Kagerō (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Kagerō
Đặt hàng: 1937
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Maizuru
Đặt lườn: 3 tháng 9 năm 1937
Hạ thủy: 27 tháng 9 năm 1938
Nhập biên chế: 6 tháng 11 năm 1939
Xóa đăng bạ: 20 tháng 6 năm 1943
Số phận: Bị chìm do trúng thủy lôi và không kích gần Kolombangara, 8 tháng 5 năm 1943
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kagerō
Trọng tải choán nước: 2.033 tấn Anh (2.066 t) (tiêu chuẩn)
2.500 tấn Anh (2.540 t) (đầy tải)
Độ dài: 116,20 m (381 ft 3 in) (mực nước)
118,50 m (388 ft 9 in) (chung)
Sườn ngang: 10,80 m (35 ft 5 in)
Mớn nước: 3,76 m (12 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước Kanpon
3 × nồi hơi ống nước Kampon
2 × trục
công suất 52.000 mã lực (38,8 MW)
Tốc độ: 35,5 hải lý một giờ (40,9 mph; 65,7 km/h)
Tầm xa: 5.000 nmi (9.300 km) ở tốc độ 18 kn (21 mph; 33 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
239
Vũ trang:

(1939)
6 × hải pháo Kiểu 3 127 mm/50 caliber (3×2)
4 × pháo 25 mm Kiểu 96 phòng không
8 × ống phóng ngư lôi Kiểu 92 (2×4)
16 × ngư lôi 610 mm Kiểu 93
18 × mìn sâu Kiểu 95
2 × máy cắt dây mìn ngầm

(1943)
6 × hải pháo Kiểu 3 127 mm/50 caliber (3×2)
8 × pháo 25 mm Kiểu 96 phòng không
8 × × ống phóng ngư lôi Kiểu 92 (2×4)
16 × ngư lôi 610 mm Kiểu 93
18 × mìn sâu

Kagerō (tiếng Nhật: 陽炎) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, là chiếc dẫn đầu của lớp tàu khu trục mang tên nó, và đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Vào ngày 8 tháng 5 năm 1943, Kagerō thực hiện một chuyến đi vận chuyển đến Kolombangara. Khi rời Vila, nó bị bất động do trúng phải một quả thủy lôi, rồi tiếp tục bị hư hại trong cuộc không kích tiếp theo do những quả bom ném suýt trúng và hỏa lực bắn phá. Cuối cùng nó chìm ở phía Tây Nam Kolombangara, ở tọa độ 08°08′N 156°55′Đ / 8,133°N 156,917°Đ / -8.133; 156.917. Trong số thành viên thủy thủ đoàn, 18 người đã tử trận, số còn lại được cứu thoát.

Kagerō được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 20 tháng 6 năm 1943.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 08°08′N 156°55′Đ / 8,133°N 156,917°Đ / -8.133; 156.917