Juan II của Aragon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Juan II
SOAOTO - Folio 067R.jpg
Juan trong Knight of the Golden Fleece
Chi tiết thu nhỏ trong một cuốn sách từ miền nam Hà Lan, 1473
Vua của Aragon
Tại vị27 tháng 6 năm 1458 – 20 tháng 1 năm 1479
Tiền nhiệmAlfonso V
Kế nhiệmFerdinand II
Vua của Sicily
Tại vị27 tháng 6 năm 1458 – 1468
Tiền nhiệmAlfonso
Kế nhiệmFerdinand II
Vua của Navarre
Tại vị8 tháng 9 năm 1425 – 20 tháng 1 năm 1479
Tiền nhiệmBlanche I
Kế nhiệmEleanor
Đồng trị vìBlanche I
Thông tin chung
Sinh29 tháng 6 năm 1398
Medina del Campo
Mất20 tháng 1 năm 1479(1479-01-20) (80 tuổi)
Barcelona
Phối ngẫuBlanche I của Navarre
Juana Enríquez
Hậu duệ
Hoàng tộcTrastámara
Thân phụFernando I của Aragon
Thân mẫuEleanor xứ Alburquerque
Tôn giáoGiáo hội Công giáo

Juan II ( tiếng Tây Ban Nha: Juan II, tiếng Catalan: Joan II, tiếng Aragon: Chuan II và tiếng tiếng Basque: Joanes II; 29 tháng 6 năm 1398 - 20 tháng 1 năm 1479), còn được gọi với biệt danh là Đại đế (el Gran) hay Người vô tín ( el Sense Fe), [1]Vua của Aragon từ năm 1458 cho đến khi ông qua đời. Là phu quân của Nữ hoàng Blanche I của Navarre, ông được làm Vua của Navarre và thừa hưởng xứ này thông qua vợ từ năm 1425. Juan cũng là Vua của Sicily từ năm 1458 đến năm 1468.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một carlino Sicilian–Athenian–Neopatrian của Juan II.

Juan sinh ra tại Medina del Campo (tại vương quốc Castile), là con trai của Vua Fernando I của Aragon và Leonor xứ Alburquerque.[2] Khi còn trẻ, ông là một trong những infanntes (hoàng tử) quyền lực của Aragon, là người đã tham gia vào các cuộc bất đồng chính kiến ​​của Castile trong thời kỳ thiểu số và triều đại của Juan II của Castilla. Đến tuổi trung niên, ông còn làm tổng tư lệnh ở Aragon cho em trai và người tiền nhiệm Alfonso V, người có triều đại chủ yếu ở Ý.[3]Ở tuổi già, ông lại tham gia vào các cuộc xung đột không ngừng với các thần dân Aragon và Catalan của mình, với Louis XI của Pháp, và chuẩn bị cho cuộc hôn nhân của con trai ông Ferdinand với Isabella I của Castila, dẫn đến sự hợp nhất của vương miện của Aragon và Castile và là tiền đề của Vương quốc Tây Ban Nha sau này. Những rắc rối của ông với thần dân của mình có liên hệ chặt chẽ với những xung đột bi thảm trong chính gia đình ông.

Juan kết hôn lần đầu tiên với Blanche I xứ Navarre của nhà Évreux.[3]Với tư cách là phu quân của Blanche, ông được trở thành vua của Navarre. Sau khi bà qua đời vào năm 1441, ông được để lại quyền sở hữu vương quốc này trọn đời. Nhưng người con trai Charles được phong là "Hoàng tử Viana" với tư cách là người thừa kế của Navarre, đã khiến Juan bắt đầu nhanh chóng ghen tị với người con trai này. Sau cuộc hôn nhân thứ hai với Juana Enríquez, ông trở nên căm thù tuyệt đối với người con trai của mình, khi người vợ hai của ông liên tục đổ thêm dầu vào tình hình. Juan đã cố gắng tước bỏ quyền hiến định của con trai mình để làm trung tướng của Aragon trong thời gian con trai ông vắng mặt. Tuy nhiên, nguyên nhân của Charles do người Aragon lên tiếng, và nỗ lực của nhà vua để phong cho người vợ thứ hai của ông làm trung tướng đã bị gạt sang một bên.

Sự kiện đáng chú ý diễn ra sau đó là cuộc Nội chiến Navarre kéo dài, với sự thay đổi chao đảo từ thành công sang thất bại. Cuộc chiến này chỉ kết thúc bằng cái chết của hoàng tử Viana, có thể là do thuốc độc do chính ông dùng vào năm 1461.[4]Những người Catalonia, những người đã chấp nhận nguyên nhân của Charles và những người có bất bình riêng, đã gọi hàng loạt những kẻ giả danh nước ngoài trong cuộc Chiến tranh chống lại Juan II. Những năm cuối cùng của đời mình, Juan chỉ để đấu tranh với những điều này. Ông buộc phải mang Roussillon, lãnh địa thuộc sở hữu của ông ở phía đông bắc dãy núi Pyrenees, làm món cho vay cho Vua Louis XI của Pháp, người đã từ chối nó.

Về già, Juan bị mù do đục thủy tinh thể, nhưng ông đã phục hồi thị lực nhờ ca phẫu thuật nằm dài do Abiathar Crescas, một bác sĩ người Do Thái tiến hành. Cuộc nổi dậy ở Catalan đã được bình định vào năm 1472, nhưng Juan vẫn tiếp tục mở một cuộc chiến, nhưng ông thường không may mắn với người hàng xóm là vua Pháp Louis XI, điều này chỉ chấm dứt cho đến khi ông qua đời vào năm 1479. Juan được kế vị bởi Ferdinand, con trai của ông từ cuộc hôn nhân thứ hai, người đã kết hôn với Isabella I của Castile. Sau khi ông băng hà và con trai lên ngôi Aragon, việc thống nhất Tây Ban Nha dưới một hoàng gia đã bắt đầu một cách nghiêm túc và quy củ.

Kết hôn và hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuộc hôn nhân đầu tiên với Blanche xứ Navarre, Juan có những người con sau:

Một ducat trong lăng mộ Juan II

Sau cuộc hôn nhân thứ hai với Juana Enríquez, Juan có những người con sau:

Hậu duệ không hợp pháp:

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Earenfight, Theresa (2015). “Trastamara Kings, Queens, and the Gender Dynamics of Monarchy”. Trong Todesca, James (biên tập). The Emergence of León-Castile c.1065-1500: Essays Presented to J.F. O'Callaghan. Ashgate. tr. 141–160.
  • Livermore, H. V. (1966). A New History of Portugal (ấn bản 2). Cambridge University Press.120
  • Merriman, Roger Bigelow (1918). The Rise of the Spanish Empire in the Old and in the New. 2. The Macmillan Company.
  • Ruiz, Teófilo F. (2007). Spain's centuries of crisis: 1300–1474. Wiley-Blackwell. ISBN 978-1-4051-2789-9.
  • Scofield, Cora Louise (1923). The Life and Reign of Edward the Fourth, King of England and of France, and Ireland. 1. Longmans, Green, and Co.
  • Woodacre, Elena (2013). The Queens Regnant of Navarre: Succession, Politics, and Partnership, 1274–1512. Palgrave Macmillan.
  • Rivadeneyra. "Cronicas de los reyes de Castilla," Biblioteca de autores espanoles, vols. Ixvi, Ixviii. Madrid, 1845.
  • Zurita, G. Anales de Aragon. Saragossa, 1610.Bản mẫu:Title incompleteBản mẫu:Volume needed
  • Prescott W. H. History of the Reign of Ferdinand and Isabella. 1854.
  •  Bài viết này bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộngChisholm, Hugh biên tập (1911). “John II of Aragon”. Encyclopædia Britannica. 15 (ấn bản 11). Cambridge University Press. tr. 440.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Juan II của Aragon
Sinh: 29 tháng 6, 1397 Mất: 20 tháng 1, 1479
Tước hiệu
Tiền nhiệm
Alfonso V của Aragon
Vua của Aragon, Valencia, Majorca,
Sicily, Sardinia và Corsica;
Bá tước xứ Barcelona

1458–1479
Kế nhiệm
Fernando II của Aragon
Bá tước xứ RoussillonCerdagne
1458–1462
Kế nhiệm
Louis XI của Pháp
Tiền nhiệm
Charles III
Vua của Navarre (jure uxoris)
1425–1441
với Blanche I
Kế nhiệm
Charles IV de jure
Vua Navarre de facto
withholding the crown from
Charles IV của Navarre and Blanche II

1441–1479
Kế nhiệm
Eleanor
Quý tộc Tây Ban Nha
Trống
Danh hiệu cuối cùng được tổ chức bởi
Martin của Aragon
Công tước xứ Montblanc
1415–1458
Kế nhiệm
Fernando II của Aragon
Tiền nhiệm
James II xứ Urgell
Lãnh chúa Balaguer
1418–1458
Tiền nhiệm
Hugh xứ Cardona
Công tước xứ Gandia
1433–1439
Kế nhiệm
Charles xứ Viana

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ruiz 2007, tr. ?.
  2. ^ Earenfight 2015, tr. 143.
  3. ^ a b c d Scofield 1923, tr. 235.
  4. ^ Livermore 1966, tr. 120.
  5. ^ a b Merriman 1918, tr. 61.
  6. ^ de Sousa, Antonio Caetano (1735). Historia genealogica da casa real portugueza [Genealogical History of the Royal House of Portugal] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 2. Lisboa Occidental. tr. 497.