Lý Tĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
李靖.jpg

Lý Tĩnh, tiếng Trung: 李靖, (571 - 649) tên chữ là Dược Sư, người huyện Tam Nguyên Ung Châu (nay là huyện Tam Nguyên, tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc), là tướng lĩnh và khai quốc công thần nhà Đường, một trong 24 vị công thần được vẽ hình để thờ phụng trong Lăng Yên Các và về sau từng đảm nhận chức vụ Tướng quốc. Ông có công diệt Đông Đột Quyết, Thổ Cốc Hồn, sau được phong làm Vệ Cảnh Vũ công nên còn gọi là Lý Vệ Công. Lý Tĩnh và Lý Thế Tích được coi là hai vị tướng xuất sắc nhất thời Sơ Đường.

Trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, Lý Tĩnh được xem như một trong các đại danh tướng, được xếp ngang hàng với Vệ Thanh nhà Hán. Ông là một trong các danh tướng gần như chưa thất bại bao giờ. Bản thân ông thích dùng loại hình tấn công bất ngờ vào những nơi và những lúc địch không phòng bị mà phá được giặc. Khi tấn công Tiêu Tiển, Lý Tĩnh hiến kế nhân lúc quân Lương không phòng bị vượt sông vào trời mưa lúc nước dâng cao mà diệt được nước Lương, bắt được Tiêu Tiển. Sau đó Đường Thái Tông cho Lý Tĩnh đánh Đông Đột Quyết, ông dùng 3,000 kỵ binh bất ngờ vượt qua Âm Sơn lúc mùa đông trời tuyết mà đánh vào trung quân Đột Quyết, bắt được Hiệt Lợi Khả Hãn, diệt được Đông Đột Quyết. Khi đi đánh Thổ Cốc Hồn, quân Thổ Cốc Hồn ỷ vào địa thế núi cao và trời tuyết mà không phòng bị. Lý Tĩnh ra lệnh cho quân Đường hành quân liên tục trong mấy ngày vượt mấy ngàn dặm, leo lên núi tuyết đi qua phía sau quân địch mà đánh bất ngờ, đánh bại được Thổ Cốc Hồn.

Các chiến công của Lý Tĩnh đã giúp cho nhà Đường mở rộng lãnh thổ mấy ngàn dặm về phía tây và tây bắc, trở thành đất nước bá chủ hùng mạnh nhất Đông ÁTrung Á thời bấy giờ. Đường Thái Tông từng muốn gia phong cho ông thêm hàm Binh mã Đại Nguyên soái, nhưng Lý Tĩnh vì sợ công lao của mình cao chấn chủ nên đã từ chối và về sống an nhàn đến cuối đời. Ông là một trong số ít những đại danh tướng và khai quốc công thần có công lao cái thế nhưng lại có cái kết tốt đẹp, được trọn vẹn đến hết đời, khác với Bạch Khởi, Hàn TínTừ Đạt. Cuốn sách ghi lại cuộc trò chuyện giữa Lý Tĩnh và Đường Thái Tông bàn luận về binh pháp được đời sau biên tập lại thành "Lý Vệ công vấn đáp" hay "Lý Vệ công binh pháp" trở thành một phần trong "Vũ kinh thất thư", bảy cuốn binh pháp đóng vai trò quan trọng mà tướng lãnh phong kiến nào cũng phải học tập.

Dưới thời nhà Tùy[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Tĩnh sinh năm 571 dưới thời Bắc Chu, trong thế gia Lý thị Lũng Tây. Ông nội ông, Lý Sùng Nghĩa, từng làm thứ sử Ân Châu, tước đến Vĩnh Khang huyện công, cha ông Lý Thuyên từng làm thái thú quận Triệu, tước đến Lâm Phần tương công. Ngay từ nhỏ, ông đã thể hiện là một người tài năng văn võ song toàn, thông hiểu sử sách, đặc biệt có năng khiếu về lý luận quân sự. Ông là cháu gọi với danh tướng nhà Tùy Hàn Cầm Hổ bằng cậu. Hàn Cầm Hổ đánh giá cao tài năng của Lý Tĩnh đến nỗi thường nói rằng: "Có thể đàm đạo cùng ta về binh pháp Tôn, Ngô (Tôn Tử, Ngô Khởi - hai nhà quân sự cổ đại nổi tiếng của Trung Quốc, nhất là Tôn Tử được xem như là thủy tổ của Binh gia), cũng chỉ có Lý Tĩnh thôi".

Thời trẻ ông đảm nhận chức Công tào huyện Trường An, sau giữ chức Giá bộ Viên ngoại lang. Tuy đây chỉ là những chức quan nhỏ nhưng nhiều quan lớn trong triều như Lại bộ Thượng thư Ngưu Hoằng, Thượng thư Tả phó xạ Dương Tố đều biết đến tên tuổi Lý Tĩnh và có ý khen ngợi ông. Bản thân Lý Tĩnh tuy có tài hoa nhưng suốt nửa đời đầu, ông chỉ có thể đảm nhận những chức vụ nhỏ. Dương Tố từng có ý tiến cử ông với Tùy Dạng Đế, nhưng vì Lý Tĩnh có tình ý với một ca kỹ trong phủ Dương Tố là Trương Xuất Trần, làm Xuất Trần bỏ đi theo ông nên Dương Tố đâm ra ghét ông. Sau khi Dương Tố chết, con là Dương Huyền Cảm làm phản nhưng thất bại, bị giết cả họ. Lý Tĩnh vì từng có liên quan đến Dương gia nên trong một thời gian dài không được bổ nhiệm nữa.

Năm Đại Nghiệp thứ 13 (617), Lý Tĩnh được bổ nhiệm làm quận thừa Mã Áp (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Lúc này phong trào khởi nghĩa phản Tùy đang lên cao: Hà BắcĐậu Kiến Đức, Hà NamTrạch Nhượng, Lý Mật, Giang Hoài có Đỗ Phục Uy, Phụ Công Thạch đều hùng cứ một phương, uy hiếp nghiêm trọng đến triều đình nhà Tùy. Lý Uyên khi đó đang là Lưu thủ Thái Nguyên cũng âm thầm chiêu binh mãi mã, chờ ngày khởi sự. Lý Tĩnh phát hiện ra động thái bất thường của Lý Uyên, đã giả vờ phạm tội để bị giải về Giang Đô, nhờ thế có thể báo tin cho Tùy Dạng Đế. Tuy nhiên khi ông đến Trường An thì cả vùng Quan Trung đã đại loạn, đường sá tắc nghẽn và không có cách nào đi đến Giang Đô. Không lâu sau đó, Lý Uyên quả nhiên khởi binh công chiếm Trường An và bắt được Lý Tĩnh. Nhớ thù xưa, Lý Uyên đem Lý Tĩnh ra hành hình, nhưng ông nói: "Đường công khởi nghĩa binh là muốn vì thiên hạ mà trừ bạo loạn, nhưng nay chỉ vì ân oán cá nhân mà chém tráng sĩ thì liệu có thành đại sự được không?". Lý Uyên ấn tượng với lời nói ông, đồng thời Lý Thế Dân, con trai thứ của Lý Uyên - vì thán phục dũng khí của Lý Tĩnh - cũng đứng ra xin hộ nên Lý Tĩnh được tha. Không lâu sau đó Lý Thế Dân mời Lý Tĩnh về phục vụ dưới trướng.

Dưới thời Cao Tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 618, sau khi nhận được tin Vũ Văn Hóa Cập gây chính biến, giết chết Tùy Dạng Đế. Lí Uyên ép Tùy Cung Đế nhường ngôi để lập ra nhà Đường, tức là vua Đường Cao Tổ. Lý Tĩnh tiếp tục phục vụ cho triều đại mới và đến năm 619 thì tham gia chiến dịch tấn công nước Trịnh của Vương Thế Sung, lập công trong trận Lạc Dương và trận Hổ Lao nên được phong chức và cho khai phủ.

Sau đó, cũng vào năm 619, Lý Uyên đã giao phó cho Lý Tĩnh đánh dẹp Tiêu Tiển (蕭銑), là chắt của vua nhà Lương (502 - 557) là Thế Tổ Nguyên Đế (Tiêu Dịch) (508 - 555) đang cát cứ vùng trung du sông Trường Giang. Khi đến Kim Châu, Lý Tĩnh đụng phải một bọn cướp đã mấy lần đánh bại Lư Giang vương Lý Viện, cháu họ của Cao Tổ. Lý Tĩnh đã kết hợp lực lượng với Lý Viện cùng đánh tan bọn cướp. Tuy nhiên khi đến biên giới nước Lương, ông bị quân Lương đánh chặn và không thể tiến thêm được nên phải dừng ở Hạ Châu. Đường Cao Tổ vì nghi ngờ Lý Tĩnh cố tình không tiến quân nên rất giận dữ, bí mật sai Thứ sử Hạ Châu là Hứa Thiệu giết Lý Tĩnh. Tuy nhiên, Hứa Thiệu vì tán thưởng tài cầm quân của Lý Tĩnh nên dâng tấu xin Cao Tổ tha chết cho Lý Tĩnh, Cao Tổ sau đó đã chấp thuận. Trong lúc đó, vào mùa xuân năm 620, một thủ lĩnh bộ tộc Khai Sơn ở Quí Châu nổi dậy chống nhà Đường. Đường Cao Tổ ban đầu sai cháu họ là Triệu quận vương Lý Hiếu Cung đi dẹp nhưng không thành công. Lý Tĩnh sau đó tiếp viện với 800 kỵ binh, bí mật đột kích chém được tướng giặc, dẹp được phản loạn.

Diệt Tiêu Tiển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 621, Lý Tĩnh thông qua Lý Hiếu Cung dâng lên 10 sách lược bình Lương cho Đường Cao Tổ. Đường Cao Tổ duyệt phương án của Lý Tĩnh và cho Lý Tĩnh làm phó tướng của Lý Hiếu Cung. Vì Lý Hiếu Cung còn trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm nên Cao Tổ giao cho Lý Tĩnh quyền chỉ huy trong hầu hết chiến dịch nhưng Lý Hiếu Cung vẫn là chủ tướng trên danh nghĩa.

Mùa thu năm 621, Đường Cao Tổ hạ lệnh cho Lý Hiếu Cung và Lý Tĩnh đem đại quân diệt nước Lương, trong khi đó Lý Viện và các tướng khác tấn công ở các mặt trận khác. Cùng lúc này trời mưa to, mực nước sông Trường Giang rất cao, dòng chảy rất nhanh. Trong khi các tướng khác cho rằng nên tạm hoãn tiến công, Lý Tĩnh khuyên Lý Hiếu Cung nên nhân lúc nước chảy nhanh mà vượt sông đánh kinh đô của Tiêu Tiển là Giang Lăng. Lý Hiếu Cung theo kế, ngay hôm đó cùng Lý Tĩnh chỉ huy 2000 chiến thuyền vượt sông. Tiêu Tiển vì thấy mùa lũ nên đã cho quân lính giải tán lo việc nông canh, một mặt chỉ có thể huy động quân già yếu ra chống, một mặt sai người đi kêu gọi quân tiếp viện. Lý Hiếu Cung thấy kế của Lý Tĩnh ngay từ đầu thuận lợi nên nóng lòng muốn đánh, chư tướng ai cũng nhao nhao xin giết giặc. Chỉ có Lý Tĩnh nói:

- "Nhất thiết không được như không được có thái độ khinh địch như các tướng mà xuất chiến. Lúc này Tiêu Tiển gọi quân cứu viện đến, tất sẽ thắng, quân ta cứ cho thuyền neo ở bờ nam, kiên quyết không có động tĩnh gì, khí thế quyết một trận tử chiến của quân địch sẽ tiêu tan trong chốc lát. Đợi đến khi quân địch nghĩ rằng quân ta không dám quyết chiến cùng chúng, rải binh khắp nơi, không giữ chắc được bờ bắc thì quân ta mới khởi binh, lý nào lại không thắng được?".

Lý Hiếu Cung theo lời các tướng, chỉ để Lý Tĩnh ở lại giữ trại, còn mình dẫn theo quân sĩ ra đánh. Chẳng ngờ quân Lương sĩ khí đang hăng, lấy một chọi mười, đánh quân Đường thua thảm hại. Lý Hiếu Cung phải quay lại giữ bờ nam. Quân Lương thấy đại thắng thì mở cờ trong bụng, hồ hởi chèo thuyền ra giữa sông dể thu chiến lợi phẩm, quân Đường còn sợ không dám nhìn thẳng. Lý Tĩnh lúc này lại khuyên Lý Hiếu Cung nhân lúc quân địch đang không đề phòng, nên đánh ngay. Lý Hiếu Cung đồng ý, cho Lý Tĩnh cấp quân xông ra giết, quân Lương đang đắc ý không ngờ quân Đường lại đến đánh nên chỉ lo chạy thoát thân chứ không nghĩ đến việc đánh trả. Quân Lý Tĩnh thừa sức truy đuổi, giết ngược một mạch thẳng đến tận dưới chân thành Giang Lăng.

Sau khi đánh bại tướng Lương là Văn Thế Hồng, Lý Hiếu Cung cho quân vây hãm Giang Lăng, cắt đứt liên lạc của Tiêu Tiển với quân đội của mình trên khắp lãnh thổ. Quân Đường lúc này cướp được vô số chiến thuyền, ai cũng vui mừng, cho rằng chiến rằng chiến hạm quý báu khác thường như vậy mà dùng để đánh địch thì chỉ có toàn thắng. Chỉ có Lý Tĩnh không vui mừng gì, lại ra kế nên thả nổi chiến thuyền trên sông. Các tướng sĩ nghi hoặc, Lý Tĩnh giải thích:

- "Lãnh địa quân địch phía nam vượt qua Linh Biểu, phía đông là sông, quân ta lại tiến sâu vào. Nếu không thể công phá được Giang Lăng ngay lập tức, thì viện binh của địch đã tập trung ở dọc sông, lúc đó trong ngoài đều có địch, tiến thoái lưỡng nan, lúc đó dù có chiến thuyền tốt cũng chẳng để làm gì. Không khó để thấy rằng theo cách nghĩ thông thường của viện binh nếu phát hiện thấy ở hạ du một loạt chiến thuyền của quân Lương mà không có người để hỏi thăm thì tất sẽ nghĩ rằng kinh đô Giang Lăng đã bị ta đánh hạ, vì thế mà không dám tùy tiện tiến thêm. Do đó chúng ta phải dùng cách đi ngược lại với suy nghĩ thông thường càng thấy thành khó hạ thì càng phải thả số thuyền đó trôi sông để làm cho viện binh của địch nghi hoặc mà dừng lại. Viện binh đến chậm thì Giang Lăng đã là của chúng ta rồi."

Quân cứu viện của Tiêu Tiển thấy dọc sông đều là thuyền bè không người, quả nhiên lầm tưởng rằng Giang Lăng đã thất thủ nên không tiến thêm nữa. Trong khi đó quan viên địa phương thấy Giang Lăng bị vây chặt thì ùn ùn kéo nhau ra lạy chầu quân Đường, Tiêu Tiển chờ mãi chẳng thấy quan viên lẫn viện binh đến nên đã đầu hàng Lý Hiếu Cung. Quân Đường vào Giang Lăng, ngang nhiên cướp bóc, lại viện dẫn lí lẽ: "Tướng địch không chủ động đến hàng, chết là còn may chán, lẽ ra còn phải tịch thu hết gia sản khen thưởng cho tướng sĩ." Lý Tĩnh lại khuyên Lý Hiếu Cung:

- "Vương sư vào thành nên để tiếng nghĩa bay xa, những người chết vì chủ, thực là trung thần, sao lại cho là phản nghịch? Nếu quân ta hậu đãi các trung thần này thì chẳng mất tí công sức nào mà vẫn được hàng loạt trung thần chắp tay đến xin hàng."

Nhờ Lý Tĩnh và hàng thần của Tiêu Tiển là Sầm Văn Bản khuyên can nên Lý Hiếu Cung ra lệnh cấm cướp bóc dân chúng và không được trả thù quan tướng nước Lương. Các châu huyện nước Lương nghe tin Giang Lăng thất thủ nên đã đầu hàng nhà Đường. Hơn 10 vạn viện binh cũng cởi giáp ra hàng. Tiêu Tiển bị giải về Trường An và bị Đường Cao Tổ ra lệnh chém đầu. Lý Tĩnh vì lập công nên được thăng làm Vĩnh Khang huyện công. Sau đó Đường Cao Tổ sai Lý Tĩnh xuôi nam đi thuyết phục một số vùng nay thuộc Quảng ĐôngQuảng Tây, trước đó vốn theo Tiêu Tiển và một thủ lĩnh nghĩa quân khác là Lâm Sĩ Hoằng, thần phục nhà Đường. Lý Tĩnh tiến quân đến Quế Châu và đã chiêu hàng được một số thủ lĩnh nghĩa quân lớn trong vùng. Lý Tĩnh sau đó được giữ chức thứ sử Quế Châu.

Diệt Phụ Công Thạch[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thu năm 623, một tướng nhà Đường là Phụ Công Thạch, vốn là tướng dưới trướng Ngô vương Đỗ Phục Uy, nổi dậy chống nhà Đường trong khi Đỗ Phục Uy vẫn ở Trường An, bản thân Phụ tự xưng là Tống đế. Đường Cao Tổ cho Lý Hiếu Cung làm chủ tướng, Lý Tĩnh làm phó đi đánh Phụ Công Thạch trong khi Lý Thế Tích và các tướng khác tấn công từ nhiều mặt. Lý Hiếu Cung và Lý Tĩnh xuôi dòng sông Dương Tử, nhiều phen đánh bại quân Tống. Phụ Công Thạch cho quân đóng ở núi Bác Vọng chuẩn bị chống quân Đường tập kích, lại căn dặn hai tướng là Phùng Huy Lượng và Trần Đăng Sư không được ra ngoài giao chiến, cứ để quân Đường bị tiêu hao. Tuy nhiên Lý Hiếu Cung nghe kế Lý Tĩnh, tấn công cắt nguồn lương thực quân Tống. Thấy hết lương, Phùng và Trần bắt buộc phải ra giao chiến với Lý Hiếu Cung. Các tướng khác khuyên Lý Hiếu Cung nên bỏ qua Phùng Trần hai tướng mà đi đường vòng đánh thẳng vào kinh đô Tống là Đan Dương, tuy nhiên Lý Hiếu Cung vẫn nghe theo lời Lý Tĩnh giao chiến với Phùng-Trần. Ban đầu, Lý Hiếu Cung dùng một nhánh quân già yếu giao chiến với quân Tống, sau đó dụ quân Tống vào sâu rồi chia cắt thành từng nhánh rồi tiêu diệt. Phụ Công Thạch nghe tin hoảng sợ bỏ Đan Dương mà chạy về phía đông nhưng bị người dân bắt rồi giao cho quân Đường. Đường Cao Tổ rất tán thưởng Lý Tĩnh, đã bình luận rằng: "Lý Tĩnh đúng là khắc tinh của Tiêu Tiển và Phụ Công Thạch. Cho dù là Bạch Khởi, Hàn Tín, Vệ Thanh hay Hoắc Khứ Bệnh cũng không hơn được".

Không tham gia cuộc tranh giành của các hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 625, Đông Đột Quyết tấn công Thái Nguyên, Lý Tĩnh dẫn quân lên bắc chống cự. Đương thời tướng Đường nào đánh Đột Quyết cũng bại, chỉ có Lý Tĩnh là giữ vững được binh lính. Năm 626, Đột Quyết lại tấn công, Lý Tĩnh được phong làm thứ sử Linh Châu và ông đã cố gắng cắt đứt đường về của quân Đột Quyết, nhưng sau đó nhà Đường và Đột Quyết đã giảng hòa. Vào thời điểm này, nội bộ nhà Đường chứng kiến cuộc tranh giành quyền lực gay gắt giữa Thái tử Lý Kiến Thành và Tần vương Lý Thế Dân. Lý Thế Dân từng gửi thư cho cả Lý Tĩnh và Lý Thế Tích để hỏi kế, nhưng cả hai đều từ chối. Điều này làm cho hai người có được sự kính trọng của Lý Thế Dân. Cùng năm 626, Lý Thế Dân quyết định ra tay trước, bí mật mai phục giết chết anh trai là Lý Kiến Thành và em là Lý Nguyên Cát tại cửa Huyền Vũ, ép Đường Cao Tổ lập mình làm Thái tử và sau đó truyền ngôi cho, tức là vua Đường Thái Tông.

Dưới thời Thái Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Diệt Đông Đột Quyết[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 630, lúc này nội bộ Đông Đột Quyết đang bất ổn, Hiệt Lợi Khả hãn đang tấn công cháu của mình là Đột Lợi Khả hãn. Đường Thái Tông hạ lệnh cho Lý Tĩnh làm Đại tướng quân, cùng với Lý Thế Tích, Sài ThiệuTiết Vạn Triệt đem 10 vạn đại quân đi đánh Đột Quyết. Lý Tĩnh phát động tấn công một cách bất ngờ, dùng 3,000 kỵ binh xuất phát từ Mã Ấp xuyên qua đỉnh Ác Dương, đánh bại quân Đột Quyết, chiếm lấy được Định Tương. Hiệt Lợi hoảng sợ phải bỏ chạy đến Tích Khẩu. Lý Tĩnh bí mật sai sứ giả đến khuyên bộ thuộc của Hiệt Lợi đầu hàng. Một bộ thuộc của Hiệt Lợi bí mật bắt cóc Tiêu hoàng hậu - vợ Tùy Dạng đế và cháu trai bà là Dương Chính Đạo, vốn được người Đột Quyết lập làm Tùy vương, dâng cho Lý Tĩnh.

Hiệt Lợi gửi sứ giả đến chầu Thái Tông, xin được quy thuận và nộp cống cho nhà Đường nhưng vẫn mưu tính bỏ chạy xa hơn với quân đội của mình. Thái Tông sai Đường Kiệm làm sứ đáp trả lại Hiệt Lợi, nhưng lại gửi thư ra lệnh cho Lý Tĩnh phải hộ tống Hiệt Lợi đến Trường An. Lý Tĩnh đọc thư và nhận ra lệnh của Thái Tông là tấn công Hiệt Lợi, sau đó ông đã cho quân kết hợp với quân của Lý Thế Tích và tấn công Hiệt Lợi. Quân Đường đánh bại và bắt tù binh hầu hết lực lượng của Hiệt Lợi, giết được vợ của Hiệt Lợi là công chúa Nghĩa Thành nhà Tùy. Hiệt Lợi bỏ chạy xa hơn, nhưng bị tướng Đường là Trương Bảo Tương bắt được. Quý tộc Đông Đột Quyết đều ra hàng nhà Đường. Để vinh danh chiến thắng của Lý Tĩnh, Thái Tông ra lệnh đại xá thiên hạ và cho tổ chức ăn uống vui chơi 5 ngày, còn Lý Tĩnh được phong là Đại quốc công.

Diệt Thổ Cốc Hồn[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 635, mặc dù đã ngoài 60 và muốn lui về ở ẩn, nhưng biên cương phía Bắc Đại Đường, quân Thổ Cốc Hồn của Mộ Dung Phục Doãn (慕容伏允) lại xâm lấn, cướp phá, Đường Thái Tông vẫn mời và phong chức ông Đại Tổng quản hành quân Tây Hải đạo, thống soái cả năm đạo binh do các tướng Đạo Tông, Hầu Quân Tập, Lý Đại Lượng, Lý Đạo Ngạn, Cao Tăng Sinh để tiến đánh Thổ Cốc Hồn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu Đường thư, quyển 67

Tân Đường thư, quyển 93

Tự trị thông giám, các quyển số 184, 187, 188, 189, 190, 191, 193, 194, 196, 197, 198 và 199.