Yukikaze (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Yukikaze
Tàu khu trục Yukikaze trên đường đi vào tháng 12 năm 1939
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Yukikaze
Đặt hàng: 1937
Đặt lườn: 2 tháng 8 năm 1938
Hạ thủy: 24 tháng 3 năm 1939
Nhập biên chế: 20 tháng 1 năm 1940
Xóa đăng bạ: 5 tháng 10 năm 1945
Số phận: Chuyển cho Trung Hoa dân quốc, 6 tháng 7 năm 1947
Phục vụ (Trung Hoa dân quốc) Flag of the Republic of China.svg
Tên gọi: ROCS Tang Yan (丹陽)
Trưng dụng: 6 tháng 7 năm 1947
Nhập biên chế: 1 tháng 5 năm 1948
Xuất biên chế: 16 tháng 11 năm 1966
Số phận: Bị tháo dỡ 1970
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kagerō
Trọng tải choán nước: 2.000 tấn Anh (2.032 t) (tiêu chuẩn)
2.500 tấn Anh (2.540 t) (đầy tải)
Độ dài: 116,20 m (381 ft 3 in) (mực nước)
118,50 m (388 ft 9 in) (chung)
Sườn ngang: 10,80 m (35 ft 5 in)
Mớn nước: 3,76 m (12 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước Kanpon
3 × nồi hơi ống nước Kampon
2 × trục
công suất 52.000 mã lực (38,8 MW)
Tốc độ: 35,5 hải lý một giờ (40,9 mph; 65,7 km/h)
Tầm xa: 5.000 nmi (9.300 km) ở tốc độ 18 kn (21 mph; 33 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
239
Vũ trang: 6 × hải pháo Kiểu 3 127 mm/50 caliber (3×2)
28 × pháo 25 mm Kiểu 96 phòng không
4 × pháo phòng không 13 mm Kiểu 95
8 × ống phóng ngư lôi Kiểu 92 (2×4)
16 × ngư lôi 610 mm Kiểu 93
36 × mìn sâu Kiểu 95

Yukikaze (tiếng Nhật: 雪風) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp Kagerō đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là thành viên duy nhất còn sống sót của lớp tàu này; và sau chiến tranh, nó tiếp tục phục vụ cho Hải quân Trung Hoa dân quốc dưới tên gọi Tang Yan (丹陽) (DD-12) trước khi bị tháo dỡ vào năm 1970.

Yukikaze[sửa | sửa mã nguồn]

Yukikaze

Vào đầu cuộc chiến Yukikaze đã tham gia cuộc xâm chiếm PhilippinesĐông Ấn thuộc Hà Lan. Sau đó nó cũng tham gia Trận Midway, Trận chiến quần đảo Santa Cruz, Trận chiến biển PhilippineTrận chiến vịnh Leyte, cũng như các hoạt động vận chuyển binh lính kéo dài trong Chiến dịch Guadalcanal và các trận hải chiến chung quanh hòn đảo này. Yukikaze cũng sống sót qua Chiến dịch Ten-Go, cuộc tấn công mang tính tự sát vào lực lượng Hoa Kỳ đang đổ bộ tại Okinawa, trong đó thiết giáp hạm Yamato bị đánh chìm.

Giữa hai cuộc đối đầu lớn này, Yukikaze tham gia nhiều hoạt động hộ tống, đặc biệt là trong việc bố trí chiếc tàu sân bay khổng lồ Shinano lúc mà chiếc tàu vừa mới hoàn tất này bị tàu ngầm Archer Fish phóng ngư lôi đánh chìm. Nó trải qua những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh bảo vệ các cảng Nhật Bản, và đã sống sót qua nhiều cuộc không kích của Đồng Minh.

Yukikaze được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 5 tháng 10 năm 1945.

Sau chiến tranh, nó được sử dụng vào việc hồi hương binh lính Nhật Bản còn trú đóng ở nước ngoài. Cùng với HibikiUshio, Yukikaze là một trong những tàu duy nhất còn sống sót trong tổng số 82 tàu khu trục Nhật Bản được đóng trước chiến tranh.

ROCS Đan Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 6 tháng 7 năm 1947, Yukikaze được chuyển cho Trung Hoa dân quốc tại Thượng Hải như một chiếc lợi phẩm, và được đổi tên thành Đan Dương (丹陽) (DD-12). Sau thêm hai thập niên phục vụ, nó được cho ngừng hoạt động sau khi bị mắc cạn bởi một cơn bão vào năm 1966; và sau khi những nỗ lực vận động đưa nó quay trở về Nhật Bản để bảo tồn như một tàu bảo tàng bị thất bại, Đan Dương bị tháo dỡ vào năm 1970. Bánh lái và một trong các mỏ neo của nó được đưa trả về Nhật Bản, nơi Yukikaze rất nổi tiếng và thường được gọi là "con tàu không thể chìm". Nó cùng với Верный (Hibiki) và JDS Wakaba (Nashi) là ba chiếc tàu cuối cùng của Hải quân Đế chế Nhật đã tham gia và sống sót Thế chiến thứ II

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]