leo thang đến thòng lọng, nhưng bằng cách nhảy đến chết hoặc trèo quá cao để sợi dây được đặt không chính xác, ông đã tránh được sự đau đớn trong đoạn sau của cuộc hành hình bằng cách làm gãy cổ ông.[36][54][55] Tuy nhiên cơ thể bất động của ông bị cắt thành bốn mảnh[56] và, như tục lệ,[57] các mảnh đó sau đó được đem tới "bốn góc của vương quốc", tượng trưng như một lời cảnh báo cho những kẻ có ý định phản bội.[58]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Haynes 2005, tr. 28–29
  2. ^ Guy Fawkes, The Gunpowder Plot Society, Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2010, truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2010 
  3. ^ a ă â b c d đ Nicholls, Mark (2004), “Fawkes, Guy (bap. 1570, d. 1606)”, Oxford Dictionary of National Biography , Oxford University Press, doi:10.1093/ref:odnb/9230, truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2010  (yêu cầu đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh)
  4. ^ "Fawkes, Guy" in The Dictionary of National Biography, Leslie Stephen, ed., Oxford University Press, London (1921–1922).
  5. ^ a ă â Fraser 2005, tr. 84
  6. ^ a ă Sharpe 2005, tr. 48
  7. ^ Fraser 2005, tr. 86 (note)
  8. ^ Sharpe 2005, tr. 49
  9. ^ a ă Herber, David (tháng 4 năm 1998), “The Marriage of Guy Fawkes and Maria Pulleyn”, The Gunpowder Plot Society Newsletter (1), The Gunpowder Plot Society, Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2011, truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2010 
  10. ^ Fraser 2005, tr. 84–85
  11. ^ Fraser 2005, tr. 85–86
  12. ^ a ă Fraser 2005, tr. 86
  13. ^ Fraser 2005, tr. 89
  14. ^ Northcote Parkinson 1976, tr. 46
  15. ^ Fraser 2005, tr. 140–142
  16. ^ a ă Fraser 2005, tr. 117–119
  17. ^ Fraser 2005, tr. 87
  18. ^ Nicholls, Mark (2004), “Catesby, Robert (b. in or after 1572, d. 1605)”, Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, doi:10.1093/ref:odnb/4883, truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010  (yêu cầu đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh)
  19. ^ Fraser 2005, tr. 122–123
  20. ^ Nicholls, Mark (2004), “Winter, Thomas (c. 1571–1606)”, Oxford Dictionary of National Biography, Oxford University Press, doi:10.1093/ref:odnb/29767, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016, truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2009  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp) (yêu cầu đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh)
  21. ^ Fraser 2005, tr. 133–134
  22. ^ Haynes 2005, tr. 55–59
  23. ^ Fraser 2005, tr. 144–145
  24. ^ Fraser 2005, tr. 146–147
  25. ^ Fraser 2005, tr. 159–162
  26. ^ Bengsten 2005, tr. 50
  27. ^ Fraser 2005, tr. 150
  28. ^ Fraser 2005, tr. 148–150
  29. ^ Fraser 2005, tr. 170
  30. ^ Fraser 2005, tr. 178–179
  31. ^ Northcote Parkinson 1976, tr. 62–63
  32. ^ Northcote Parkinson 1976, tr. 68–69
  33. ^ Northcote Parkinson 1976, tr. 72
  34. ^ Fraser 2005, tr. 189
  35. ^ Northcote Parkinson 1976, tr. 73
  36. ^ a ă â b Northcote Parkinson 1976, tr. 91–92
  37. ^ Cobbett 1857, tr. 229.
  38. ^ Fraser 2005, tr. 208–209
  39. ^ Fraser 2005, tr. 211
  40. ^ Fraser 2005, tr. 215
  41. ^ Fraser 2005, tr. 212
  42. ^ Younghusband 2008, tr. 46
  43. ^ Bengsten 2005, tr. 58
  44. ^ Bengsten 2005, tr. 59
  45. ^ Fraser 2005, tr. 216–217
  46. ^ Bengsten 2005, tr. 60
  47. ^ Fraser 2005, tr. 215–216, 228–229
  48. ^ Fraser 2005, tr. 263
  49. ^ Fraser 2005, tr. 263–266
  50. ^ Fraser 2005, tr. 273
  51. ^ Fraser 2005, tr. 266–269
  52. ^ Fraser 2005, tr. 269–271
  53. ^ Haynes 2005, tr. 115–116
  54. ^ Fraser 2005, tr. 283
  55. ^ Sharpe 2005, tr. 76–77
  56. ^ Allen 1973, tr. 37
  57. ^ Thompson 2008, tr. 102
  58. ^ Guy Fawkes, York Museums Trust, Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2010, truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2010  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Những ngày tháng trong bài viết này được ghi bằng lịch Julian trước khi Vương quốc Anh đổi qua Dương lịch vào ngày ngày 14 tháng 9 năm 1752.
  2. ^ Dựa vào một nguồn tin, ông có thể là người giữ sổ của tòa án Exchequer thuộc Tổng giám mục.[1]
  3. ^ Tên trước khi cưới chồng của mẹ Fawkes là Edith Blake,[2] hoặc Edith Jackson.[3]
  4. ^ Browne là một trong những chính khách hàng đầu trong thời Công giáo Mary, Nữ hoàng Scotland và cũng bị cáo buộc liên quan đến âm mưu Ridolfi
  5. ^ Dựa vào International Genealogical Index, được biên soạn bởi Thư viện lịch sử gia đình, Fawkes đã cưới Maria Pulleyn (sinh năm 1569) ở Scotton vào năm 1590 và có một đứa con là Thomas vào ngày 6 tháng 2 năm 1591.[9] Tuy nhiên các thông tin này được lấy từ một nguồn thứ cấp chứ không phải từ nguồn sơ cấp của giáo xứ.[12]
  6. ^ Mặc dù Từ điển Oxford của tiểu sử quốc gia (Oxford Dictionary of National Biography) ghi chép Fawkes bán tài sản vào năm 1592, nhiều nguồn sử sách khác lại cho là năm 1591. Peter Beal, Từ điển thuật ngữ bản thảo tiếng Anh, 1450 đến 2000, bao gồm một bản khế ước được ký kết về việc bán bất động sản vào ngày 14 tháng 10 năm 1591. (trang 198–199)
  7. ^ Những kẻ đồng mưu có mặt ngoài Fawkes là John Wright, Thomas Percy, và Thomas Wintour.[16]
  8. ^ Philip III ký kết hòa bình với nước Anh vào tháng 8 năm 1604.[18]
  9. ^ Người thứ tám, Thomas Bates, bị coi là thấp kém bởi địa vị của mình và được giữ tại nhà tù Gatehouse.[48]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]