Nguyễn Phúc Hy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thuận An công
順安公
Hoàng tử nhà Nguyễn
Thông tin chung
Hậu duệkhông có
Tên húy
Nguyễn Phúc Hy
阮福曦
Thụy hiệuĐôn Mẫn Thuận An công
敦敏順安公
Thân phụGia Long
Thân mẫukhông rõ
Sinh1782
Mất21 tháng 5 năm 1801 (19 tuổi)

Thuận An công Nguyễn Phúc Hy (chữ Hán: 順安公 阮福曦; 178221 tháng 5 năm 1801), là một hoàng tử của Gia Long Đế nhà Nguyễn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Hy là con trai thứ 2 của vua Gia Long, sinh năm Nhâm Dần (1782), không rõ ngày tháng. Không rõ mẹ đẻ của hoàng tử là ai. Ban đầu, ông giữ chức Khâm sai Cai đội. Sử sách ghi lại, ông là người tinh anh nghiêm nghị, mọi người đều nể sợ. Ông có một cái búa bằng đồng, khi ra ngoài thường sai người mang đi theo nên người ta thường gọi ông là Phủ công ("phủ" có nghĩa là cái búa).

Mùa đông năm Mậu Ngọ (1798), Chưởng tiền quân là Tôn Thất Hội mất, vua ra lệnh chọn người giữ chức súy, các tướng đều xin cử ông, nhưng vua dụ rằng: “Hy còn trẻ, chưa tập việc quân, không bằng lòng cho”.

Mùa hạ năm Kỷ Mùi (1799), vua thân chinh đi đánh giặc Quy Nhơn, để ông ở lại giữ thành Gia Định. Mùa hạ năm sau, ông theo vua cha lại đi đánh giặc ở Quy Nhơn, thuyền vua đến cửa biển Cầu Huân, sai ông ở lại trấn Diên Khánh, rồi lại sai ông đem quân thuộc hạ tiến đóng đồn Hội An. Chẳng bao lâu sau đó, vua lại gọi ông về trấn Gia Định.

Năm Tân Dậu (1801), ngày 9 tháng 4 (âm lịch), hoàng tử Hy mất khi còn đang trông coi việc quân, mới có tuổi 20, được truy tặng là Đặc Tấn Phụ quốc Tướng quân Thiếu úy Quận công, thụy là Đôn Mẫn (敦敏), táng ngay tại Gia Định. Quận công chết trẻ, chưa có con.

Năm Gia Long thứ 3 (1804), vua cho hợp thờ Quận công cùng với Anh Duệ Hoàng thái tử ở Tả vu Thái miếu. Năm thứ 13 (1814), gia tặng cho ông tước Hoài công (懷公), thờ ở đền Triển Thân[1]. Năm 1831, vua em gia tặng làm Tôn nhân phủ Tả tôn chính, truy phong tước Thuận An công (順安公). Dưới thời Thiệu Trị, năm 1843, vua cho đưa ông về thờ ở đền Thân Huân[2].

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đền Triển Thân (lấy từ chữ trong Kinh Thư có nghĩa là "đôn đốc tình thương yêu người thân") được xây vào năm 1814, thờ các hoàng tử và hoàng nữ chết yểu, hoặc không con cái.
  2. ^ Thân Huân có nghĩa là "công lao của những người thân thuộc". Đền này thờ các vị Quận vương là anh em với ngài Gia Long.