Họ Thằn lằn bóng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Họ Thằn lằn bóng
Blue-toungued skink444.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Reptilia (paraphyletic)
Bộ (ordo) Squamata
Họ (familia) Scincidae
Gray, 1825
Phân họ

Acontinae
Lygosominae
Scincinae (có lẽ cận ngành)

Về chi, xem trong bài.

Họ Thằn lằn bóng hay họ Rắn mối (danh pháp khoa học: Scincidae) là một họ trong phân thứ bộ Scincomorpha. Với hơn 1.500 loài đã mô tả, đây là một trong những họ thằn lằn đa dạng nhất.[1]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài rắn mối có thể trông giống các loài thuộc họ Lacertidae, nhưng hầu hết không có phần cổ rõ ràng, chân lại tương đối nhỏ; một số chi (như Typhlosaurus) còn không có chân. Ở một số chi khác, như Neoseps, chân thoái hóa mạnh, mỗi bàn có dưới năm ngón. Với những loài này, cách di chuyển của chúng gợi đến rắn hơn là những loại thằn lằn có chân phát triển đầy đủ. Ngón chân càng dài, càng có nhiều khả năng chúng sống trên cây.

Đa số loài có đuôi dài, chóp nhọn, có thể đứt ra nếu động vật săn mồi chộp phải. Những loài như vậy có thể tái tạo phần đuôi đã mất, dù không hoàn hảo.

Một số loài rắn mối khá nhỏ; Scincella lateralis thường dài niên đại 7,5 đến 14,5 cm (3,0 đến 5,7 in) trước, hơn một nửa số đó là chiều dài đuôi. Tuy vậy, đa phần rắn mối có kích thước vừa, với chiều dài từ mỏm tới huyệt khoảng 12 cm (4,7 in). Corucia zebrata là loài rắn mối lớn nhất, có thể đạt chiều dài mỏm-huyệt 35 cm (14 in).

Các loài trong chi Prasinohaema có máu lục do lượng biliverdin trong máu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thằn lằn "kiểu rắn mối" được ghi nhận trong hóa thạch từ 140 triệu năm trước, vào thời kỳ Creta sớm. Sự tương đồng này nằm chủ yếu ở đặc điểm xương hàm. Hóa thạch chắc chắn là rắn mối xuất hiện trễ hơn, vào thế Miocen.

Những chi rắn mối sau được ghi nhận trong hóa thạch:[2]

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Một nét có ở gần như mọi loài rắn mối là khả năng đào hang. Chúng dành hầu hết thời gian dưới nhất nhằm tránh động vật ăn thịt, có khi còn đào qua khe nước. Chúng lấy lưỡi "ngửi" không khí và lần dấu con mồi. Khi thấy mối, chúng đuổi theo cho tới khi chộp được và nuốt trọn.

Chế độ ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn mồi chủ yếu ăn côn trùng. Những con mồi điển hình của chúng là ruồi, dế mèn, châu chấu, bọ cánh cứng, và sâu bướm. Nhiều loài còn ăn giun đất, cuốn chiếu, ốc sên, sên lãi, chân đều, bướm đêm, thằn lằn khác và gặm nhấm nhỏ. Số ít loài, nhất là những loài hay được nuôi làm thú cưng, ăn tạp hơn,và có thể giữ chế độ ăn 60% rau/lá/trái cây và 40% thịt (côn trùng, gặm nhấm).[3]

Các chi[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều chi lớn, ví dụ Mabuya, vẫn chưa được nghiên cứu sâu, và sự phân loại hiện chưa thống nhất. Có một số loài từng thuộc Mabuya đã được chuyển qua Trachylepis, Chioninia, và Eutropis.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mecke, Doughty & Donnellan (2013). “Redescription of Eremiascincus fasciolatus (Günther, 1867) (Reptilia: Squamata: Scincidae) with clarification of its synonyms and the description of a new species” (PDF). Zootaxa 3701 (5): 473–517. doi:10.11646/zootaxa.3701.5.1. 
  2. ^ “Scincidae Gray 1825”. Paleobiology Database. Fossilworks. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2018. 
  3. ^ McLeod, Lianne. “Keeping Blue Tongued Skinks as Pets”. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2006. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]