Hòn Nghệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hòn Nghệ là một đảo nhỏ trên vịnh Hà Tiên ngoài khơi Kiên Giang. Diện tích 3.8 km²; dân số 2.114 người [1].

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo cách mũi Hòn Chông khoảng 15 km về phía Tây Nam. Cách quần đảo Bà Lụa 8 km về phía Đông Nam. Đảo có hình bầu dục, chiều dài 2.5 km, rộng 1.6 km, chu vi 7.5 km, diện tích 3.8 km². Đỉnh cao nhất đảo 338m. Đảo được cấu tạo thành từ đá sa thạch xen lẫn đá vôi karst.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức gọi Hòn Nghệ là Uất Kim Dữ, chu vi 20 dặm ở về phía Nam của trấn Hà Tiên. Đảo hòn Nghệ được người Pháp gọi là Pôlô-Tekere.

Về mặt hành chính, đây là xã đảo thuộc huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư trên đảo tập trung chính ở ven bờ biển, kinh tế chủ yếu là nghề nuôi trồng và đánh bắt hải sản. Có các ấp bãi Nam và bãi Chướng.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Phần nội địa của đảo vẫn còn hoang sơ, tập trung nhiều loại động vật phong phú như chim, sóc, kỳ đà...

Địa điểm nổi bật trên đảo:

  • Miếu Bà Chúa Xứ và miếu Vinh ông Nam Hải tại bãi Chướng, có trưng bày xương cá ông.
  • Chùa Linh Sơn cổ tự, có tượng Phật Bà Nam Hải cao 20m.
  • Hang vua Gia Long.

Tàu từ Ba Hòn (Kiên Lương) ra hòn Nghệ mỗi ngày có một chuyến: sáng 8g khởi hành từ hòn Nghệ ra Ba Hòn và quay trở về hòn Nghệ lúc 12g.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]